Theo thầy Mai Thanh Hiếu thì bài thì kết thúc học phần môn tố tụng hình sự này thường có 3 dạng câu hỏi:
Thứ nhất là dạng câu đúng sai- bán trắc nhiệm. Loại câu hỏi này chúng ta đã được tiếp xúc trong 2 bài tập cá nhân.
Thứ hai là dạng câu hỏi lý thuyết: loại này thường được làm theo kiểu câu giải thích, hoặc như hoàn thiện pháp luật vậy ý, dạng này đã được tiếp xúc trong bài tập nhóm tháng số 1. Kiểu câu: “cần phải làm gì để………..”. Ví dụ: cần phải làm gì để bảo vệ quyền được sử dụng tiếng nói của người dân tộc khi tham gia tố tụng.
Thứ ba là dạng câu hỏi tính huống, loại này thì đã được tiếp xúc trong bài tập nhóm tháng số 2 rồi.
Dựa trên những dạng câu hỏi kia, mình đã tự làm một số câu hỏi và sưu tầm thêm câu hỏi, vì là tự làm nên câu hỏi cũng đơn giản hơn so với thực tế, và tất nhiên cũng có nhiều thiếu sót, vậy nên bạn thích thì có thể sử dụng, còn nếu không thích thì không nên sử dụng rùi thì soi mói!
DẠNG 1: ĐÚNG SAI? GIẢI THÍCH TẠI SAO?
[lock] 1. Trong mọi trường hợp không được phép bắt người nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát.
2. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
3. Khi xét thấy yêu cầu khởi tố vụ án của VKS là thiếu căn cứ, Cơ quan điều tra có quyền không thực hiện yêu cầu đó của VKS.
4. Việc thay đổi điều tra viên là Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Cơ quan điều tra cấp tiến hành.
5. Tại phiên tòa, Hội động xét xử ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên nếu thấy có căn cứ quy định tại điều 42 và khoản 1 điều 45 BLTTHS 2003.
6. Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra.
7. Tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự cấp khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm mọi tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng.
8. Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, Cơ quan điều tra phải ra đề nghị Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp ra quyết định chuyển cho cơ quan điều tra khác có thẩm quyền.
9. Trong mọi trường hợp, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đình chỉ vụ án nếu bị can chết.
10. Cơ quan điều tra có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp nếu không nhất trí với VKS cùng cấp về việc quyết định truy tố bị can.
11. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thâm luôn tính từ ngày tuyên bản án.
12. Trong mọi trường hợp, băng ghi âm, ghi hình không được coi là nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự.
13. Quyền bào chữa của bị can được thực hiện ở các giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Câu hỏi sưu tầm:
14. Cơ quan có quyền giải quyết vụ án hình sự là cơ quan tiến hành tố tụng
15. Tam giam không áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng.
16. Hội thẩm nhân dân không có quyền tham gia xét xử phúc thẩm tại tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao.
17. Chức danh điều tra viên không có trong ngành kiểm sát.
18. Lệnh bắt người của cơ quan điều tra trong mọi trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp.
19. Chỉ có cơ quan tố tụng hình sự mới có quyền ra quyết định trưng cầu giám định.
20. Người bị hại, bị can, bị cáo là những người tham gia tố tụng có quyền nhờ Luật sư bào chữa cho mình.
21. Bảo lĩnh có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
22. Lời nhận tội của bị can, bị cáo là chứng cứ
23. Biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú “ không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài phạm tội tại việt nam.
24. Trong TTHS chỉ có VKS mới có quyền thực hiện chức năng buộc tội.
25. Thư ký tòa án phải tiến hành từ chối tố tụng hoặc bị đề nghị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong cùng vụ án.
26. mọi tình tiết, sự kiện có thật được phản ánh trong nguồn của chứng cứ đều được coi là chứng cứ .
27. Quan hệ PL-TTHS phát sinh từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố VAHS.
28. Tạm giam không áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng.
29. Biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú” không áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài phạm tội tại VN.
30. Thẩm phán phải từ chối THTT hoặc bị đề nghị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên giữ quyền công tố trong cùng 1 vụ án .
31. Trong quá trình giải quyết VAHS có thể không có người tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại.
32. Trường hợp bào chữa bắt buộc không áp dụng đối với người bị tạm giữ.
33. Tòa án cấp phúc thầm chỉ sửa án sơ thẩm theo hướng tăng nặng khi có căn cứ và có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng.
34. Người dân bình thường phạm tội thì do tòa án nhân dân xứt xử.
35. Trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh chỉ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng.
36. Trong cũng một vụ án, người tiến hành tố tụng chỉ có thể tham gia với một tư cách tố tụng.
37. Lời khai của người làm chứng là chứng cứ
38. Tòa án chỉ xét xử bị cáo theo tội danh mà VKS truy tố.
39. Người có thẩm quyền làm oan cho người vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường thiệt hại cho người bị oan.
40. Cơ quan điều tra phải ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giam đối với người bị đình chỉ điều tra.
41. Tòa án nhân dân tỉnh có quyền xét xử sơ thẩm các vụ án mà tội phạm được thực hiện là tội phạm nghiêm trọng.
42. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
43. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng.
DẠNG 2: CÂU HỎI LÝ THUYẾT (chủ yếu do mình chém,trên cơ sở có căn cứ những bất cập)
1. Hãy nêu các biện pháp để đảm bảo sự vô tư, khách quan của người tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng.
2. Cần phải làm gì để đảm bào quyền được sử dụng tiếng nói và chữ viết của người dân tộc khi tham gia tố tụng hình sự
3. Trong bộ luật tố tụng hình sự có những bất cập nào về quy định bắt người, cần phải làm gì để khắc phục những bất cập đó.
4. Cần phải làm gì để đảm bảo quyền kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại.
5. Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng về người phiên dịch.
6. Cần phải làm gì để bảo vệ việc xét xử độc lập của tòa án.
7. Cần phải làm gì để đảm bảo nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án”.
8. Trong quy định về kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thầm còn có những vướng mắc gì? Nêu phương hướng khắc phục.
9. Thực tế những vướng mắc trong thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ, phương hướng khắc phục.
Sưu tầm:
10. Hãy nêu cách giải quyết của của tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp:
a. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
b. Hội thẩm vắng mặt tại phiên tòa
11. Bằng những hiểu biết của mình về nguyên tắc “bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật”, hãy trình bày thực trạng áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn tố tụng hình sự ở nước ta.
