Đặc điểm về pháp luật ở Việt Nam thời Bắc thuộc – Bài tập nhóm môn Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam ( tham khảo )

Lời mở đầu

Trong tiến trình lịch sử, Việt Nam đã trải qua các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc không ngừng, thu được những thắng lợi cụ thể trong từng thời kì. Trong đó, phải kể đến hơn 10 thế kỉ đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa đã để lại hậu quả căn bản cho quá trình hình thành, quá trình phát triển của Nhà nước và pháp luật Việt Nam thời quân chủ cũng như trong suốt tiến trình lịch sử cho đến ngày nay. Pháp luật của nước ta thời kì này có nhiều nét riêng biệt về tổ chức cũng như việc thực hiện. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng em đã lựa chọn câu hỏi: “ Đặc điểm về pháp luật ở Việt Nam thời Bắc thuộc” làm đề tài cho bài tập nhóm lần này.

Nội dung

I.Cơ sở lí luận :

1.Khái niệm pháp luật và đặc điểm pháp luật :
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.
Đặc điểm pháp luật được hiểu là những nét riêng biệt và tiêu biểu, được xem là dấu hiệu để phân biệt pháp luật với các hình thức không phải pháp luật. Chính cái sự riêng biệt này để khảng định một sự vật là chính nó mà không phải cái khác.

2. Đặc điểm nhà nước Việt Nam thời Bắc thuộc:
Bắc thuộc là thời kì Việt Nam đặt dưới quyền cai trị của các triều đình Trung Quốc kéo dài hơn 1000 từ khi Triệu đà thôn tính nước Âu Lạc (207 hoặc 179 TCN) cho đến khi Khúc Thừa Dụ giành lại tự chủ từ tay nhà Đường năm 905. Trong giai đoạn tự chủ từ (905 – 938) có một giai đoạn Việt Nam rơi vào tay Nam Hán.
Đặc điểm chính cả nhà nước Việt Nam thời kì này là có 2 hệ thống chính quyền hoặc đan xen tồn tại hoặc song song tồn tại trong các thời gian lịch sử khác nhau: chủ đạo là hệ thống chính quyền đô hộ phong kiến Trung Quốc, hệ thống chính quyền tự chủ chỉ tồn tại trong những khoảng thời gian ngắn (chính quyền Hai Bà Trưng, Lý Bí…).

II.Pháp luật Việt Nam thời kì Bắc thuộc :

1, Nguồn luật :

Thời Bắc thuộc có hai nguồn luật cùng đan xen và song song tồn tại: luật tục của người Việt và luật pháp của phong kiến Trung Hoa.

2, Nội dung :
Pháp luật thời này đã có những nội dung thay đổi hay những nội dung mới về luật hình (trừng trị các tội phạm chủ yếu nhằm phục vụ lợi ích của chính quyền đô hộ); luật dân sự và tài chính (có 2 hình thức sở hữu ruộng đất: Sở hữu tối cao của hoàng đế Trung Quốc_sở hữu nhà nước) và sở hữu tư nhân. Chính quyền đô hộ là người thay mặt hoàng đế thực hiện quyền sở hữu. Đối với ruộng đất ở làng xã, luật Hán điều chỉnh về thuế khóa còn luật tục làng xã điều chỉnh việc phân phối ruông đất cho các gia đình cày cấy); luật hôn nhân và gia đình (buộc dân Việt kết hôn phải theo luật lệ Hán. Tuy nhiên ,chỉ có người Hán mới theo luật lệ hôn nhân và gia đình đó còn người Việt vẫn theo phong tục tập quán cổ truyền của mình).

3, Hình thức pháp luật :
Thời kì Văn Lang Âu Lạc mới có pháp luật tập quán, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự, dùng lối kết bút. Sau này, trong quá trình tiếp nhận phong kiến Trung Hoa, tiếp nhận hệ thống phong kiến một cách sáng tạo, phù hợp với dân tộc mình, tiếp nhận sáng tạo các bộ luật Trung Hoa, đặc biệt là bộ luật nhà Đường, Minh, Thanh,..

III, Đặc điểm của pháp luật Việt Nam thời Bắc thuộc :

Thời Bắc thuộc, một đặc điểm nổi bật về pháp luật ở Việt Nam là trên cùng một lãnh thổ có sự đan xen, song song tồn tại của hai nguồn luật, hai hệ thống pháp luật: hệ thống pháp luật của người Hán và hệ thống pháp luật của người Việt. Bên cạnh đó thì hệ thống pháp luật của người Việt cũng có một số đặc điểm nhất định.

