Trước khi tham khảo bài viết bên dưới bạn nên xem thêm Phiếu điều tra (Tìm hiểu quan điểm của sinh viên k38 Đại học Luật Hà Nội về vấn đề hôn nhân đồng giới ở nước ta hiện nay) để hiểu rõ hơn.
I.PHẦN MỞ ĐẦU
-
Lý do lựa chọn đề tài
Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật không thừa nhận cũng như không cho phép có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lý do giới tính hay xu hướng tình dục của cá nhân. Tuy nhiên, với sự ra đời của Luật hôn nhân gia đình năm 2000, pháp luật nước ta chỉ thừa nhận mối quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ mà không thừa nhận quyền kết hôn của người đồng tính (hôn nhân đồng giới). Song thực trạng mối quan hệ đồng giới ở nước ta cho thấy, kết hôn là một nhu cầu có thật và hoàn toàn chính đáng của những người đồng tính. Mặc dù không được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế nhiều người đồng tính vẫn đang chung sống với nhau như một gia đình, từ đó phát sinh các quan hệ về nhân thân, tài sản nhưng chưa có cơ chế pháp lý để điều chỉnh. Chính vì vậy, nhóm 1 xin lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu quan điểm của sinh viên k38 Đại học Luật Hà Nội về vấn đề hôn nhân đồng giới ở nước ta hiện nay”

-
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Hiện nay, dư luận xã hội đang nghĩ gì về vấn đề hôn nhân đồng giới?. Dư luận phản ánh như thế nào về nó cũng như cảm nhận của các bạn trẻ nói chung và sinh viên khóa 38 của trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng về vấn đề này.Chính vì lẽ đó, trong một phạm vi nhất định, đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm thăm dò, cung cấp những cái nhìn toàn diện nhất về quan niệm về hôn nhân đồng giới của sinh viên K38 trường Đại học Luật Hà Nội. Cùng với đó là các ý kiến phân tích giúp chúng ta thấy được các mặt tồn tại của vấn đề, để từ đó xem xét các nguyên nhân, thực trạng cũng như nhằm đưa ra những giải pháp.
Để đạt được mục đích của đề tài, chúng em đề ra ba nhiệm vụ chính cần giải quyết như sau:
– Thứ nhất là nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề hôn nhân đồng giới
– Thứ hai là xây dựng phiếu điều tra xã hội học và tiến hành điều tra xã hội học để nắm vững thực tiễn.
– Cuối cùng là xử lý số liệu, phân tích thông tin và đánh giá tổng hợp các ý kiến đã thăm dò.
Tài liệu Luật học tham khảo:
Nguồn gốc nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin
Diễn văn của luật sư George Graham Vest biện họ cho loài chó
-
Phương pháp nghiên cứu
Trong cuộc điều tra về quan điểm của sinh viên K38 Trường đại học Luật Hà Nội về vấn đề hôn nhân đồng giới ở nước ta hiện nay, chúng tôi đã sử dụng phương pháp anket là chủ yếu và trong quá trình điều tra các điều tra viên còn kết hợp với phương pháp phỏng vấn để thấy rõ hơn về thực trạng này trong sinh viên.
Phương pháp anket là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông qua bảng câu hỏi (phiếu điều tra) . Anket là một phương pháp nghiên cứu định lượng, nó chủ yếu đi vào thu thập các thông tin về hành vi, sự việc, xác định các quy mô, kích thước của nhóm chỉ báo, tương quan về số lượng giữa các biến số của các hiện tượng nhất định. Phương pháp này có ưu điểm là cho phép triển khai, nghiên cứu trên quy mô rộng, thu thập được ý kiến của nhiều người cùng một lúc, do đó thông tin có độ tin cậy cao hơn. Chính vì thế mà khi tìm hiểu về một hiện tượng thực tế đang diễn ra và được dư luận hết sức quan tâm, chúng tôi lựa chọn phương pháp này để có được những thông tin chính xác nhất về “ hôn nhân đồng giới ” – một vấn đề hết sức cần được quan tâm trong xã hội.
– Đối tượng điều tra: Sinh viên K38 trường Đại học Luật Hà Nội
-Mẫu điều tra: phiếu thăm dò ý kiến
– Dung lượng mẫu: Trong quá trình điều tra, chúng tôi phát ra 100 phiếu thăm dò ý kiến và thu về 100 phiếu.