12. Tại sao không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó?
13. Bằng hiểu biết của mình về nguyên tắc “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong tố tụng hình sự, hãy nêu những vướng mắc về thực tiễn áp dụng nguyên tắc này.
DẠNG 3: CÂU HỎI TÌNH HUỒNG
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TÌNH HUỐNG 1
Vào lúc 9h30′ ngày 10/5/2002, Nguyễn Ngọc A sinh ngày 12/3/1986 đến nhà chị Lê Hồng L chơi. Tại đây, Nguyễn Ngọc A rủ chị Lê Hồng L và Lê Hồng H (Em gái chị Lê Hồng L) cùng đi hát Karaoke. Do ba người chỉ có một xe đạp nên chị Lê Hồng L dắt xe của mình, còn Nguyễn Ngọc A và Lê Hồng H cùng đi bộ. Trên đường đi đến quán Karaoke thì ba người gặp anh Trần Trung H (bạn của chị Lê Hồng L) đang đi xe đạp trên đường cùng chiều. Nguyễn Ngọc A liền rủ anh Trần Trung H cùng đi hát cho vui, anh Trần Trung H đồng ý. Sau đó cả 4 người cùng đi xe đạp đến quán Karaoke của chị Lê Minh H đồng ý. Sau đó cả 4 người cùng đi xe đạp đến quán Karaoke của chị Lê Minh M để hát. Khi đến nơi thì chị Lê Hồng L và anh Trần Trung H cùng để xe đạp trước cửa quán nhưng không khoá rồi đi lên phòng hát ở tầng 2. Thấy vậy, chị Lê Minh H liền lấy dây Trung Quốc để khoá cả hai xe chung một khoá. Khi 4 người đang hát vui vẻ thì Nguyễn Ngọc A nói với mọi người là đi gọi điện thoại nhưng thực chất là xuống nhà dưới yêu cầu chị Lê Minh M mở khoá lấy xe đạp của anh Trần Trung H (trị giá 1.200.000đ). Sau khi lấy được xe, Nguyễn Ngọc A đã đem bán được 300.000đ và tiêu xài hết ngay trong ngày hôm đó.
Câu hỏi 1: Hãy xác định tội danh đối với hành vi trên của Nguyễn Ngọc A?
Tình tiết bổ sung:
Sau khi sự việc xảy ra, anh Trần Trung H đã báo với cơ quan công an. Ngày 12/5/2002 cơ quan công an quận H đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản. Ngày 10/7/2002, Viện kiểm sát đã có bản cáo trạng truy tố Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 BLHS.
Sau khi nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang, thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ cho rằng hành vi của Nguyễn Ngọc A không cấu thành tội trộm cắp tài sản như kết luận điều tra của cơ quan điều tra quận H và cáo trạng của Viện kiểm sát quận H mà cho rằng hành vi của Nguyễn Ngọc A cấu thành tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản mới đúng.
Câu hỏi 2: Tòa án chọn cách nào trong các cách giải quyết sau? Tại sao?
a. Toà án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
b. Toà án trao đổi với Viện kiểm sát, sau đó ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c. Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản;
d. Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Câu hỏi 3: Anh (chị) hãy xác định tư cách tố tụng của anh Trần Trung H và chị Lê Minh M trong vụ án trên?
Tình tiết bổ sung:
Sau khi xem xét, Tòa án đã ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không nhất trí quan điểm của Tòa án.
Câu hỏi 4: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung:
Theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát đã tiến hành điều tra bổ sung nhưng vẫn giữ quyết định truy tố Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản. Tại phiên toà, HĐXX thấy có đủ căn cứ để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Câu hỏi 5: Anh (chị) chọn cách giải quyết nào trong các cách giải quyết sau? Tại sao?
a. Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án;
b. Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố Nguyễn Ngọc A không phạm tội trộm cắp tài sản;
c. Hội đồng xét xử ra bản án xử phạt Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản;
d. Hội đồng xét xử ra bản án xử phạt Nguyễn Ngọc A về tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản.
Tình tiết bổ sung
Tại phiên toà sơ thẩm, HĐXX quyết định bắt giam bị cáo sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Câu hỏi 6: Quyết định bắt giam bị cáo của HĐXX có đúng không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại phiên toà sơ thẩm, luật sư Cao Hồng T thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội đã tham gia bào chữa cho Nguyễn Ngọc A. Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Ngọc A kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị luật sư Cao Hồng T tiếp tục bào chữa cho mình tại phiên tòa phúc thẩm.
Câu hỏi 7: Toà án cấp phúc thẩm có chấp nhận đề nghị trên của bị cáo không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung:
Sau phiên toà sơ thẩm gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Trung H số tiền 1.200.000đ.
Câu hỏi 8: Tòa án cấp phúc thẩm có thể áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ để xem xét việc quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A được không? Nêu căn cứ pháp lý?
TÌNH HUỐNG 2
Ngày 7/4/2004, sau khi uống rượu Hoàng Hồng Linh đến quán bi-a Sao Đêm của chị Phan Thị Hòng tại số 7, phố Q, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây để chơi bi-a. Do không có ai chơi với Linh nên Linh bực vứt gậy bi-a ra đường. Thấy vậy, chị Hồng chạy ra nhặt gậy và nói không cho Linh chơi nữa. Linh lại tiếp tục ném quả bi-a ra đường rồi quay lại dùng tay đập vào vai chị Hồng. Tiếp đến, Linh hất đổ bàn bi-a và dẫm chân ên mặt bàn làm mặt bàn bị vỡ rồi Linh dùng tay đánh vào đầu chị Hồng. Anh Hải, người chơi bi-a ở quán vào can ngăn cũng bị Linh đánh. Khi đó Nguyễn Hoàng Anh (chồng chị Hồng) đang bế con cách nhà khoảng 20m nghe tin vợ bị đánh nên đã về nhà lấy một con dao nhọn, loại dao gọt hoa quả của Thái Lan, chạy ra đâm hai nhát vào người Linh làm Linh bị thương. Theo kết quả giám định pháp y, tỷ lệ thương tật của Linh là 12%. Sau khi chém Linh, Nguyễn Hoàng Anh đã chạy đến công an phường Q thú. Công an phường đã tạm giam Linh trong thời hạn 24 giờ.
