Có 3 điểm đặc thù trong quá trình ra đời nhà nước của người Việt cổ:
1.Nhà nước ra đời trong trạng thái phân hóa xã hội chưa tới mức độ sâu sắc như những nước khác. Nói cách khác, nhà nước ra đời sớm, sớm cả về mặt thời gian và không gian là do 2 yếu tố tự vệ và trị thủy-thủy lợi thúc đẩy .
-Cuối thời đại Hùng Vương, dân cư tràn xuống chinh phục các vùng đồng bằng châu thổ của các con sông lớn và phát triển nông nghiệp trồng lúa nước nên công cuộc trị thủy-thủy lợi giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
-Vị trí địa lí của nước ta nằm trên đầu mối của những luồng giao thông tự nhiên nên yếu tố tự vệ chống lại các thế lực đe dọa từ bên ngoài ngày càng trở nên bức thiết.
-Vai trò thúc đẩy của tự vệ và trị thủy-thủy lợi được thể hiện cụ thể ở 2 mặt sau:
+Cơ cấu tổ chức trong chế độ công xã nguyên thủy không thể đảm đương nổi công việc lớn lao trị thủy-thủy lợi và tự vệ mà đòi hỏi phải có 1 loại cơ cấu tổ chức mới khác hẳn, đó là nhà nước. Bởi vì nhà nước có những ưu thế cơ bản hơn hẳn tổ chức công xã nguyên thủy: Nhà nước là cơ cấu tổ chức rộng lớn bao trùm toàn xã hội và chặt chẽ nhất, nhà nước có biện pháp đặc trưng là cưỡng chế, có phương tiện tổ chức và quản lí đặc trưng là pháp luật. Vì vậy nhà nước có khả năng huy động lực lượng lớn sức người sức của và tổ chức chỉ đạo 1 cách có hiệu quả công cuộc đấu tranh để tự vệ , công cuộc trị thủy-thủy lợi.
+Trên con đường hình thành nhà nước, các thủ lĩnh của các cộng đồng dân cư lợi dụng địa vị, chức năng của mình để chiếm đoạt 1 phần của cải do các thành viên đóng góp làm việc công ích thành tài sản riêng, nên việc huy động sức người sức của tổ chức chỉ đạo đấu tranh tự vệ, trị thủy- thủy lợi trở thành cơ hội lớn thuận lợi cho các thủ lĩnh chiếm đoạt tài sản công nâng cao địa vị, quyền hạn, qua đó cũng thôi thúc sự ra đời sớm của nhà nước.
2.Quá trình phân hóa xã hội và hình thành nhà nước diễn ra rất chậm chạp, kéo dài hàng ngàn năm. Nguyên nhân sâu xa và cơ bản nhất chính là chưa có chế độ tư hữu về ruộng đất.
3. Tổ chức nhà nước còn giản đơn, hình thức pháp luật còn sơ khai. Nhà nước và pháp luật còn bảo lưu nhiều tàn dư của chế độ công xã nguyên thủy.
Theo truyền thuyết dân gian và sử sách cổ, đứng đầu nhà nước Văn Lang là Hùng Vương. Nước Văn Lang được chia làm 15 bộ, đứng đầu mỗi bộ là lạc tướng, dưới đó là bồ chính đứng đầu công xã nông thôn. Các danh hiệu này đã phản ánh tiến trình các quý tộc thị tộc chuyển hóa thành các quan chức nhà nước, chức năng xã hội được chuyển hóa thành quyền lực nhà nước.
Đến thời Âu Lạc thể chế nhà nước hiện hình rõ nét, quyền uy của vua được tăng cường. Trong triều An Dương Vương, giúp việc cho vua vẫn có lạc hầu(tướng văn hoặc tướng võ) thay mặt vua giải quyết công việ trong nước. Lạc tướng đứng đầu bộ, cai quản 1 đơn vị hành chính địa phương. Bồ chính là người đứng đầu công xã nông thôn.
Pháp luật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện. Qua sự phản ánh gián tiếp của truyền thuyết dân gian và sử sách cổ có thể đưa ra giả thuyết nhà nước Văn Lang Âu Lạc có những nguồn gốc và hình thức pháp luật sau:
+tập quán pháp:giữ vai trò chủ đạo và phổ biến nhất. Đó là 1 số tập quán vốn có từ thời nguyên thủy điều chỉnh nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội: quan hệ sở hữu, chiếm hữu, sử dụng ruộng đất, quan hệ về trật tự an toàn xã hội…
+ pháp luật khẩu truyền: đó là ý chí của người thống trị đối với xã hội. Hình thức pháp luật khẩu truyền thường được dùng để giải quyết những vụ việc cụ thể hoặc đột xuất như thăng quan bãi chức, xử tội…