Khái niệm:
– Quy Phạm Luật Hiến Pháp là những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các qhệ XH, gắn liền với việc xác định chế độ chính trị, chế độ KT, chế độ văn hoá – giáo dục – khoa học công nghệ, chính sách quốc phòng và an ninh, địa vị pháp lý công dân, cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Đặc điểm
Đọc thêm: So sánh các bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013
[sociallocker]
a) Đặc điểm chung:
+ Đều là quy tắc xử sự do NN đặt ra và thừa nhận
+ Đều mang tính cưõng chế (bắt buộc)
+ Thể hiện bằng văn bản quy phạm Pháp Luật
[/sociallocker]
b) Đặc điểm riêng:
+ Phần lớn các quy phạm Luật pháp được quy định trong hiến pháp. Ngoài ra, quy phạm Luật pháp còn được quy định trong 1 số Văn bản Quy phạm Pháp Luật khác (Pháp lệnh, Luật tổ chức quốc hội, Luật bầu cử QH, v..v), ngoài ra còn quy định trong 1 số Luật khác. (Luật hình sự không gắn liền với chế độ KT, VH, chính trị, chỉ là tội phạm nên không thể chứa đựng QP Luật pháp trong đó).
+ Quy phạm Luật Hiến Pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng trong nhiều lĩnh vực (nêu trên).
+ Nhiều Quy phạm Luật Hiến Pháp mang tính chất chung, ko xác định quyền hay nghĩa vụ cụ thể cho chủ thể QHPL HP (VD: Điều 1 HP 1992 quy định: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”)
+ Phần lớn các Quy phạm Luật Hiến Pháp thường không đầy đủ cơ cấu 3 thành phần (giả định, quy định, chế tài). Các Quy phạm Luật Hiến Pháp thường chỉ có phần giả định và quy định (vì xuất phát từ đối tượng điều chỉnh là các QHXH trên phạm vi rộng). Tuy nhiên, cũng có 1 số quy phạm Luật Hiến Pháp có phần giả định và chế tài. Ví dụ: Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Qhội bãi nhiệm; đại biểu HĐND bị cử tri hoặc HĐND bãi nhiệm khi ĐB đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của ndân.