Ngày 12/4/2004, cơ quan điều tra công an thị xã Hà Đông ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng Anh về tội cố ý gây thương tích. Cư quan điều tra cũng ra lệnh tạm giam Nguyễn Hoàng Anh trong thời gian 2 tháng.
Câu 2.1: Anh (chị)có nhận xét gì về các hoạt động của công an phưòng Q. và công an thị xã Hà Đông? Nêu các căn cứ pháp lý để chứng minh cho câu trả lời của mình.
Tình tiết bổ sung
Theo kết luận giám định pháp y, Linh bị hai vết thương ở bụng, một vết dài 5cm, vết còn lại dài 4cm; vết thương nông, có khả năng phục hồi tốt.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng Anh khai “vì nghe tin vợ bị đánh và quán bị phá nên tôi mới lấy dao ra để doạ Linh. Khi tôi đến Linh vẫn tiếp tục đập phá, chửi bới vợ chồng tôi. Thậm chí Linh còn chạy đến nắm cổ áo tôi. Tôi quá bức xúc nên mới đâm Linh”.
Hoàng Hồng Linh khai “Tôi uống rượu say nên có làm đổ một số cốc chén trong quan Sao Đêm và có to tiếng với chị chủ quán. Khi thấy anh Hoàng Anh cầm giao chạy đến tôi rất sợ nên đã bỏ chạy nhưng anh Hoàng Anh vẫn đuổi theo và đâm mạnh vào người tôi. Tôi đề nghị pháp luật xử lý thoả đáng”.
Câu 2.2: Anh (chị) hãy xác định những điểm mâu thuẫn giữa lời khai của Hoàng Hồng Linh với lời khai của Nguyễn Hoàng Anh và với kết luận giám định. Theo anh (chị) cần tiến hành hoạt động điều tra nào để làm rõ sự thật của vụ án?
Tình tiết bổ sung
Quá trình điều tra đã xác định được nội dung vụ án như đã nêu trong phần dữ kiện chung của đề bài.
Ngày 10/7/2004, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hà Đông ra bản cáo trạng truy tố Nguyễn Hoàng Anh về tội “ cố ý gây thương tích” theo khoản 1, Điều 104 Bộ luật hình sự.
Câu 2.3: Theo anh (chị) quyết định truy tố của Viện kiểm sát đã chính xác hay chưa? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Giả sử, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án trên, Hoàng Hồng Linh có đơn xin rút yêu cầu khởi tố. Toà án đã căn cứ khoản 2, Điều 105 BLTTHS ra quyết định đình chỉ vụ án. Sau đó, Linh lại có đơn yêu càu Toà án đưa vụ án ra xét xử với lý do việc viết đơn xin rút yêu cầu khởi tố là do bị gia đình Hoàng Anh cướng ép.
Qua xác minh, đã làm ró được sự việc như sau: Khi toà án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Linh đưa điều kiện cho gia đình Hoàng Anh nếu đưa Linh 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) Linh sẽ rút yêu cầu khởi tố. Vì lo sợ Hoàng Anh bị tù tội nên gia đình Hoàng Anh đã đồng ý và Linh đã làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên, sau đó gia đình Hoàng Anh không chạy đủ số tiền trên nên Linh đã làm đơn yêu cầu Toà án xử lý về hình sự đối với Hoàng Anh.
Câu 2.4: Theo anh (chị), yêu cầu của Linh có được chấp nhận hay không? Toà án cần giải quyết tình huống trên như thế nào?
Tình tiết bổ sung,
Ngày 8/8/2004, Toà án nhân dân thị xã Hà Đông mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án trên. Tại phiên toà, luật sư của Hoàng Anh vì bận công tác nên vắng mặt và có gửi trước bản bào chữa. Bị cáo Hoàng Anh đề nghị Hội đồng xét xử cho hoãn phiên toà ì phải có mặt luật sư bào chữa thì quyền lợi của bị cáo mới được đảm bảo.
Câu 2.5: Đề nghị của Hoàng Anh có được chấp nhận hay không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên toà đã làm rõ được nội dung vụ án như đã nêu trong phần dữ kiện chung của đề bài. Hội đồng xét xử đã nghị án và ra bản án sơ thẩm quyết định áp dụng điểm p, điểm h khoản1, khoản 2 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Anh 6 tháng tù.
Câu2.6: Anh (chị) hãy giúp bị cáo Hoàng Anh làm đơn kháng cáo bản án nêu trên.
TÌNH HUỐNG 3
Do thua lô đề không có tiền tiêu nên Trần Thu (sinh ngày 1/2/1985) rủ Lê Hạ (sinh ngày 25/9/1988) và Vũ Xuân (sinh ngày 1/2/1987) đi bắt cóc cháu Đông (con anh Bốn và chị Mùa trú tại phường A, thị xã B, tỉnh C) để lấy tiền chuộc. Khoảng 16h30 ngày 22/09/2004, Xuân giả vờ là người nhà cháu Đông đi đón cháu Đông về nhà Thu. Trên đường đưa cháu Đông về nhà Thu, cháu Đông thấy người lạ nên khóc và không chịu để Xuân, Hạ chở đi. Thấy vậy, anh Nguyễn Hải và một số người đi đường nghi ngờ đã đến hỏi Xuân và Hạ cho rõ ngọn ngành. Thấy nguy cơ bị lộ, Xuân bế cháu Đông chạy đi, Hạ ở lại dùng dao đâm bị thương anh Nguyễn Hải và đe dọa mọi người ai xông vào sẽ bị đâm chết. Sau đó, Hạ phóng xe theo Xuân và tiếp tục đèo Xuân, Đông về nhà của Thu.
Ngày 23/09/2004, cơ quan điều tra công an thị xã B đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Xuân, Hạ, Thu. Ngày 25/09/2004, cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam Xuân, Hạ, Thu trong thời hạn 4 tháng và ra quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú với Thu.
Theo kết luận giám định pháp y, tỷ lệ thương tật của anh Nguyễn Hải là 30%.
Câu hỏi 2: Xác định tội danh và điều khoản BLHS cần áp dụng đối với Xuân, Hạ, Thu. Nêu các căn cứ pháp lý để chứng minh cho câu trả lời của mình.