1,Tính đan xen:
Sự đan xen của 2 hệ thống pháp luật được thể hiện rất rõ qua các giai đoạn nhất định.
– Giai đoạn đầu: Năm 179 TCN Triệu Đà xâm lược, Âu Lạc bước vào thời kì Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm. Khi nhà Tây Hán xâm chiếm, dân tộc Lạc Việt sống trên lãnh thổ Nam Việt cũng bị đô hộ trong 150 năm từ 111 TCN đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40. Ở giai đoạn này Nhà Hán thực hiện chính sách đồng hóa triệt để đối với nhân dân ta vì thế pháp luật thời kì này là pháp luật của người hán.
– Giai đoạn hai: Cuộc đấu tranh giành độc lập của Hai Bà Trưng mùa xuân năm 40 thắng lợi, làm chủ toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc cũ. Thời gian độc lập ngắn ngủi nên sử dụng chủ yếu những luật lệ cổ truyền của người Việt để quản lý đất nước, xóa bỏ các thứ thuế nặng nề do chính quyền đô hộ đặt ra. Vì vậy giai đoạn này pháp luật của người Việt được áp dụng.
– Giai đoạn ba: Năm 43, sau khi dẹp tan cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhà Đông Hán đã thắt chặt chính sách cai trị tại Giao Chỉ: vươn xuống cai quản cấp huyện, tăng cường các chính sách bóc lột, nô dịch và đẩy mạnh hàng loạt biện pháp đồng hoá có hệ thống với quy mô ngày càng lớn. Nhà Đông Hán bắt nhân dân ta phải tuân theo lễ giáo phong kiến Hán, đồng thời cố gắng xóa bỏ tận gốc truyền thống “dùng tục cũ mà cai trị” của người Việt. Nên ở thời kì này nhân ta lại chịu sự áp đặt pháp luật của người Hán.
– Giai đoạn thứ tư: Khúc Thừa Dụ xác lập nền tự chủ, thực hiện những cải cách về cơ cấu hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đến năm 907 Khúc Hạo lên thay, nỗ lực xây đựng một chính quyền dân tộc thống nhất từ trung ương đến xã. Đồng thời ông còn thực hiện đường lối chính trị thân dân, sửa lại chế độ thuế khóa và lao dịch nặng nề của thời Đường giúp chính quyền tự chủ được củng cố một bước. Giai đoạn này pháp luật người Việt lại được xác lập.
– Đến năm 930 Nam Hán xâm lược nhưng chưa thiết lập được một chính quyền đô hộ bao trùm lên cả nước ta. Năm 931 Dương Đình Nghệ đánh chiếm được thành Đại La, lập lại nền tự chủ. Đến năm 937 Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết chết đoạt chức tiết độ sứ. Năm 938 thì Ngô quyền diệt Kiều Công Tiễn và đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc của nhân dân ta.
Như vậy, trong thời kỳ Bắc Thuộc này có sự ngắt quãng thống trị nên pháp luật thời kỳ này thể hiện tính đan xen của hai hệ thống pháp luật.