II.PHẦN NỘI DUNG
-
Một số vấn đề lý luận liên quan đề nội dung đề tài:
1.1 Khái niệm về người đồng tính và hôn nhân đồng giới
Quan niệm về người đồng tính rất đa dạng và điều này phản ánh sự đa dạng về cách hiểu thế nào là người đồng tính của xã hội. Sự đa dạng này xuất phát từ cách nhìn nhận các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống xã hội – từ góc độ con người sinh học, đặc điểm cấu tạo cơ thể, thể hiện giới bên ngoài… Cho dù quan niệm về người đồng giới được hiểu trên khía cạnh nào thì hầu hết cũng dựa trên bản chất là hai người cùng giới yêu nhau và có ham muốn quan hệ tình dục với nhau. Như vậy, người đồng tính là người có sự hấp dẫn về cảm xúc hoặc tình cảm hoặc tình dục với người cùng giới. Người đồng tính nam thường gọi là “gay” và người đồng tính nữ thường được gọi là “les/lesbian”.
Người chuyển giới và người đồng tính thường bị đồng nhất một cách sai lầm. Người chuyển giới liên quan tới việc người đó nhận dạng mình là nam hay nữ, trong khi người đồng tính liên quan tới việc người đó yêu người cùng giới hay khác giới. Chuyển giới là một khái niệm liên quan đến bản dạng giới, trong khi đồng tính, song tính hay dị tính là những khái niệm liên quan đến xu hướng tính dục. Vì vậy người chuyển giới và người đồng tính khác nhau.
Từ đó, có thể hiểu ngắn gọn, hôn nhân đồng giới là cuộc hôn nhân của hai người có cùng giới tính sinh học. Hiện có 35 quốc gia và 40 vùng lãnh thổ thuộc một số quốc gia hợp pháp hóa quan hệ cùng giới. Trong đó:
– Công nhận hôn nhân cùng giới có 15 quốc gia và 23 vùng lãnh thổ;
– Công nhận kết đôi có đăng ký có 17 quốc gia và 17 vùng lãnh thổ;
– Công nhận chung sống không đăng ký có 3 quốc gia.
Bên cạnh đó, một số quốc gia đang trong quá trình xem xét hợp thức hóa quan hệ cùng giới hoặc nâng cấp từ “kết đôi có đăng ký” hoặc “kết hợp dân sự” lên “kết hôn” với đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm
1.2. Các khía cạnh pháp lý của vấn đề nghiên cứu
Theo quy định của pháp luật, hôn nhân là hình thức kết đôi có đăng ký với Nhà nước, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn với đầy đủ tất cả những quyền, nghĩa vụ.
Tại những quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới, pháp luật đã định nghĩa lại khái niệm hôn nhân, bãi bỏ điều kiện về giới tính của hai bên phối ngẫu (vợ/chồng) dẫn đến việc ban hành một luật hôn nhân thống nhất không phân biệt giới tính. Ví dụ như Thụy Điển ghi trong luật hôn nhân của mình là “luật này áp dụng cho tất cả mọi người.” Tại những quốc gia hợp pháp hóa kết đôi giữa hai người cùng giới, bên cạnh hôn nhân giữa hai người khác giới, trong hầu hết trường hợp, sự khác nhau chỉ nằm ở tên gọi. Luật pháp nhiều nơi quy định các quyền, nghĩa vụ dành cho kết đôi có đăng ký giữa hai người cùng giới là hoàn toàn giống với quyền, nghĩa vụ dành cho hôn nhân giữa hai người khác giới. Ví dụ, Bộ luật Gia đình của bang California (Hoa Kỳ) có một hình thức kết đôi dành riêng cho người đồng tính có tên gọi là “quan hệ gia đình có đăng ký.”