Câu hỏi 3: Anh chị có nhận xét gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã B? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại cơ quan điều tra, Xuân, Hạ khai rằng cả Xuân, Hạ, Thu đã bàn bạc rất kỹ lưỡng việc bắt cóc cháu Đông và cách xử lý những tình huống phát sinh như có người cản trở, cháu Đông kêu khóc…,việc Hạ chém anh Hải cũng nằm trong phương án đã được dự liệu nhằm bằng mọi cách bắt cóc được cháu Đông. Thu khai rằng Thu không hề biết việc Hạ, Xuân đi bắt có cháu Đông; Hạ, Xuân chỉ rủ Thu đi lấy trộm tài sản nhưng Thu không đi.
Gia đình Xuân, Hạ , Thu đã mời Luật sư Nguyễn L làm luật sư bào chữa cho các bị can.
Câu hỏi 4: Giả sử những lời khai trên là đúng thì nó ảnh hưởng như thế nào đến việc giải quyết vụ án? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Ngày 2/12/2004, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B ra bản cáo trạng truy tố Xuân, Ha, Thu và chuyển hồ sơ sang Tòa án nhân dân thị xã B.
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận thấy việc Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố đối với Hạ là không đúng. Vì vây, Thẩm phán đã quyết định trả hồ sơ cho Viện Kiểm sát để điều tra bổ sung.
Câu hỏi 5: Anh, chị có nhận xét gì về quyết định của thẩm phán? Giải thích tại sao?
Tình tiết bổ sung
Viện kiểm sát nhân dân thị xã B rút quyết định truy tố đối với Hạ. Tòa án nhân dân thị xã B quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 3/2/2005. Tại phiên tòa, sau khi chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, Vũ Xuân từ chối luật sư Nguyễn L vì cho rằng luật sư L còn quá trẻ, không có khả năng bào chữa cho mình. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của Xuân không đồng ý với ý kiến của Xuân và yêu cầu luật sự tiếp tục bào chữa cho Xuân.
Câu hỏi 6: Trường hợp này, Tòa án có chấp nhận việc từ chối luật sư của Vũ Xuân hay không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, gia đình Xuân, Hạ, Thu đã bồi thường cho anh Nguyễn Hải 20 triệu đồng nhưng anh Hải không nhận mà yêu cầu Tòa án giải quyết việc bồi thường theo pháp luật.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Xuân, Thu chưa có tiền án tiền sự. Trong thời gian tạm giam, Xuân đã tích cực giúp đỡ Ban giám thị trại giam bắt giữ một phạm nhân trốn trại. Bố của Thu đã hai lần được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích bảo vệ rừng.
Câu hỏi 7: Anh chị hãy xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với Xuân và Thu.
TÌNH HUỐNG 4
Năm 1998, Nguôn Suy từ Campuchia sang Việt Nam mua bán nông thuỷ sản và quen biết với bà Tô Ngọc Kim, giám đốc Công ty TNHH xuất khẩu thuỷ sản Hiệp Nguyên. Tuy đã có vợ con nhưng Suy vẫn làm cho bà Kim tin rằng còn độc thân. Hai người chung sống với nhau như vợ chồng và có một con riêng. Khi phát hiện ra Suy có gia đình tại Campuchia, bà Kim đòi chấm dứt quan hệ. Cho rằng người vợ hờ tạo cớ hòng chiếm hết khối tài sản của mình gồm nhiều nhà xưởng ở thành phố Hồ Chí Minh nên Suy tìm thuê người giết bà Kim. Suy tìm được Trần Bá Nhân, trú tại phường 3, quận 4, Thành phố HCM. Tháng 6/2004, Suy về Campuchia mua 1 khẩu súng ngắn K59 với 1 ống giảm thanh và 12 viên đạn. Suy trở lại Việt Nam và đưa cho Nhân 40 triệu đồng và số vũ khí giảm thanh và 12 viên đạn.
Từng là chỗ quen biết với gia đình bà Kim, sợ bị phát hiện nên sau 1 tháng suy nghĩ, Nhân đã “nhượng lại” toàn bộ “hợp đồng” và bàn giao khẩu súng cho anh ruột là Trần Bá Mẫn. Mẫn kéo theo Trần Đăng Đình, 15 tuổi, cháu vợ Mẫn tham gia và đòi tăng lên 70 triệu đồng. Suy chấp nhận nhưng yêu cầu thực hiện xong mới đưa nốt 30 triệu đồng phát sinh. Sau nhiều ngày tập bắn súng và theo dõi quy luật đi lại của bà Kim, khoảng 9h ngày ngày 15/08/2004, theo sự phân công của Mẫn, Đình chờ Mẫn đến trước cổng Công ty Hiệp Nguyên phục sẵn. Khi bà Kim xuống ô tô đi vào công ty, Mẫn bám theo và khi chỉ cách bà Kim 0,5 m liền rút súng bắn. Đúng lúc này, bà Kim di chuyển người và giơ tay gọi nhân viên mở cổng nên viên đạn đã đi lệch, chỉ trúng cánh tay trái làm vỡ xương, gây thương tích 22%.
Mẫn và Đình bị lực lượng bảo vệ và người đi đường bắt tại chỗ. Tại cơ quan điều tra, Mẫn đã khai Nhân và Nguôn Suy. Từ lời khai trên, ngay 13h ngày 15/08/2004, Cơ quan điều tra đã bắt khẩn cấp Nhân và Nguôn Suy tại nhà riêng. Ngày 16/08/2004, Thủ trưởng cơ quan điều tra đã ra lệnh tạm giam Mẫn, Đình, Nhân, Suy với thời hạn 4 tháng kể từ ngày 15/08/2004. Cũng trong ngày 16/08/2004, Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn các lệnh bắt khẩn cấp và lệnh tạm giam nêu trên của Cơ quan điều tra.
Ngày 18/08/2004, Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án Giết người và khởi tố các bị can: Nguôn Suy về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS, mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 2 Điều 230 BLHS; Trần Bá Nhân về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS, tàng trữ vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 230 BLHS; Trần Bá Mẫn về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 230 BLHS; Trần Đăng Đình về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS và tội che giấu tội phạm theo khoản 1 Điều 313 BLHS.
Câu 1: Anh chị có quan điểm như thế nào về các biện pháp ngăn chặn đã được cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với Mẫn, Đình, Nhân, Suy?
Câu 2: Anh chị có gì về các quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra trong vụ án trên?
