Từ điển Triết học định nghĩa: tư duy “là hình thức cao nhất của sự phản ánh tích cực hiện thực khách quan – quá trình trong đó con người so sánh các tài liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau, phân tích chúng, suy xét, luận chứng để từ các tài liệu hoặc các ý nghĩ đó rút ra các ý nghĩ khác với tri thức mới. Tư duy diễn ra dưới các hình thức khái niệm, phán đoán, suy lý, giả thuyết, lý luận”. Tư duy là hoạt động nhận thức con người trước thế giới. Trong mọi hành vi sống đều đòi hỏi con người phải không ngừng suy nghĩ, tư duy (“Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” – R. Descartes). Tư duy – đó là quá trình nhận thức vấn đề và ra quyết định để giải quyết vấn đề. Tư duy cũng là hoạt động mà qua đó, và nhờ đó mà con người tự khám phá, tìm kiếm và phát hiện cái mới để tái tạo lại những tri thức của xã hội cho bản thân mình. Tư duy mở đường cho sự phát triển của con người. Chỉ khi kiểm soát được tư duy, con người mới có thể kiểm soát và điều khiển được các hoạt động của mình.
+ Xét từ phương diện kiểu loại, để đáp ứng nhu cầu nhận thức về những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, người ta chia tư duy của con người thành ba loại với những đặc trưng cơ bản khác nhau:
– Tư duy hành động – trực quan: là kiểu tư duy trực tiếp, cảm tính, được dùng trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn hàng ngày.– Tư duy hình tượng – cảm tính: là kiểu tư duy vừa cụ thể – cảm tính vừa khái quát, là loại tư duy chủ yếu dành cho lĩnh vực hoạt động sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật.– Tư duy khái niệm – logic: là kiểu tư duy trừu tượng, dành cho việc nhận thức các qui luật, tiếp cận chân lý khách quan về đối tượng.Mỗi kiểu loại tư duy trên đây nhằm đáp ứng những nhu cầu nhận thức về những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.
+ Xét từ phương thức tiếp cận đối tượng nhận thức, người ta chia ra hai loại: tư duy kinh nghiệm và tư duy khoa học. Cả tư duy kinh nghiệm và tư duy khoa học đều nhằm mục đích tiếp cận qui luật khái quát về đối tượng, tuy nhiên, hai loại tư duy này có nhiều điểm khác nhau:
|
Tư duy kinh nghiệm
|
Tư duy khoa học
|
|
– Khái quát hoá những dấu hiệu phổ quát, ổn định của sự vật, hiện tượng được biểu hiện chủ yếu qua các dấu hiệu bề ngoài, từ kết quả của sự cảm nhận trực tiếp.
|
– Khái quát hóa, trừu tượng hóa về bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng thông qua sự tiếp cận, khám phá đối tượng từ bản chất bên trong.
|
|
– Chỉ đạt đến khả năng nhận diện được sự khác biệt hoặc mâu thuẫn giữa các tính chất của sự vật, hiện tượng khi quan sát trực tiếp các đối tượng.
|
– Lý giải bản chất của đối tượng, sự khác biệt cũng như mối quan hệ giữa nó với các đối tượng khác.
|
|
– Tri thức chỉ dừng ở mức độ mô tả thuần túy sự tồn tại của sự vật hiện tượng.
|
– Tri thức luôn vươn đến mức độ khái quát các qui luật hình thành và chiều hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
|
+ Xét từ tiêu chí chất lượng của tư duy: tư duy tích cực và tư duy thụ động.
|
Tư duy tích cực
|
Tư duy thụ động
|
|
– Không bằng lòng với sự nhận thức hời hợt mà phải có khát vọng tìm tòi, khám phá đến tận cùng thực chất của vấn đề, cố gắng phát hiện mâu thuẫn của vấn đề và tìm cách giải quyết mâu thuẫn chứ không dễ dàng thoả hiệp.
– Không dễ dàng đồng ý ngay với ý kiến của người khác, mặc dù lập luận đó nghe có vẻ hợp lý.
|
– Thường dễ bằng lòng với thực tại, không có khát vọng tìm tòi, khám phá vì nghĩ rằng những điều mình nghĩ thì những người khác cũng đã nghĩ cả rồi, mình khó có thể (không thể) tìm kiếm được ý tưởng mới.
– Dễ dàng thỏa hiệp với ý kiến người khác.
|
|
– Luôn nhìn sự việc bằng con mắt biện chứng và thường trực suy nghĩ rằng: nhận thức của con người luôn bị giới hạn trước sự biến động không ngừng của đối tượng, bởi vậy luôn biết vượt qua định kiến để tìm tòi những ý tưởng mới nhằm giải quyết vấn đề có hiệu quả hơn, không “an phận” với những cách nghĩ đã và đang phổ biến.
|
– Thường nhìn sự việc bằng con mắt tĩnh tại và nghĩ rằng: mọi vấn đề chỉ có một giải pháp, bởi vậy thường “an phận” với những cách nghĩ đã và đang phổ biến.
|
|
– Luôn ý thức rằng, một vấn đề có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau nên người có tư duy tích cực là người không giới hạn nhận thức của mình trong một hệ thống tri thức nhất định mà luôn nỗ lực vận dụng nhiều hệ thống tri thức để giải quyết vấn đề.
|
– Thường suy nghĩ rằng chỉ có một cách duy nhất để giải quyết vấn đề, rằng “không thể làm khác được”, hoặc “quá mạo hiểm khi làm điều đó”.
|
|
– Giúp cá nhân tự khám phá những tiềm năng vốn có trong bản thân mình để biến thành nội lực giúp vượt lên chính mình, tự khẳng định mình, góp phần hình thành nhân cách tự chủ, độc lập và sáng tạo.
|
– Làm triệt tiêu mọi ước muốn, dập tắt mọi tiềm năng, không quyết đoán, hoàn toàn lệ thuộc vào sự đánh giá của người khác, đánh mất phẩm chất đích thực của mình, thường có tâm lý mặc cảm, tự ti, thất vọng, chán đời, mất lòng tin…
|
|
– Là nguồn năng lượng khai sáng trí tuệ, nhân cách và cảm xúc (hành động thay vì phản ứng).
|
– Là căn nguyên của những lời nói và hành động tiêu cực (phản ứng thay vì hành động).
|
http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default