LỜI MỞ ĐẦU
Tôn giáo đã xuất hiện từ rất lâu và song hành suốt nhiều thế kỷ cùng với cuộc sống của loài người. Bênh cạnh đạo đức, chính trị, thẩm mỹ… tôn giáo cũng góp phần hình thành lên một hệ thống chuẩn mực xã hội – những phương tiện xã hội để điều chỉnh hành vi của chính chúng ta. Từ trước tới nay, chuẩn mực tôn giáo và mối quan hệ của nó với pháp luật vẫn luôn là một vấn đề nóng bỏng của toàn xã hội và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Do vậy, em xin chọn đề tài “ Phân tích nội dung chuẩn mực tôn giáo? Tác dụng của việc nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo đối với lĩnh vực pháp luật?” để tìm hiểu. Bài làm của em còn nhiều thiếu sót nên em rất mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I – Lý luận chung về chuẩn mực xã hội
1/Khái niệm chuẩn mực xã hội.
Trong cuộc sống, con người luôn thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích nhất định. Dù được tự do thực hiện các hoạt động đó theo ý muốn cá nhân nhưng con người vẫn phải đặt mình trong các nhóm xã hội hoặc xã hội nói chung, tuân theo những quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của những người xung quanh để định hướng hành động của mình.
Vô hình chung, chính con người, với ý chí chung của nhóm xã hội, giai cấp, tầng lớp xã hội…đã xác lập một hệ thống các quy tắc, đòi hỏi đối với hành vi của một cá nhân hay nhóm xã hội.Từ đó, hình thành nên hệ thống các chuẩn mực xã hội.
Chuẩn mực xã hội là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, trong đó xác định ít nhiều sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của mỗi người, nhằm củng cố , đảm bảo sự ổn định xã hội, giữ gìn trật tự, kỷ cương,an toàn xã hội.[1]
2/Các hình thức biểu hiện của chuẩn mực xã hội.
Chuẩn mực xã hội có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau tùy vào các tiêu chí phân loại khác nhau. Thông thường , chúng được phân loại theo hai tiêu chí sau:
a/Theo mức độ phổ biến, chuẩn mực xã hội được chia thành:
– Chuẩn mực xã hội công khai, tức là những chuẩn mực xã hội phổ biến trong xã hội, được đa số biết đến, thừa nhận và tuân theo.
– Chuẩn mực xã hội ngầm ẩn, tức là những chuẩn mực xã hội chỉ được công bố và áp dụng trong phạm vi nhất định, thường chỉ mang tính nội bộ trong một nhóm xã hội xác định nhằm điều chỉnh hành vi của số ít người. Và chỉ có số ít người đó có trách nhiệm, nghĩa vụ phải tuân theo chuẩn mực xã hội ngầm ẩn dành cho họ.
b/Theo đặc điểm được ghi chép hay không được ghi chép lại, chuẩn mực xã hội được chia thành:
– Chuẩn mực xã hội thành văn, tức là các nguyên tắc, quy định của chúng được ghi chép lại dưới dạng văn bản. Tiêu biểu nhất của chuẩn mực thành văn là chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực chính trị,chuẩn mực tôn giáo.
– Chuẩn mực xã hội bất thành văn là những loại chuẩn mực xã hội mà các quy tắc,yêu cầu của chúng không được ghi chép lại trong văn bản mà chúng chủ yếu tồn tại, phát triển thông qua con đường truyền miệng. Và cứ như thế lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
II- Chuẩn mực tôn giáo và tác dụng của việc nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo đối với lĩnh vực pháp luật
1. Khái niệm và nội dung chuẩn mực tôn giáo
Tôn giáo là một hệ thống niềm tin về vị trí của cá nhân con người trong thế giới, tạo ra một trật tự cho thế giới đó và tìm kiếm một lý do cho sự tồn tại trong đó. Nó đã ra đời, tồn tại từ nhiều thế kỷ trước đây, có ảnh hưởng lớn trong các xã hội, ảnh hưởng tới cả thiết chế không tôn giáo, như gia đình, văn hóa,đâọ đức, nhà nước… Theo ý kiến của E. Durkhiem, tôn giáo là “một hệ thống các niềm tin và thực hành liên quan đến các vật thiêng liêng, có nghĩa là những vật được đặt riêng ra và bị cấm đoán – chúng kết hợp tất cả những ai là tín đồ vào một cộng đồng tinh thần gọi là giáo hội”. Một tôn giáo được thừa nhân là dòng tôn giáo thực sự khi nó có giáo chủ, giáo hội, giáo dân và giáo kỹ.