Tại Việt Nam, mặc dù không được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế nhiều người đồng tính đang chung sống với nhau như một gia đình. Ở đây khi nói đến hôn nhân đồng giới là nói đến mối quan hệ sống chung dựa trên tình yêu và tình dục, chứ không phải là sống chung như bạn bè. Nghiên cứu và khảo sát của một số cơ quan, tổ chức thời gian gần đây về thực trạng hôn nhân đồng giới ở nước ta xung quanh các vấn đề như: tỷ lệ những người đồng tính hiện đang có mối quan hệ sống chung với một người cùng giới; mức độ sống chung và chia sẻ của các mối quan hệ này; khó khăn gặp phải của mối quan hệ này và nhu cầu, mong muốn từ luật pháp liên quan đến thực trạng cuộc sống chung; bản chất mối quan hệ chung sống… đã phần nào phản ánh hiện tượng hôn nhân đồng giới ở Việt Nam cũng như chỉ ra nhu cầu nghiên cứu, cân nhắc sửa đổi các quy định pháp luật có liên quan cho phù hợp với thực tiễn xã hội.
-
Nhận thức của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội về vấn đề hôn nhân đồng giới
Trước khi đi sâu vào tìm hiểu quan điểm cá nhân của sinh viên về vấn đề hôn nhân đồng giới, nhóm đã tìm hiểu về trình độ nhận thức, cũng như quan tâm của sinh viên về vấn đề này thông qua các câu hỏi điều tra:
Bạn có quan tâm tới vấn đề hôn nhân đồng tính không?
|
Mã số |
Phương án trả lời |
Số lượng |
Tỉ lệ |
Cộng dồn |
|
1 |
Có, thường xuyên tìm hiểu, |
15 |
15 |
15 |
|
2 |
Bình thường, chỉ tìm |
66 |
66 |
81 |
|
3 |
Không, |
19 |
19 |
100 |
|
|
Tổng |
100 |
100 |
100 |
Qua kết quả điều tra cho thấy, chỉ có 15% sinh viên quan tâm đến vấn đề này ở mức độ chủ động (đây là mức tỉ lệ thấp nhất). Trong khi đó, có tới 66% sinh viên quan tâm ở mức độ thụ động (nghĩa là chỉ tìm hiểu khi có người cung cấp thông tin) và cũng có tỉ lệ không nhỏ số sinh viên không hề quan tâm đến vấn đề này (19%). Những con số này cho thấy, vấn đề hôn nhân đồng giới dường như là vấn đề không quá nóng đối với các bạn sinh viên.
Dù đối tượng điều tra của nhóm có quan tâm hay không quan tâm đến vấn đề hôn nhân đồng tính, thì cũng có gần như đa số cho rằng xã hội nước ta có thể không phân biệt, kì thị những người đồng tính (tỉ lệ rất cao 92%)
Tuy nhiên, có một số liệu khá đồng đều khi nhóm đưa ra câu hỏi: nếu trong gia đình bạn, bạn bè bạn có người là người đồng tính và muốn sống chung với người đồng giới như những cặp vợ chồng, bạn sẽ: có 46% sẵn sàng ủng hộ và lên tiếng bênh vực và cũng có tương đương 45% chỉ im lặng và lắng nghe theo quyết định của số đông, có một phần nhỏ là cực kì phản đối (9%). Từ khảo sát qua về nhận thức của sinh viên Luật với vấn đề hôn nhân đồng giới, có thể thấy rằng đây là một vấn đề cũng nhận được khá nhiều sự quan tâm của các bạn sinh viên K38, tuy nhiên sự quan tâm này cũng chưa được cao.
-
Thực trạng của vấn đề hôn nhân đồng giới
Theo bảng số liệu điều tra K38, chủ yếu sinh viên quan tâm và biết đến hôn nhân đồng giới qua phương tiện truyền thông (chiếm đa số 69%), kế đến là bạn bè (19%), chỉ một số ít là tự biết hoặc thông qua các hình thức khác. Qua đây, có thể nhận thấy, phương tiện truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh đời sống thực tế đến công chúng (đặc biệt là vấn đề nhạy cảm liên quan đến người đồng tính và vấn đề hôn nhân đồng giới)
Nhìn chung, qua kết quả thu thập được, có một nhận định chiếm gần như tuyệt đối ý kiến của các bạn sinh viên phản ánh về thực trạng hôn nhân đồng giới trên thế giới nói chung. Đó là ngày nay vấn đề này phổ biến nhưng ít được đón nhận (82%). Nhận định này cũng nói lên được phần nào về nhận thức đúng của sinh viên luật về tình hình hôn nhân đồng giới trên thế giới. Qua phần trình bày ở vấn đề lý luận phía trên, những con số thống kê các quốc gia cho phép hôn nhân đồng giới cho thấy, chỉ có một số ít quốc gia thừa nhận vấn đề này.
