I. Đề bài……………………………………………………………………………………….
II. Giải quyết vấn đề……………………………………………………………………..
1. Tư cách chủ thể của những người tham gia thành lập công ty…………
2. Vấn đề xin giấy phép của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với lĩnh
vực kinh doanh đồ chơi nhựa cho trẻ em……………………………………..
3. Vấn đề đặt tên cho công ty………………………………………………………..
4. Tư vấn và thực hiện bộ hồ sơ hoàn chỉnh để đăng ký doanh nghiệp
theo yêu cầu…………………………………………………………………………….
I. ĐỀ BÀI.
Hồng Sỏn, Văn Mẹo, Tài Anh là 3 người bạn có ý định tham gia thành lập một công ty TNHH để kinh doanh. Hồng Sỏn hiện là thành viên một công ty TNHH, Văn Mẹo là chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân và Tài Anh là bảo vệ tại cổng chính số 6B Hoàng Diệu, Hà Nội – Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Họ dự định lấy tên công ty là “Thời gian bạc” với nghành nghề kinh doanh là sản xuất và mua bán đồ chơi nhựa cho trẻ em với số vốn điều lệ là 5 tỷ.
Câu hỏi 1: Anh, chị có ý kiến gì về tư cách chủ thể của những người tham gia thành lập công ty.
Câu hỏi 2: 3 người băn khoăn không biết với ngành nghề kinh doanh dự định của công ty, họ có cần xin giấy phép nào khác của các cơ quan quản lý nhà nước không?
Câu hỏi 3: Tên công ty như vậy có hợp pháp không?
Câu hỏi 4: Anh, chị hãy tư vấn và thực hiện bộ hồ sơ hoàn chỉnh để có thể đăng ký doanh nghiệp theo những yêu cầu trên.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Tư cách chủ thể của những người tham gia thành lập công ty.
Nhà nước hiện đang khuyến khích loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và đây là loại hình kinh doanh khá phổ biến ở nước ta hiện nay, do đó các quy chế pháp lý để đảm bảo về loại hình công ty này rất đầy đủ và chặt chẽ bao gồm cả điều kiện để trở thành thành viên công ty. Hồng Sỏn, Văn Mẹo, Tài Anh muốn thành lập một công ty trách nghiệm hữu hạn kinh doanh đồ chơi trẻ em. Căn cứ theo quy định tại Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005, Các chủ thể muốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
“1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;
g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.
3. Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.”
Xét tới trường hợp của 3 người là Hồng Sỏn, Văn Mẹo, Tài Anh:
Trường hợp của Hồng Sỏn và Văn Mẹo đều có thể tham gia thành lập công ty trách nghiệm hữu hạn mới. Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định: “Mỗi cá nhân chỉ được quyền đăng ký thành lập một doanh nghiệp tư nhân hoặc một hộ kinh doanh cá thể hoặc làm thành viên hợp danh của một công ty hợp danh, trừ trường hợp các thành viên hợp danh còn lại có thỏa thuận khác. Cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể hoặc cá nhân thành viên hợp danh có quyền thành lập, tham gia thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần.” Như vậy tuy Văn Mẹo đã là chủ của một doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động thì cũng không ảnh hưởng gì; tuy nhiên Văn Mẹo là chủ doanh nghiệp tư nhân nên trường hợp này cần phải lưu ý, vì doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, ngoài ra do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp. Như vậy, dù Văn Mẹo không thuộc các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp, nhưng khi tham gia thành lập công ti TNHH, nếu có rủi ro xảy ra thì vấn đề tài sản trong trường hợp này khá rắc rối nên các thành viên khác trong công ty cần yêu cầu Mẹo góp vồn đúng hạn và đấy đủ để nhanh chóng hợp thức hóa tài sản mà Mẹo cam kết góp vào công ty. Còn về Hồng Sỏn, luật Doanh nghiệp cho phép một cá nhân được là thành viên của nhiều công ty trách nghiệm hữu hạn khác nhau nên Sỏn có thể là sáng lập nên công ty trách nghiệm hữu hạn mới. Nhưng nếu nếu giả dụ Hồng Sỏn nằm trong chức danh quy định tại khoản 2 Điều 94 Luật phá sản 2004: Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.” và công ty trách nghiệm hữu hạn của Sỏn đang trong tình trạng phá sản thì khi đó Sỏn lại không được thành lập công ty trách nghiệm hữu hạn mới.
Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định cấm các đối tượng là cán bộ, công chức thành lập doanh nghiệp; trong đó cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong các đơn vị sự nghiệp công lập,…; viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. (theo Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010). Để hạn chế tiêu cực, tại điểm b khoản 1 Điều 37 Luật Phòng chống tham nhũng 2005 có quy định cán bộ, công chức, viên chức không được Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ở đây, Tài Anh tuy làm việc tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư (là cơ quan hành chính Nhà nước cấp Trung ương), nhưng Tài Anh chỉ là bảo vệ tại cổng chính của cơ quan này; anh ta là người lao động được tuyển dụng làm việc theo hợp đồng lao động, do vậy không phải là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Vì vậy, Tài anh vẫn có thể làm chủ thể thành lập công ty TNHH. Vậy với Tài Anh, là bảo vệ tại cổng chính số 6B Hoàng Diệu, Hà Nội – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, không thuộc trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp theo Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005 nên Tài Anh cũng có quyền thành lập công ty TNHH.
2. Vấn đề xin giấy phép của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực kinh doanh đồ chơi nhựa cho trẻ em.
Theo Khoản 5 và 6 Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định về ngành nghề kinh doanh như sau:
5. Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại các Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính phủ. Nghiêm cấm việc ban hành và quy định không đúng thẩm quyền về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện kể từ khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Việc quản lý nhà nước đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
6. Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề tương ứng và việc sử dụng chứng chỉ hành nghề trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Đối với việc thành lập công ty TNHH của họ trong trường hợp này trước tiên họ phải nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh. Pháp luật có quy định một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, bên cạnh việc được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp phép thành lập doanh nghiệp, cần phải có giấy phép của các cơ quan quản lý Nhà nước (ví dụ như công ty luật/văn phòng luật sư, công chứng phải xin giấy phép hoạt động tại Sở Tư pháp; công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải xin giấy phép của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước; doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải xin giấy phép của Bộ Tài chính;…).”
Đồ chơi nhựa có trong hệ thống các ngành nghề kinh doanh của Việt Nam nằm trong Quyết định 337/QĐ-BKH với các mã số 47 khi mặt hàng giải trí bao gồm đồ chơi bán lẻ và 4764 – 47640 khi bán lẻ trò chơi, đồ chơi trong các cửa hàng chuyên doanh. Như vậy ta không cần phải xem xét và bổ sung mã mới cho ngành nghề kinh doanh quen thuộc này. Mặt khác căn cứ theo danh mục các ngành nghề kinh doanh có điều kiện (bao gồm các ngành nghề kinh doanh yêu cầu có chứng chỉ hành nghề, yêu cầu vốn pháp định và các ngành nghề cấm kinh doanh) ban hành kèm theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP, ta thấy ngành nghề kinh doanh đồ chơi nhựa cho trẻ em không thuộc các ngành nghề kinh doanh có điều kiện hoặc phải có vốn pháp định. Vì vậy, khi thành lập doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề sản xuất, kinh doanh đồ chơi nhựa cho trẻ em, ngoài các giấy tờ bắt buộc để đăng ký kinh doanh thì không cần phải xin giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên trong danh mục hàng hóa dịch vụ cấm kinh doanh thì Nghị Định 03/2000/ NĐ-CP quy định cấm về hàng hóa đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội (bao gồm cả các trương trinhg trò chơi điện tử). Do đó đồ chơi trẻ em là một trong những mặt hàng cần đảm bảo yêu cầu về mặt an toàn đối với sức khỏe của trẻ em nên theo quy định tại Thông tư 18/2009/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc Ban hành và thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn Đồ chơi trẻ em QCVN 4:2009/BKHCN, tất cả các loại đồ chơi trẻ em thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chuẩn này đều phải được chứng nhận hợp quy, dán dấu hợp quy (CR) trước khi đưa ra thị trường. Cụ thể Điều 3của thông tư quy định:
Điều 3: Kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2010, đồ chơi trẻ em sản xuất trong nước, nhập khẩu chỉ được lưu thông trên thị trường sau khi đã được chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy và gắn dấu hợp quy theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đồ chơi trẻ em ban hành kèm theo Thông tư này.