Tình tiết bổ sung
Trong quá trình điều tra, Nguôn Suy yêu cầu các cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước Việt Nam tiến hành kê biên tài sản của mình vì sợ bà Tô Ngọc Kim sẽ tẩu tán hết tài sản của Suy.
Câu 3: Yêu cầu của Suy có được đáp ứng không? Cơ quan nào có thẩm quyền ke biên tài sản của Suy tại Việt Nam?
Tình tiết bổ sung
Gia đình Nguôn Suy thuê ông Hiêng Xum, một Luật sư danh tiếng ở Campuchia sang Việt Nam để bào chữa cho mình. Bà Trần Thị Chung Chiên, vợ của bị can Mẫn, đã thuê ông X, luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội bào chữa cho Mẫn, Đình và Nhân.
Câu 4: Ông Hieng Xum, ông X có thể được cấp giấy chứng nhận người bào chữa để tham gia tố tụng trong vụ án này không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Cha mẹ Trần Đăng Đình đã thuê ông Y, một luật sư khác bào chữa cho con trai mình và ông Y đã được cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Thời điểm ông Y được tham gia tố tụng, hồ sơ vụ án vừa được Cơ quan điều tra chuyển sang Viện kiểm sát cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố các bị can theo tội danh và điều khoản BLHS mà cơ quan điều tra đã khởi tố ban đầu.
Câu 5: Theo anh chị, ông Y nên tiến hành hoạt động nào dưới đây:
A, đề nghị Viện Kiểm sát đình chỉ vụ án đối với Trần Đăng Đình vì vào thời điểm phạm tội, Định mới 15 tuổi;
B, đề nghị Viện Kiểm sát xem xét, quyết định việc chỉ truy tố Đình về tội Giết người mà không truy tố về tội Che dấu tội phạm;
C, đề nghị Viện Kiểm sát xem xét, quyết định việc chỉ truy tố Đình về tội che dấu tội phạm mà không truy tố về tội giết người;
D, khuyên Trần Đăng Đình khai do bị Trần Bá Mẫn đánh đập, doạ sẽ giết chết nên buộc phải giúp sức Trần Bá Mẫn và buộc phải im lặng trong việc giết bà Kim;
E, Phương án riêng của anh chị.
Tình tiết bổ sung
Phiên toà sơ thẩm được mở ngày 24/04/2005. Vào ngày mở phiên toà, ông Y bất ngờ bị nhồi máu cơ tim nên không thể tham gia phiên toà. Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên toà vì vắng mặt người bào chữa dù bị cáo Đình và cha mẹ bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên toà như bình thường.
Câu 6: Anh chị có nhận xét gì về quyết định của Hội đồng xét xử trong tình huống này.
Tình tiết bổ sung
Phiên toà sơ thẩm được mở lại vào ngày 24/05/2005. Trong thành phần Hội đồng xét xử, có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên Trường Chính trị thành phố. Một Hội thẩm nhân dân còn lại bác sỹ bệnh viện Gia Định, thành phố HCM, ông này là anh rể của kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố tại phiên toà.
Câu 7: Theo Anh chị, thành phần Hội đồng xẽtử cơ vi phạm quy định của pháp luật không? Tại sao?
TÌNH HUỐNG 5
Nguyễn Hữu Đại và Nguyễn Bình Phương là hai anh em họ. Tối ngày 22/12/2004, Đại đến rủ Phương đi uống cà phê tại quán cà phê Apple. Trong khi uống cà phê, Đại nói chuyện và rủ Phương đi chặn xe qua đường dể xin tiền. Phương đồng ý, đồng thời gọi điện rủ thêm Lê Thanh Đoàn (sinh ngày 15/12/1988) tham gia. Khoảng 22h cùng ngày, Đại, Phương và Đoàn rời quán cà phê đi tới đầu phố Hoa sữa (phường A, quanạ B, thành phố C). Đến 22h30, Đại, Phương, Hoàng nhìn thấy anh Nguyễn Minh Tuấn đi xe máy từ trong hẻm ra liền chặn lại. Lợi dụng lúc anh Tuấn mải đôi co với Đại, Phương nhanh tay giật chiếc dây chuyền vàng 5 triệu trên cổ anh Tuấn còn Đoàn rút chìa khoá xe máy của anh Tuấn bỏ vào túi quần. Sau đó, cả ba tên đi bộ về cuối phố. Anh Tuấn dắt xe theo sau Đại, Phương, Đoàn để xin lại đồ đã bị chiếm đoạt. Thấy vậy, Phương rút con dao Thái Lan nhỏ trong túi quần ra quơ qua quơ lại hù doạ anh Tuấn để Đoàn và Đại chạy đi. Sau đó, khi thấy một số người dân chạy ra, Phương đẩy anh Tuấn sang bên đường, vứt luôn con dao xuống đất rồi bỏ chạy. Anh Tuấn đến công an phường A trình báo. Chiếc dây truyền của anh Tuấn trị giá 4.500.000 đ. Đại bán chiếc dây chuyền được 3000.000 đ; Đại, Phương, Đoàn với thời hạn 2 tháng.
Ngày 29/12/2004, cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đại, Phương, Đoàn về tội “Cướp giật tài sản”.
Ngày 26/12/2004, bố của Đoàn đến văn phòng luật sư THẮNG nhờ luật sư Nguyễn Q. làm người bào chữa cho con mình. Luật sư Q đã tiến hành các thủ tục cần thiết để tham gia bào chữa cho Q. Tuy nhiên, cơ quan điều tra công an quận B không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư Q với lý do việc tham gia bào chữa khi Đoàn mới bị tạm giữ là không cần thiết.
Câu hỏi 2: Anh, chị, Minh có nhận xét gì về các hoạt động tố tụng mà cơ quan điều tra công an quận B tiến hành? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại cơ quan điều tra, nguyễn Hữu Đại khai rằng trước khi đi đến đường Hoa Sữa, Đại và Phương đã bàn bạc rất cụ thể về vai trò của từng người trong quá trình xin tiền của người đi đường. Theo đó, Đại sẽ gây sự để thu hút sự chú ý của người có tài sản; Phương và Đoàn tranh thủ thời cơ để lấy tài sản; nếu bị chống cự, Phương sẽ dừng lại chặn để Đại, Đoàn chạy. Đây là lần đầu tiên đại tham gia chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác.
