Khái niệm pháp luật (định nghĩa, các đặc trưng của pháp luật)
Định nghĩa
Có nhiều quan niệm khác nhau về pháp luật nhưng theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin dựa trên cơ sở triết học duy vật lịch sử thì có thể định nghĩa: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu và định hướng cụ thể”.
Trước hết, pháp luật là những quy tắc xử sự chung vì các quy định trong pháp luật là những khuôn mẫu, chuẩn mực hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội. Căn cứ vào các quy định đó mà cá nhân hay các tổ chức biết mình được làm gì, không được làm gì và phải làm thế nào khi ở trong điều kiện mà pháp luật dự liệu.
Pháp luật mang tính hệ thống là bởi vì những quy tắc xử sự mà nó điều chỉnh thuộc nhiều quan hệ xã hội khác nhau và chúng có quan hệ chặt chẽ.
Pháp luật có tính bắt buộc chung vì mọi cá nhân, tổ chức đều nhất định phải thực hiện theo pháp luật nếu không sẽ chịu những biện pháp xử lí của nhà nước.
Mặt khác pháp luật cũng là công cụ mà giai cấp cầm quyền sử dụng để thực hiện chức năng quản lí và hợp pháp hóa quan hệ thống trị đối với XH. Vì vậy, pháp luật được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận. Nó điều chỉnh các quan hệ XH theo mục tiêu và định hướng cụ thể của nhà nước.
Hiểu rõ về pháp luật là điều kiện tiên quyết để học tập và nghiên cứu bộ môn LLNN&PL.
Đặc điểm
Pháp luật có những đặc trưng sau:
- Pháp luật mang tính quyền lực nhà nước bởi vì: pháp luật được hình thành bằng con đường nhà nước, các quy định của nhà nước có thể do pháp luật đặt ra. (vd:các quy định về tổ chức BMNN, các nguyên tắc pháp luật,…) song cũng có thể do nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự khác trong XH như PTTQ, các quy tắc đạo đức, các tín điều tôn giáo. pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục, động viên, khen thưởng, tổ chức thực hiện cho đến áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Đây là đặc trưng riêng của pháp luật.
- Pháp luật có tính quy phạm phổ biến:
- Các quy định của pháp luật là những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong XH, để bất kì ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do pháp luật dự liệu thì đều xử sự theo những cách thức mà nó đã nêu ra.
- Căn cứ vào các quy định của pháp luật, các tổ chức và cá nhân trong XH sẽ biết mình được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể đó.
- Pháp luật còn là tiêu chuẩn để giới hạn và đánh giá hành vi của con người. Căn cứ vào pháp luật để có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là trái pháp luật. Tính quy phạm là dấu hiệu chung của tất cả các quy phạm XH, riêng pháp luật hì có tính quy phạm phổ biến, vì nó có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với mọi tổ chức và cá nhân trong XH.
- Pháp luật có tính hệ thống: Bản thân pháp luật là 1 hệ thống các quy tắc xử sự chung, các nguyên tắc, các định hướng,… để điều chỉnh nhiều loại quan hệ XH phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như: dân sự, kinh tế, lao động,… Song các quy định của pháp luật không tồn tại một cách biệt lập mà giữa chúng có mối quan hệ nội tại và thống nhất với nhau đẻ tạo nên một chỉnh thể là HTPL. Đây là một trong những đặc điểm làm cho pháp luật khác với PTTQ, đạo đức.
- Pháp luật có tính xác định về hình thức: Tức là thường được thể hiện trong những hình thức nhất định, có thể là tập quán, tiền lệ quán hay văn bản quy phạm pháp luật. Trong các Văn bản quy phạm pháp luật, quy định của pháp luật được thể hiện thành văn nên thường ràng buộc, cụ thể, đảm bảo có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trong một phạm vi rộng.
- Pháp luật có tính ý chí: pháp luật luôn thể hiện ý chí của con người mà cụ thể là ý chí của NN, của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền và của toàm XH.