– Lập luận đời thường trước hết phải dựa trên nền tảng là những khuôn mẫu chung của lập luận logic hình thức, tức phải tuân thủ những nguyên tắc của phép suy luận (diễn dịch, qui nạp). Tuy nhiên, trên nền tảng của những nguyên tắc chung ấy, lập luận đời thường đã vận dụng vô cùng linh hoạt các nguyên tắc của logic hình thức vào trong thực tiễn đời sống văn hóa và ngôn ngữ của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng.
Sau đây là bảng so sánh sự khác nhau giữa lập luận logic hình thức và lập luận đời thường:
|
Tiêu chí so sánh
|
Lập luận logic hình thức
|
Lập luận đời thường
|
|
Về phương tiện
để lập luận
|
– Dựa trên các luận cứ khoa học (các chân lý khoa học đã được kiểm chứng: định lý, định luật, tư tưởng, …).
|
– Dựa trên những qui tắc logic ngôn ngữ và lý lẽ thực tiễn (tri thức, lý lẽ, phong tục, tập quán, nhân sinh quan của một dân tộc, một công đồng).
|
|
Về phương pháp lập luận
|
– Các qui tắc suy diễn logic hình thức chặt chẽ, theo khuôn mẫu cố định, thống kê được về mặt số lượng.
– Không thể dẫn nhiều luận cứ cho một lập luận.
|
– Không có khuôn mẫu, hình thức cố định mà được vận dụng linh hoạt, đa dạng, không thể thống kê được về mặt số lượng.
– Có thể dẫn ra nhiều luận cứ cho một kết luận.
|
|
Về quan hệ
|
– Quan hệ lập luận xảy ra giữa các mệnh đề.
– Giữa luận cứ và kết luận có quan hệ logic nên kết luận được suy ra một cách tất yếu từ luận cứ.
|
– Quan hệ lập luận diễn ra giữa các hành động ở lời, tức tự thân nội dung miêu tả đã có giá trị lập luận (định hướng tới kết luận).
– Giá trị của lập luận không được suy ra một cách tất yếu từ các luận cứ, mà phụ thuộc vào ngữ cảnh của lời và định hướng của người nói.
|
|
Về tính phổ quát
|
– Tất yếu đúng ở mọi nơi, mọi lúc (vì là chân lý khoa học nên có tính khách quan, phổ quát và tất yếu).
|
– Không tất yếu đúng ở mọi nơi, mọi lúc (tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm, văn hóa của từng cộng đồng, từng ngữ cảnh giao tiếp).
|
|
Về tính giá trị
|
– Chặt chẽ, không có phản lập luận.
– Chỉ có hai khả năng: đúng / sai
|
– Không chặt chẽ, có phản lập luận.
– Có các khả năng khác.
|
|
Về tính mục đích
|
– Đánh giá, khẳng định chân lý đúng / sai, có / không.
– Hướng đến giá trị chân lý.
|
– Thuyết phục, thay đổi, củng cố lòng tin, làm người khác nghe theo mình.
– Hướng đến tính hiệu quả.
|
– Trong cuộc sống, chúng ta không chỉ sử dụng phương thức lập luận logic hình thức mà còn rất thường xuyên dùng đến phương thức lập luận đời thường. Cả hai phương thức lập luận này thường được vận dụng bổ sung, hỗ trợ nhau để đem lại hiệu quả cao hơn khi chúng ta cần phải chứng minh, khẳng định, bác bỏ hay thuyết phục…
– Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng, quan hệ giữa lập luận theo logic hình thức và lập luận theo logic đời thường (logic ngôn ngữ tự nhiên) là mối quan hệ đồng đẳng, mà đây là mối quan hệ chung / riêng. Nghĩa là, lập luận theo logic đời thường cũng phải dựa trên nền tảng là những nguyên tắc chung nhất của phép suy luận trong logic hình thức.
– Việc phân biệt hai loại lập luận này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng nó một cách phù hợp và linh hoạt để đem lại hiệu quả cao trong các hoạt động ngôn ngữ nói và viết.