Nguyễn Bình Phương khai: Đại và Phương đã nhiều lần sử dụng thủ đoạn tương tự để chiếm đoạt tài sản của người đi đường còn Đoàn mới tham gia lần đầu. Khi anh Tuấn đi theo xin lại tài sản, Phương chỉ dang tay chặn anh Tuấn lại mà không dùng dao để đe doạ anh Tuấn. lúc đó, Phương có hét to lên với đại và Đoàn: “Chạy đi, nhanh lên:.
Lê thanh đoàn: “Đại gọi điện thoại hẹn tôi đến đầu đường Hoa Sữa. Khi tôi đến đó, Đại mới rủ tôi xin tiền của người đi đường nhưng cũng không phân công nhiệm vụ gì cụ thể. Tôi không biết Phương de doạ anh Tuấn như thế nào. Tôi bỏ chạy vì thấy anh Tuấn kêu cứu một số người dân xung quanh bắt đầu chạy ra.”
Cơ quan điều tra không lấy lời khai của những người dân nơi xảy ra sự việc, không thu giữ được con dao mà Phương vứt lại ở đường Hoa Sữa.
Câu hỏi 3: Theo anh, chị, cơ quan điều tra cần thiết tiến hành những hoạt động điều tra gì để làm sáng tỏ sự thật của vụ án?
Câu hỏi 4: Giả sử lời khai của đại là đúng thì Đại, Phương, Đoàn bị truy tố về tội gì? Theo điều khoản nào của BLHS
Tình tiết bổ sung
Trên cơ sở kết quả điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân quận B ra bản cáo trạng truy tố Đại, Phương và Đoàn về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 BLHS.
Trong giai đoạn điều tra, gia đình các bị can đã bồi thường cho anh Tuấn 4.500.000 đ không đủ để mua lại một sợi dây chuyền 5 chỉ.
Câu hỏi 5: Theo anh, chị, yêu của của anh Tuấn có được chấp nhận hay không? Toà án cần giải quyết tình huống này như thế nào?
Tình tiết bổ sung
Ngày 12/05/2005, Toà án nhân dân huyện B mở phiên toà sơ thẩm xét xử nêu trên. Tại phiên toà, sau khi đọc bản cáo trạng, Kiểm sát viên xin bổ sung vào bản cáo trạng một số nội dung sau:
– Thứ nhất, trong bản cáo trạng chỉ ghi năm sinh của Đại và Phương, Kiểm sát viên xin bổ sung cụ thể ngày tháng năm sinh của Đại là 22/1/1985, của Phương là 4/5/1983;
– Thứ hai, trong bản cáo trạng không nêu nội dung bàn bạc giữa đại và Phương tại quán cà phê Apple, Kiểm sát viên xin bổ sung “tại quán cà phê, đại và phương đã bàn bạc cụ thể kịch bản dể xin tiền ngưoiừ đi đường”.
Luật sư Nguyễn Q cho rằng việc Kiểm sát viên bổ sung bản cáo trạng như trên là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của các bị cáo
Câu hỏi 6: Anh, chị có nhận xét gì quan điểm của luật sư Q? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Qua phần xét hỏi và tranh luận tại phiên toà đã làm rõ được nội dung vụ án như phần dữ kiện chung của đề bài. Phương và Đại đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người đi đường. Đoàn phạm tội lần đầu, không bàn bạc trước với Phương và Đại, không biết việc Phương đe doạ anh Tuấn. trong quá trình điều tra tại phiên toà, Đoàn thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải.
Câu hỏi 7: Nếu là luật sư nguyễn Q, anh, chị sẽ bào chữa cho Đoàn theo phương án nào trong các phương án dưới đây? tại sao
A, Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho Đoàn;
B, Đề nghị HĐXX miễn trách nhiệm hình sự cho Đoàn;
C, Đề nghị HĐXX tuyên bố Đoàn không có tội;
D, Phương án riêng của anh, chị
TÌNH HUỐNG 6
Do sẵn có mâu thuẫn nên đêm 25/07/2004, Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1972 trú tại phường Khương Hạ, quận T, thành phố H, đã cãi nhau với vợ là Hà Thị Yến. Trong khi xô sát, Yến đã có những lời thô tục chửi bới Tuấn rất thậm tệ. Vì vậy, Tuấn đã giang thẳng cánh tay tát vào mặt vợ. Phản ứng trước hành động của chồng, Yến đã giơ đứa con mới 2 tháng tuổi đang bế trên tay để ngăn cái tát của Tuấn. Kết quả sau khi bị Tuấn đánh trúng, cháu bé đã ngưng thở, tai và miệng rỉ máu. Mặc dù được Tuấn và một người hàng xóm đưa ngay đến bệnh viện X nhưng cháu bé không qua khỏi. Xác định nguyên nhân gây nên cái chết cho cháu bé, Tổ chức giám định pháp y thành phố H kết luận: nạn nhân bị vỡ hộp sọ do ngoại lực tác động.
Ngày 20/08/2004, cơ quan điều tra công an thành phố H đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Anh Tuấn về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 93 BLHS. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra chuyển đến, ngày 10/04/2005 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã ra Cáo trạng truy tố Nguyễn Anh Tuấn về tội” Cố ý gấy thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS. Hồ sơ cùng bản cáo trạng được chuyển đến Toà án nhân dân thành phố H.
Câu hỏi 2:Anh chị có nhận xét gì về tội danh mà cơ quan điều tra đã khởi tố và Viện kiểm sát truy tố đối với Nguyễn Anh Tuấn? Hãy xác định tội danh đối với Nguyễn Anh Tuấn?
Câu hỏi 3: Với tội danh mà anh chị đã xác định thì thẩm quyền xét xử thuộc Toà án nào? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán lại cho rằng, hành vi của Tuấn cấu thành tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo quy định tại Điều 105 BLHS và ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung. Sau khi tiến hành những hoạt động điều tra bổ sung, Viện kiểm sát đã không bổ sung được những vấn đề mà Thẩm phán đã yêu cầu và lại gửi hồ sơ đến Toà án.
Câu hỏi 4: Hãy nhận xét về việc ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Thẩm phán. Theo anh chị, Toà án phải xử lý như thế nào sau khi Viện Kiểm sát không bổ sung được theo yêu cầu của Toà án?
Tình tiết bổ sung
Ngày 03/06/2005, Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
Câu hỏi 5: Toà án cần triệu tập những ai, với tư cách tham gia tố tụng gì đến phiên toà?