– Giáo chủ trong tôn giáo được coi là một lực lượng siêu nhiên, có quyền năng, sức mạnh siêu phàm, đc coi là “thần thánh hóa”, tôn thờ, trở thành “linh thiêng” và tác động trở lại với niềm tin của con người. Ph. Ăngghen viết: “Tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”. Giáo chủ và người đúng đầu giáo hội là khác nhau.
Ví dụ: Giáo chủ trong Thiên chúa giáo là Chúa Jesus, trong Phật giáo là Phật Tổ Thích ca mâu ni, trong Nho giáo là Khổng Tử, trong Hồi giáo là Thánh Allad và sứ giả Mohammed. ..
– Giáo hội là tổ chức của một dòng tôn giáo được hình thành, thiết lập nhằm liên kết, tập hợp những người có cùng niềm tin vào giáo chủ, giáo lý nhất định thành một cộng đồng tinh thần, có chức năng điều hành, trị sự các công việc thuộc nghi lễ, sinh hoạt của tôn giáo đó. Người đứng đầu giáo hội là Đức Giáo hoàng.
Ví dụ: Giáo hội Công giáo (cụ thể hơn gọi là Giáo hội Công giáo Rôma hay Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã) là một giáo hội thuộc Kitô giáo. Giáo hội Công giáo hiện là nhánh Kitô giáo lớn nhất, với trên một tỉ thành viên, chiếm hơn một nửa số Kitô hữu và 1/6 dân số thế giới[2]
– Giáo dân là cộng đồng những người có cùng niềm tin vào giáo chủ, giáo lý, là thành viên của một giáo hội ton giáo nhất định, tham gia vòa nghi lễ, sinh hoạt tôn giáo của tôn giáo đó. Nơi diễn ra các nghi lễ, sinh hoạt tôn giáo là các thiết chế tôn giáo ( hiểu theo nghĩa cơ cấu bên ngoài, tức hình thức vật chất của thiết chế ) như nhà thờ, chùa, đền thánh… Tùy theo ngôn ngữ của mỗi dân tộc, giáo dân của mỗi dòng giáo được gọi theo những tên khác nhau
Ví dụ: giáo dân của Phật giáo là tăng ni, phật tử; của Thiên chúa giáo là con chiên…
– Giáo lý là tập hợp các tín điều, giới luật, lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo… được xác định trong các bộ kinh của các tôn giáo nhằm củng cố, gia tăng đức tin, điều tiết các hoạt động tôn giáo, điều chỉnh hành vi, hoạt động của giáo chức tôn giáo và các tầng lớp giáo dân; được họ thừa nhận, tán thành và tuân theo một cách tự nguyện. Giáo lý chính là nguồn lực tinh thần, là cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tôn giáo khác nhau trên thế giới; nó cũng là nền tảng của chuẩn mực tôn giáo.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu chuẩn mực tôn giáo là hệ thống các quy tắc, yêu cầu được xác lập trên những tín điều, giáo lý tôn giáo, những quy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo cùng với các thiết chế tôn giáo ( nhà thờ, đền, chùa, thánh đường) được ghi chép và thể hiện trong các bộ sách kinh điển của các dòng tôn giáo khác nhau.