Quy chuẩn kỹ thuật này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán lẻ đồ chơi trẻ em, các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Với ngành nghề kinh doanh dự định của công ty là sản xuất và kinh doanh đồ chơi nhựa cho trẻ em, muốn thành lập công ty không chỉ cần giấy đăng ký kinh doanh mà đối với ngành nghề trong trường hợp này cần phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thông qua giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn theo mẫu.
Cũng theo quy chuẩn kỹ thuật này, đồ chơi trẻ em sản xuất trong nước, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường phải chịu sự kiểm tra về chất lượng theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Việc chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy, dấu hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp được thực hiện theo Quy định về chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy ban hành kèm theo Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN; việc chỉ định tổ chức chứng nhận, tổ chức thử nghiệm, tổ chức giám định được thực hiện theo Thông tư số 09/2009/TT-BKHCN của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Cụ thể, trong trường hợp này, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là cơ quan đầu mối tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký chỉ định và ra quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm, hàng hóa, quá trình, môi trường quy định trong quy chuẩn kỹ thuật do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành (trừ sản phẩm liên quan đến an toàn bức xạ hạt nhân).
3. Vấn đề đặt tên cho công ty.
Mỗi doanh nghiệp là một pháp nhân độc lập, có tên gọi riêng. Đó chính là sự phân biệt đầu tiên và quan trọng của mình đối với các doanh nghiệp, tổ chức khác. Theo qui định tại Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2005 và chi tiết tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp thì tên doanh nghiệp nói chung phải đáp ứng được các điều kiện sau: Viết được bằng các chữ cái trong Bảng chữ cái tiếng Việt, có thể kèm theo các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu, phát âm được và bao gồm 2 thành tố sau đây:
– Loại hình doanh nghiệp: Bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, cụm từ trách nhiệm hữu hạn có thể viết tắt là TNHH; công ty cổ phần, cụm từ cổ phần có thể viết tắt là CP; công ty hợp danh, cụm từ hợp danh có thể viết tắt là HD; doanh nghiệp tư nhân, cụm từ tư nhân có thể viết tắt là TN.
– Tên riêng của doanh nghiệp: là tên mà các thành viên sáng lập doanh nghiệp muốn đặt cho doanh nghiệp mình; với lưu ý doanh nghiệp chỉ được sử dụng ngành, nghề kinh doanh, hình thức đầu tư để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có đăng ký ngành, nghề đó hoặc thực hiện đầu tư theo hình thức đó. Ở đây, tên riêng của công ty này là “Thời gian bạc”
Trong trường hợp này nếu chỉ đặt tên công ty là “Thời gian bạc” thì mới chỉ có tên riêng của công ty, còn thiếu tên loại hình doanh nghiệp. Ba người đang có ý định thành lập công ty TNHH thì trong tên của công ty phải có tên loại hình doanh nghiệp là “Công ty TNHH” mới phù hợp với quy định của pháp luật.
Một điểm cần lưu ý khi đặt tên doanh nghiệp nữa đó là trước khi đăng ký đặt tên doanh nghiệp, doanh nghiệp cần tham khảo tên các doanh nghiệp đang hoạt động lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để tránh đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với doanh nghiệp khác; tham khảo các nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã đăng ký và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý của Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và không được vi phạm các điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp được quy định chi tiết tại Điều 32 Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều 14 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp (Không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó; Không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, tên danh nhân để đặt tên riêng cho doanh nghiệp). Theo sự tìm kiếm dữ liệu của nhóm tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia (http://dangkykinhdoanh.gov.vn) và tại Cơ sở dữ liệu về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý của Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (http://www.noip.gov.vn) về tên công ty là “Công ty TNHH Thời gian bạc” thì thấy rằng việc đặt tên công ty là “Công ty TNHH Thời gian bạc” là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật về đặt tên doanh nghiệp.
Như vậy, đưa đến kết luận, việc 3 người trên đặt tên doanh nghiệp là “Thời gian bạc” là không phù hợp với quy định của pháp luật. Để phù hợp với quy định của pháp luật, nhóm đưa ra gợi ý đặt tên công ty là “Công ty TNHH Thời gian bạc”.
4. Tư vấn và thực hiện bộ hồ sơ hoàn chỉnh để đăng ký doanh nghiệp theo yêu cầu.
Tư vấn:
Về loại hình doanh nghiệp: Vì có 3 thành viên là Hồng Sỏn, Văn Mẹo và Tài Anh cùng muốn thành lập công ty TNHH để kinh doanh nên phải lựa chọn loại hình công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên. Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên cùng góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình, các thành viên cùng chia lãi và cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty.