Tình tiết bổ sung
Tại phiên toà, bị cáo yêu cầu thay đổi vị nữ Hội thẩm nhân dân với lý do vị nữ Hội thẩm này là Hội trưởng Hội phụ nữ quận. Trước đây, khi vợ chồng bị cáo có mâu thuẫn, bà đã từng hai lần cùng Hội phụ nữ phường đến hoà giải và lần nào cũng có ý bênh vực vợ bị cáo. Vì vậy, Hội thẩm sẽ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ
Câu hỏi 6: Theo anh chị, yêu cầu của bị cáo có được chấp nhận không? Nếu không thì tại sao? Nếu có thì Hội đồng xét xử phải xử lý như thế nào?
Tình tiết bổ sung
Sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên đã kết luận rằng Nguyễn Anh Tuấn không phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS mà phạm tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 98 BLHS.
Câu hỏi 7: Theo anh chị, Hội đồng xét xử cần xử lý như thế nào trong trường hợp trên? Giải thích vì sao cần xử lý như vậy?
TÌNH HUỐNG 7
Rạng sáng ngày 03/7/2004, tại đoạn đường gần nông trường cao su Dầu Giây, dân chúng phát hiện anh Phạm Bá Quang là công nhân nông trường Dầu Giây, huyện Dầu Tiếng, tỉnh T nằm bất tỉnh vì bị nhiều vết thương nặng ỏ vùng đầu, mặt,nên đưa đi cấp cứu. Do vết thương quá nặng, anh Quang đã chết trên đường đến bệnh viện. Qua kiểm tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã xác định Lê Văn Thọ, sinh năm 1964, trú tại ấp Thạnh Mỹ, xã Dầu Giây, huyện Dầu Tiếng, tỉnh T đã dùng đá ném vào mặt và dùng gậy đập liên tiếp vào đầu gây nên cái chết của anh Quang.
Ngày 06/7/2004 Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn Thọ về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Biết được tin trên, Thọ đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Lê Văn Thọ.
Câu hỏi 2: Anh (chị) có nhận xét gì về hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt khẩn cấp của cơ quan điều tra công an tỉnh T?
Tình tiết bổ sung:
Trong quá trình điều tra, Lê Văn Thọ khai nhận rằng, do có quan hệ bất chính với Bạch Thị Thanh Thuý (vợ của anh Quang), nên Thọ và Thuý đã bàn với nhau về việc sắp đặt và thực hiện kế hoạch giết anh Quang để có thể tiếp tục quan hệ bất chính với nhau. Bạch Thị Thanh Thuý cũng xác nhận những điều mà Thọ đã khai nhận.
Câu hỏi 3: Theo anh (chị), cơ quan điều tra cần phải làm gì khi phát hiện tình tiết nêu trên?
Câu hỏi 4: Nếu sau khi phát hiện các tình tiết trên cơ quan điều tra không thực hiện các hoạt động cần thiết thì Viện Kiểm sát cần phải làm gì để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất?
Tình tiết bổ sung:
Khi tiến hành kiểm sát các hoạt động điều tra, kiểm sát viên phát hiện thấy có những dấu hiệu về việc Bạch Thị Thanh Thuý chuẩn bị trốn đi nước ngoài nên cần phải tiến hành bắt đối với Bạch Thị Thanh Thuý. Tuy nhiên khi trao đổi vấn đề này với Điều tra viên đang thụ lý hồ sơ vụ án thì Điều tra viên này cho rằng, hiện nay Bạch Thị Thanh Thuý đang phải nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên không thể bắt Thuý được.
Câu hỏi 5: Theo anh (chị), trường hợp này có tiến hành bắt Bạch Thị Thanh Thuý được không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung:
Cơ quan điều tra hoàn tất Bản kết luận điều tra và gửi hồ sơ đến Việ kiểm sát. Khi nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát viên được phân công thụ lý hồ sơ vụ án phát hiện, ngoài hành vi làm chết anh Quang, Thuý với Thọ đã có quá trình quan hệ bất chính với nhau khá lâu, đã rất nhiều lần họ hẹn hà cùng đến một địa điểm khác nhau để cùng qua đêm ở đó. Vì vậy, Kiểm sát viên đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn Thọ và Bạch Thị Thanh Thuý về tội: “Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Hình sự.
Câu hỏi 6: Theo anh (chị) hoạt động nêu trên của Kiểm sát viên như vậy là đúng hay sai? Giải thích tại sao?
Tình tiết bổ sung:
Ngày 16/10/2004 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T đã có cáo trạng đối với vụ án. Trên cơ sở của bản cáo trạng, ngày 25/12/2004 Toà án nhân dân tỉnh T có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Câu hỏi 7: Theo anh (chị), Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T cần truy tố ai, theo tội danh, điều khoản nào của Bộ luật hình sự thì mới đúng pháp luật? Trên cơ sở của cáo trạng đó Toà án nhân dân tỉnh T cần quyết định xét xử đối với ai? theo tội danh, điều khoản nào? giải thích tại sao?
TÌNH HUỐNG 8
Ngày 5/7//2004, Nguyễn Văn A (sinh ngày 12/5/1988), Phạm Văn B (sinh ngày 20/6/1988) và Đỗ Văn C (sinh ngày 15/8/1988) cùng trú tại xã XĐ, huyện Đ, tỉnh HN rủ nhau đến nhà chị Phạm Thanh H lấy trộm số tiền trúng thưởng xố số của chị. Sau khi bàn bạc, để tránh bị phát hiện, cả ba thống nhất giao cho C đến nhà chị H (cũng ở xã XĐ) đe doạ chị H phải giao cho chúng một phần tiền trúng thưởng xổ số, nếu không chúng sẽ nói với chồng chị H về việc chị H có quan hệ bất chính với anh Trần T (là hàng xóm của C, B). Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến nhà chị H. C nói “chia cho bọn này một phần thì bọn này giữ kín chuyện cho, bằng không cả xã này biết bà ngoại tình”, chị H đã khước từ và thách thức sẽ báo cho công an biết về hành vi tống tiền của bọn chúng. Một phần vì sợ bị phát hiện, phần khác lại muốn có một khoản tiền để tiên xài, C liền rút dao trong người ra khống chế buộc chị H phải mở cửa tủ lấy tiền đưa cho C. Trong lúc chị H đang mở tủ lấy tiền thì anh T đến. Thấy anh T, C hoảng sợ đẩy chị H về phía anh T rồi cầm túi tiền bỏ chạy. Chị H hô hoán kêu cứu. Đúng lúc đó, anh M công an xã XĐ đi qua đã kịp thời đuổi bắt được C và trả lại chiếc túi trong đó có 40.000.000đ tiền trúng thưởng xổ số cho chị H.