2, Tính song song :
Tính song song thể hiện rất rõ thông qua nhà nước Chăm Pa và nhà nước Phù Nam. Cụ thể là nhà nước Chăm Pa gồm hai tiểu quốc là tiểu quốc Nam Chăm và tiểu quốc Bắc Chăm, năm 111TCN nhà Hán thay thế nhà Triệu thống trị Âu Lạc và lập thêm quận Nhật Nam. Chính sự xác lập bởi hai hệ thống chính quyền ở hai tiểu quốc của nhà nước Chăm Panên pháp luật có sự thể hiện song song của pháp luật Hán và pháp luật của người Việt. Đồng thời tính song song được thể hiện ở cả nhà nước Phù Nam.
Bên cạnh đó thì tính song song còn được thể hiện ở một số dặc điểm về hiệu lực và phạm vi tác động của pháp luật. Thực tế chính quyền đô hộ chỉ khống chế trực tiếp các vùng quanh thành trấn, nhiệm sở và đồn binh, những nơi có dân Trung Hoa cư trú nên luật pháp chỉ có hiệu lực ở vùng đó. Luật pháp Trung Quốc chỉ tác động đến người hán ở Âu Lạc và những quý tộc người Việt và thường chỉ trong lĩnh vực hành chính, hình sự, tài chính. Vì vậy nước ta bị đô hộ thời gian kéo dài nhưng không liên tục. Xét theo chiều sâu thì chính quyền đô hộ không thể làm thay đổi cơ cấu làng xã cổ truyền của người Việt, nhiều vùng rộng lớn xa xôi vẫn ngoài phạm vi cai trị của chúng. Chính vậy mà pháp luật của người việt chủ yếu là lệ làng và tác động tới các làng xã, đối tượng điều chỉnh là đại đa số dân cư người việt, chủ yếu ở các lĩnh vực hôn nhân gia đình, dân sự, quan hệ ruộng đất trong nội bộ làng xã… những luật lệ này về sau nhà Hán cũng phải thừa nhận. Đồng thời với luật tục của người việt thì một số pháp luật của phong kiến Trung Hoa đã được áp dụng ở Âu Lạc, nhưng phạm vi tác động chủ yếu là điều chỉnh các quan hệ hành chính giữa quận – bộ (thời Triệu), quận – huyện (Tây Hán) và hiệu lực cũng chỉ ở mức độ hạn chế.
Như vậy có thể thấy bên cạnh sự đan xen thì cái đặc điểm song song giữa luật tục của người việt và một số luật pháp phong kiến trung quốc ở Âu Lạc cũng được thể hiện rất rõ nét.

IV, Hệ quả của thời Bắc thuộc đối với pháp luật Việt Nam :

    Duy trì 2 nguồn luật : Luật Việt và luật Hán :
– Thừa nhận luật Việt là các tập quán điều chỉnh những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội vì nó gần gũi với đời sống người dân, lại có từ lâu đời nên đã chống lại được sự áp đặt của pháp luật phong kiến Trung Hoa. Trên cơ sở đó, các nhà nước độc lập sau này đã ban hành pháp luật thực định và thừa nhận các tập quán pháp (sự kết hợp luật và lệ).
– Luật Hán là luật thành văn nên nó đã đưa vào nước ta kỹ thuật xây dựng pháp luật thành văn (văn bản quy phạm pháp luật). Đây là sự tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo được sử dụng ở các nhà nước phong kiến Việt Nam sau này. Đó là hình thức các văn bản luật như: Bộ luật, lệnh, chiếu, chỉ.

Như vậy hệ thống pháp luật phong kiến cũng trở thành khuôn mẫu cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật phong kiến Việt Nam sau này. Tư tưởng chính trị pháp lí Nho giáo của nhà nước phong kiến Trung Quốc truyền bá vào Âu Lạc và đã thâm nhập vào các tầng lớp cư dân người Việt ở mức độ nhất định là cơ sở lịch sử để đặt nền tảng cho Nho giáo trở thành tư tưởng chính trị chủ đạo trong thời gian này. Đồng thời hình thành một tâm lí pháp luật truyền thống là tư tưởng tự trị, tự quản và hình thức trọng lệ hơn trọng luật.

Kết luận

Qua việc phân tích, chứng minh trên chúng ta có thể hiểu rõ hơn về pháp luật Việt Nam thời Bắc thuộc với 2 hệ thống pháp luật cùng đan xen và cùng song song tồn tại. Bên cạnh pháp luật truyền thống, nước ta còn du nhập pháp luật Trung Hoa sau hơn 1000 năm đã giúp cho người Việt trong quá trình xây dựng pháp luật thành văn, kết hợp hài hòa các yếu tố Đại Việt và Trung Hoa. Đồng thời nó đã ảnh hưởng đến sự hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam ở thời kì đó và cả pháp luật hiện nay.

Danh mục tài liệu tham khảo

1, Giáo trình “ Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam ” _ Nhà xuất bản Công An Nhân Dân Hà Nội – 2012.
2, http://123doc.vn/document/260690-dac-diem-cua-nha-nuoc-va-phap-luat-viet-nam-thoi-bac-thuoc.htm
3, http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/175281-Chuong-2-Nha-nuoc-va-phap-luat-viet-nam-thoi-bac-thuoc

Bảng từ viết tắt

TCN                                                          Trước công nguyên

http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default