2. Các đặc điểm của chuẩn mực tôn giáo
– Chuẩn mực tôn giáo là loại chuẩn mực xã hội thành văn. Tính chất thành văn của chuẩn mực tôn giáo thể hiện ở các giáo điều, giáo lý, những lời răn dạy được ghi chép trong các bộ kinh khác nhau ( Kinh Thánh của Thiên chúa giáo, Kinh Phật của Phật giáo, Kinh Coran của Hồi giáo…)
Ví dụ: Giáo lý đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dụng tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên tu viễn ký (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời)[3]. Điều này được ghi trong những bài sấm kệ của họ
– Chuẩn mực tôn giáo được hình thành xuất phát từ niềm tin thiêng liêng, sâu sắc của con người vào sức mạnh thần bí của các lực lượng siêu nhiên như Thượng đế, Đức Phật, Chúa… Chừng nào trong tự nhiên, trong xã hội cong tồn tại những sự việc, hiện tượng có tính chất thần kỳ, bí ẩn mà khoa học hiện đại chưa thể giải tích, làm sang tỏ nguồn gốc, nguyên nhân hay bản chất của chúng, thì khi đó tôn giáo và chuẩn mực xã hội vẫn tồn tại, vẫn có tác động nhất định tới đời sống tâm linh của con người. Theo quan điểm macxít, cần tìm hiểu nguồn gốc của tôn giáo và chuẩn mực tôn giáo tong tại trong xã hội, trong quan hệ giữa con người với tự nhiên và trong quan hệ xã hội. Chẳng hạn, để thực hiện quá trình lao động, con người phải sử dụng các công cụ, phương tiện lao động do mình làm ra để tác động vào giới tự nhiên. Ở thời nguyên thủy, công cụ còn thô sơ thì con người tỏ ra yếu đuối trước giới tự nhiên. Chính sự bất lực này là nguồn gốc cho sự ra đời của tôn giáo. Đến xã hội áp bức có giai cấp, các quy luật xã hội biểu hiện như là những lực lượng mù quáng, trói buộc con người và thương xuyên quyết định đến số phận của họ. Những lực lương xa hội được thần thánh hóa và mang dáng vẻ của các lực lương siêu nhiên. Đó cũng là một trong những nguồn gốc xã hội của tôn giáo
– Các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực tôn giáo được đảm bảo tôn trọng và được hiện thực hóa trong hành vi của con người chủ yếu nhờ vào niềm tin tâm linh và cơ chế tâm lý. Thứ nhất, niềm tin tâm linh là yếu tố thường trực trong suy nghĩ của con người, trở thành động cơ nội tâm thường trực trong ý thức, điều chỉnh hành vi của con người trong việc tuân theo chuẩn mực tôn giáo một cách tự nguyện. Không có niềm tin tâm linh thì không có một chuẩn mực tôn giáo nào được thực hiện. Thứ hai, tâm lý sợ hãi trước sức mạnh siêu phàm của các lực lượng siêu nhiên khiến người ta phục tùng vô điều kiện chuẩn mực tôn giáo. Theo như Lênin là “sự sợ hãi đã tạo ra thần linh”. Chính vì sợ phải xuống địa ngục thay vì lên thiên đàng, sợ bị quả báo nên con người không dám phạm vào những điều cấm, điều răn dạy của chuẩn mực tôn giáo, Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, dù không mang tính cưỡng bức nhưng chuẩn mực tôn giáo vẫn được con người thực hiện tự giác, vô điều kiện.
– Chẩn mực tôn giáo các tác động cả tích cực và tiêu cực tới hành vi, nhận thức của con người.
+ Tích cực: Chuẩn mực tôn giáo đề cao tính thiện, phê phán tính ác, định hướng cho hành vi xã hội của con người. VD:
· Chuẩn mực của Thiên chúa giáo mang tính tính nhân văn sâu sắc, đề cao tình yêu thương của con người, tôn trọng mọi giá trị của tín đồ, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn…
· Phật giáo răn dạy con người sống chay tịnh, từ bi hỉ xả, không sát sinh, …
· Hồi giáo khuyên con người tuân giữ vị trí của mình, bố thí cho kẻ nghèo hèn…
+ Tiêu cực: Làm phát sinh nạn cuồng tín , tệ nạn phân biệt chủng tộc, ru ngủ, làm tê liệt ý chí của con người trước những bất công trần thế. Trong lịch sử, khía cạnh này được giai cấp thống trị lợi dụng triệt để như một công cụ nhằm áp bức tin thần, đồng thời giúp củng cố địa vị thống trị của họ. VD:
· Chủ nghĩa tôn sùng bạo lực và chủ nghĩa khủng bố ở khu vực Trung Đông phát sinh chủ yếu do tinh thần cuồng tín tôn giáo
· Gần đây, tình trạng bạo loạn tôn giáo gần đây ở Myanmar bắt đầu hôm 20/3 khi những người theo đạo Phật đã gây rối với những người Hồi giáo thiểu số ở thành phố miền Trung Meikhtila làm ít nhất 40 người thiệt mạng và khoảng 12.000 người phải sơ tán.[4]
3. Tác dụng của việc nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo đối với lĩnh vực pháp luật
a) Mối quan hệ giữa tôn giáo và pháp luật
Lý luận về quản lý nhà nước và thực tiễn tình hình tôn giáo trên thế giới cho thấy: Quản lý nhà nước với hoạt động tôn giáo là một yêu cầu khách quan của mọi quốc gia.