Câu hỏi 1: Hãy xác định tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với hành vi nêu trên của A,B,C? Giải thích tại sao?
Tình tiết bổ sung:
Ngày 6/7/2004, công an huyện Đ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với C. Theo lời khai của C, công an huyện Đ đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn A và Phạm Văn B. Cùng ngày, công an huyện Đ cũng ra lệnh tạm giam đối với A,B,C từ ngày 6/7/2004 đến ngày 5/11/2004. Việc bắt và tạm giam các bị can được thông báo cho gia đình các bị can vào chiều ngày 7/7/2004.
Ngày 12/7/2004, lợi dụng sơ hở, Đỗ Văn C đã bỏ trốn khỏi trại tạm giam. Cơ quan điều tra không ra lệnh truy nã bị can mà vẫn tiếp tục tiến hành điều tra, hoàn thiện hồ sơ vụ án.
Câu hỏi 2: Anh (chị) có nhận xét gì về hoạt động tố tụng mà cơ quan điều tra đã tiến hành?
Tình tiết bổ sung
Ngày 20/9/2004, cơ quan điều tra công an huyện Đ đã đưa ra bản kết luận điều tra đề nghị VKSND huyện Đ truy tố Nguyễn Văn A, Phạm Văn B và Đỗ Văn C về tội cướp tài sản theo Điều 133 BLHS, truy tố Đỗ Văn C về tội trốn khỏi nơi giam theo Điều 311 BLHS đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát.
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, luật sư Nguyễn Thế A bào chữa cho hai bị can A và B phát hiện trong biên bản lấy lời khai của C ngày 5/7/2004 không có chữ ký người đại diện hợp pháp của C; biên bản hỏi cung A,B ngày 6/7//2004 cho thấy điều tra viên đã không giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can.
Câu hỏi 3: Theo anh (chị) việc làm nêu trên của cơ quan điều tra có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Ngày 5/10/2004, VKSND huyện Đ ra bản cáo trạng truy tố bị can A,B,C .
Ngày 10/11/2004, TAND huyện Đ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngày 12/11/2004, Đỗ Văn C ra trình diện tại toà án và xin được mời luật sư bào chữa.
Câu hỏi 4: Tòa án có chấp nhận yêu cầu của C không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Ngày 22/11/2004, TAND huyện Đ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai đối với các bị cáo A,B,C.
Chị Phạm Thanh H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Chị H có gửi đơn giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo vì họ còn quá trẻ.
Câu hỏi 5: Hội đồng xét xử lựa chọn phương án nào trong các phương án dưới đây? Lý do?
– Hoãn phiên toà;
– Xét xử vắng mặt cho người bị hại;
– Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Tình tiết bổ sung
Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Văn C khai: ngày 15/6/2004, C cùng Nguyễn Thanh N đã ăn trộm chiếc xe mini Nhật của nhà anh chị H và tình cờ phát hiện việc chị H ngoại tình với anh T.C và N bán chiếc xe đạp được 800.000 đồng, C được N chia cho 200.000 đồng. Sự việc này không bị công an phát hiện.
Câu hỏi 6: Hội đồng xét xử phải giải quyết tình huống này như thế nào?
Câu hỏi 7: Theo anh(chị), hội đồng xét xử có coi tình tiết nêu trên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với C khi quyết định hình phạt không? Tại sao?
Câu 1: A thực hiện hành vi cướp giật, ngay sau đó đã bị quần chúng nhân dân đuổi theo và bắt được. A bị dẫn giải đến trụ sở Công an quận vào lúc 10 giờ sáng. Hỏi:
1. Theo quy định hiện hành của Luật TTHS Việt Nam, thủ tục tạm giữ A được thực hiện như thế nào?
2. Thời hạn tạm giữ A được tính từ thời điểm nào? A có thể bị tạm giữ tối đa là bao lâu?
3. CQĐT ra quyết định khởi tố bị can đối với A theo khoản 1 điều 136 BLHS, thì CQĐT có thể ra lệnh tạm giam A được không?
4. Giả sử trong quá trình tạm giam, phát hiện A là người bị bệnh nặng và có người đủ điều kiện bảo lĩnh thì Thủ trưởng CQĐT có thể ra quyết định thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh không? Tại sao?
Câu 2.
Hãy nêu hướng giải quyết của VKS và chỉ rõ căn cứ pháp lý khi phát hiện :
a) quyết định không khởi tố VAHS của cơ quan điều tra không có căn cứ.
b) có căn cứ cho rằng có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong cùng vụ án sau khi đã nhận hồ sơ và đề nghị truy tố của CQĐT.
c) có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác sau khi nhận được hồ sơ vụ án và đề nghị truy tố của cơ quan điều tra theo thủ tục rút gọn.
Câu 3 .
Hãy nêu hướng giải quyết và chỉ rõ căn cứ pháp lý để áp dụng của HĐXX phúc thẩm trong các trường hợp:
a) xác định được căn cứ tăng nặng hình phạt đối với bị cáo kêu oan.
b) xác định tội phạm được thực hiện đã hết thời hiệu truy cứu TNHS.
c) có căn cứ xác định toà án cấp ST đã nhận tiền chạy án và đã xét xử không đúng thẩm quyền.
Câu 4: Viện kiểm sát giải quyết như thế nào trong trường hợp sau:
a. Cơ quan điều tra không đảm bảo có người bào chữa cho bị can là người chưa thành niên.
b. Có căn cứ cho rằng bị can phạm tội khác.
Câu 5: Tòa án giải quyết như thế nào trong các trường hợp sau đây:
a. Phát hiện tội phạm, người phạm tội mới trước khi mở phiên tòa sơ thẩm.
b. Phát hiện tội phạm, người phạm tội mới trong khi xét xử.
Ngoài Bộ câu hỏi ôn tập môn Luật Tố tụng Hình sự này ra các bạn có thể tham khảo thêm bộ câu hỏi Bộ câu hỏi ôn tập môn Tố tụng Hình sự có gợi ý trả lời
[/lock]