Về thành viên: Theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 38 Luật doanh nghiệp 2005, thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Như đã phân tích ở trên, 3 người là Hồng Sỏn, Văn Mẹo, Tài Anh đều không thuộc các trường hợp bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, vì vậy họ có quyền thành lập công ty như đã dự tính.
Về tên công ty: Như đã phân tích ở trên, công ty có thể lấy tên là “Công ty TNHH Thời gian bạc”.
Về ngành nghề kinh doanh: Ba người này chọn ngành sản xuất và mua bán đồ chơi nhựa dành cho trẻ em. Đây là ngành nghề kinh doanh không bị pháp luật cấm (nếu không kinh doanh các loại đồ chơi, trò chơi nguy hiểm, đồ chơi, trò chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khoẻ của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự an toàn xã hội;cũng không phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên sau khi thành lập doanh nghiệp có quyền chủ động đăng ký kinh doanh, không cần phải xin phép, xin chấp thuận hay hỏi ý kiến cơ quan quản lý nhà nước.
Hồ sơ đăng ký kinh doanh:
Khi tiến hành đăng ký thành lập và hoạt động doanh nghiệp, cần nộp 01 bộ hồ sơ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư (có thể nộp trực tiếp hoặc nộp qua mạng nhưng khi đến nhận kết quả phải nộp 1 bộ hồ sơ bằng giấy). Hồ sơ bao gồm:
-Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
-Dự thảo Điều lệ công ty.
-Danh sách thành viên và các giấy tờ kèm theo sau đây:
+Đối với thành viên là cá nhân: bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng minh thư chứng thực cá nhân hợp pháp khác;
+Đối với thành viên là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản ủy quyền, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo ủy quyền.
+Đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải có chứng thực của cơ quan đó đã đăng ký không quá ba tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.
Ngoài ra, còn phải nộp lệ phí đăng ký là 200.000 đồng/ doanh nghiệp.
Vì ngành nghề kinh này không yêu cầu phải có vốn pháp định nên không cần văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; đồng thời cũng không đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề đối với các thành viên công ty vì ngành nghề này pháp luật không yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề; nên trong bộ hồ sơ không cần phải có văn bản xác nhận vốn pháp định của công ty hay chứng chỉ hành nghề.
Về trình tự đăng ký kinh doanh:
-Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền nộp 01 bộ hồ sơ theo qui định tại bộ phận thường trực tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư.
-Bước 2: Bộ phận thường trực tiếp nhận hồ sơ nếu đầy đủ theo qui định và trao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.
-Bước 3: Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp yêu cầu đăng ký không đúng theo qui định, bộ phận tiếp nhận thông báo nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho người thành lập doanh nghiệp trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.
-Bước 4: Doanh nghiệp có thể nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trực tiếp tại bộ phận thường trực tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc đăng ký và trả phí để nhận giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp qua dịch vụ chuyển phát.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải công bố nội dung đăng ký kinh doanh trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp về các nội dung chủ yếu sau đây:
– Tên doanh nghiệp;
– Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện;
– Ngành, nghề kinh doanh;
– Vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; số cổ phần và giá trị vốn cổ phần đã góp và số cổ phần được quyền phát hành đối với công ty cổ phần; vốn đầu tư ban đầu đối với doanh nghiệp tư nhân; vốn pháp định đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề đòi hỏi phải có vốn pháp định;
– Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của chủ sở hữu, của thành viên hoặc cổ đông sáng lập;
– Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
– Nơi đăng ký kinh doanh.
Khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được tiến hành các hoạt động kinh doanh.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật Thương mại Tập I, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB. Công an Nhân dân, 2013.
2. Thủ tục đăng ký kinh doanh đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Cổng thông tin điện tử tỉnh Nam Định (www.namdinh.gov.vn).
3. “Thành lập doanh nghiệp, vướng mắc ở đâu?”, NBRS News, Chuyên trang hỗ trợ hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia (www.dangkydoanhnghiep.info).
4. “Thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh”, http://itsolution.com.vn.
5. Luật doanh nghiệp 2005.
6. Nghị định 102/2010 NĐ-CP của Chính Phủ.
7. Nghị định 59/2006/NĐ-CP của Chính Phủ.
8. Thông tư 18/2009/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ.
http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default