Hoạt động tôn giáo không chỉ thuần túy nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội. Ví dụ như việc xây dựng nơi thờ tự, không chỉ đơn thuần là việc củng cố, phát triển cơ sở vật chất của giáo hội, mà còn liên quan đến những quy định của Nhà nước về đất đai, quy hoạch, xây dựng; hoạt động in ấn kinh bổn, sản xuất đồ dùng việc đạo liên quan đến những quy định về văn hóa, xuất bản; hoạt động quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài liên quan đến chính sách, pháp luật trên lĩnh vực đối ngoại, xuất nhập cảnh của Nhà nước… Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể đứng ngoài pháp luật của quốc gia đó.
b) Tác dụng của việc nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo đối với lĩnh vực pháp luật
– Nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo giúp mọi người hiểu đúng về hoạt động tôn giáo các chuẩn mực của nó, từ đó ứng dụng nó trong việc thực hiện pháp luật. Nếu chuẩn mực tôn giáo phù hợp với thuần phong, mỹ tục với các giá trị pháp luật hiện hành thì sẽ có tác dụng tích cực với thực hiện pháp luật của cá nhân. Còn ngược lại, nếu chuẩn mực tôn giáo bị hiểu và vận dụng một cách cưch đoan thì cả chính trị và pháp luật sẽ bị đồng nhất với chuẩn mực tôn giáo.
Ví dụ: Hiện nay, một số người đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện những hành vi trái pháp luật như hành nghề mê tín dị đoan, thương mại hóa loại hoạt động này; các hoạt động truyền giáo của một số tổ chức truyền giáo từ bên ngoài vào, các phần tử thù địch ở trong nước và ngoài nước lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động tín đồ tiến hành các hoạt động trái pháp luật, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực tới trật tự, an toàn xã hội… đều là do họ hiểu không đúng về tôn giáo. Một bbọ phận còn cực đoan cho rằng tôn giáo phải độc lập và không chịu sự quản lý của Nhà nước. Họ tâng bốc, ca ngợi tự do tôn giáo ở các nước tư bản: “Tôn giáo được tự do hoạt động, không chịu sự quản lý của Nhà nước”. Đây không chỉ là luận điệu cố tình xuyên tạc công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở các nước trên thế giới, mà còn kích động, nhằm làm cho dư luận ngộ nhận rằng, việc Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là đi ngược lại sự tiến bộ xã hội, tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc, nhà tu hành và quần chúng tín đồ.
– Nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo và các tín ngưỡng cho phép nắm bắt được nguồn gốc xuất hiện, nguyên nhân tồn tại và tác động của tôn giáo, tín ngưỡng tới đời sống tâm linh của con người. Đây là cơ sở nhận thức và lý luận về thực tiễn để Đảng và nhà nước ta xác định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Ví dụ: Nếu bạn là tín đồ đạo Thiên chúa, bạn không có bổn phận phải tuân thủ các điều răn của đạo Phật (và ngược lại), hành vi đó của bạn không bị coi là hành vi vi phạm.) Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Trước tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, với chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết đồng bào tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới quê hương, đất nước. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được in ấn kinh sách, sửa sang, làm mới cơ sở thờ tự, tổ chức sinh hoạt bình thường. Hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện của các tôn giáo ngày càng được mở rộng. Các tổ chức giáo hội từng bước được củng cố; quan hệ của tôn giáo với Nhà nước ngày càng được hoàn thiện. Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo những năm qua được nâng lên, đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng trước những thành tựu đổi mới của đất nước và chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, hành đạo theo pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện, xây dựng đời sống văn hóa,… góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng xây dựng được một hệ thống pháp luật – công cụ pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, giúp các cơ quan nhà nước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; đã cụ thể hóa một cách hữu hiệu, tích cực đường lối chủ trương của Đảng đối với công tác tôn giáo trong thời kỳ mới, đồng thời toát lên tinh thần dân chủ đối với hoạt động tôn giáo, đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời đảm bảo được tính tương thích của luật pháp quốc tế điều chỉnh về quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết hoặc gia nhập. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với hành vi lợi dụng tôn giáo, để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.
– Giúp Nhà nước ngăn chặnvà trừng trị được những hành vi đội lốt tôn giáo để thực hiện các âm mưu chính trị đen tối, gây rối bạo loạn, hoạt động nhằm lật đỏ chính quyền nhân dân; trừng trị nghiêm khắc các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan, gây hậu quả nghiêm trọng. Điều 8- Pháp lệnh của UBTVQH số 21/2004/PL-UBTVQH11 ban hành ngày 18/6/2004 về tín ngưỡng, tôn giáo qquy định rõ: “Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.”
LỜI KẾT
Nói tóm lại, Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một tồn tại xã hội đặc biệt. Tôn giáo và các chuẩn mực tôn giáo vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của con người. Bởi vậy, trong hệ thống pháp luật của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng đều đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, dân chủ hóa đời sống xã hội, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước xây dựng hoàn thiện chính sách đổi mới về công tác tôn giáo theo quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Hi vọng rằng, thông qua việc nghiên cứu về chuẩn mực tôn giáo, nhiều vấn đề về chính sách, pháp luật sẽ được bổ sung, hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho công tác tôn giáo cũng như phù hợp với tình hình thực tế và tạo điều kiện cho các tôn giáo tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự ổn định và phát triển đất nước trong điều kiện mới.
DANH MỤC TÀI LIỆU TAM KHẢO
1. TS. Ngọ Văn Nhân, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb Tư pháp, 2010
2. PGS, TS. Nguyễn Trọng Tuấn, Vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần của Đại hội XI, http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=306&leader_topic=867&id=BT851240944
3. Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội XI của Đảng, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1556/Thuc_hien_chinh_sach_ton_giao_theo_tinh_than_nghi_quyet_Dai_hoi
4. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, http://www.baomoi.com/Tu-do-tin-nguong-ton-giao-trong-khuon-kho-phap-luat/122/4272486.epi
[1] TS. Ngọ Văn Nhân, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb Tư pháp, 2010, trang 170
[2] Giáo hội công giáo Rôma
http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_h%E1%BB%99i_C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_R%C3%B4ma
[3] Phật giáo hòa hảo,
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_Gi%C3%A1o_H%C3%B2a_H%E1%BA%A3o
[4] http://www.vietnamplus.vn/Home/Myanmar-khong-tha-nhung-ke-cuc-doan-cuong-tin/20133/189924.vnplus
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………2
NỘI DUNG……………………………………………………………………………………….3
I – Lý luận chung về chuẩn mực xã hội……………………………………………… 3
1.Khái niệm chuẩn mực xã hội……………………………………………………………… 3
2.Các hình thức biểu hiện của chuẩn mực xã hội………………………………………. 3
II- Chuẩn mực tôn giáo và tác dụng của việc nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo đối với lĩnh vực pháp luật……………………………………………………………..4
1. Khái niệm và nội dung chuẩn mực tôn giáo…………………………………………. 4
2. Các đặc điểm của chuẩn mực tôn giáo………………………………………………… 6
3. Tác dụng của việc nghiên cứu chuẩn mực tôn giáo đối với lĩnh vực pháp luật………………………………………………………………………………………………….. 8
LỜI KẾT…………………………………………………………………………………………….. 12
DANH MỤC TÀI LIỆU TAM KHẢO…………………………………………….. 13