Cũng đánh giá về vấn đề nhạy cảm này, ¼ số bạn sinh viên được hỏi cho rằng đây là sự lệch lạc về lối sống, đạo đức. Còn 80% khẳng định, không thể đánh giá đạo đức của bất kì ai chỉ vì họ kết hôn với người cùng giới tính. Quan điểm của phần đông các bạn sinh viên cho thấy rằng, việc kết hôn đồng giới không bị đánh giá về mặt đạo đức. Còn xét tại xã hội Việt Nam, hôn nhân đồng giới có phù hợp với truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam không? Có đa số cho rằng hôn nhân là không phù hợp nhưng chấp nhận được (80%), có đều 10% cho những quan điểm phù hợp và quan điểm không thể chấp nhận được
Từ khảo sát về thực trạng cho thấy được cái nhìn khá thiện cảm của sinh viên k38 giành cho những người đồng tính. Dù họ có phần “khác lạ” so với những người bình thường, tuy nhiên họ vẫn được xã hội tôn trọng và không thể xét nét, đánh giá con người chỉ vì sự “khác lạ” giới tính của họ.
-
Nguyên nhân của thực trạng hôn nhân đồng giới
Để tìm hiểu về nguyên nhân của thực trạng hôn nhân đồng giới, nhóm đưa ra câu hỏi khảo sát về mục đích của việc sống chung đồng giới là do đâu? Giả thuyết điều tra của nhóm là do hai nhu cầu chính, nhu cầu tình cảm và nhu cầu vật chất, và câu trả lời mở (ý kiến khác) Theo những số liệu thu lại được, có đa số các bạn sinh viên cho rằng, mục đích của việc sống chung đồng giới là do nhu cầu tình cảm, muốn được sống thật với giới tính của mình (84%). Chỉ một số ít cho rằng, mục đích của việc sống chung đồng giới là do nhu cầu vật chất, tức là nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm của những người đồng giới nhằm chuộc lợi (5%). Đây cũng là một hiện thực đáng lên án, bởi có những người không phải đồng tính nhưng sẵn sàng phục vụ những người đồng tính về tình dục, tình cảm nhằm lợi dụng, chuộc lợi vì những người đồng tính sẵn sàng “trả giá” khá cao khi có người chấp thuận họ.
Từ căn cứ về mục đích sống chung đồng giới, nhóm tiếp tục đưa ra câu hỏi điều tra về nguyên nhân của việc quan hệ đồng giới hay tiến đến hôn nhân đồng giới.
|
Mã |
Phương |
Số |
Tỉ |
Cộng |
|
1 |
Do nhu cầu bẩm sinh |
67 |
67 |
67 |
|
2 |
Do đua đòi theo trào lưu của một lối |
10 |
10 |
77 |
|
3 |
Do muốn trải |
6 |
6 |
83 |
|
4 |
Ý kiến khác |
17 |
17 |
100 |
|
|
Tổng |
100 |
100 |
100 |
*Do nhu cầu bẩm sinh
Tính cho đến nay cả y học và xã hội chưa đưa ra được lời giải cho nguyên nhân của hiện tượng đồng tính. Do xuất phát từ nhu cầu bẩm sinh của mỗi người, những cảm xúc đời thường nên những người tiến đến hôn nhân đồng giới họ cũng mong muốn tìm được một nửa cho bản thân mình để sẻ chia tình cảm. Những người đồng tính đa phần rất nhạy cảm vì giới tính của bản thân, vì áp lực của gia đình, xã hội, nên khát khao được sống thật với giới tính, được yêu thương là niềm mong mỏi của những người đồng tính. Chính vì vậy họ rất dễ đồng cảm và nhanh chóng tiến đến quan hệ đồng giới hay sống chung với nhau. Cùng quan điểm với nhóm, đa số các bạn sinh viên được điều tra cũng cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do nhu cầu bẩm sinh (67%). Và nhu cầu bẩm sinh này có thể tồn tại trong mọi giai đoạn lứa tuổi, tuy nhiên, nếu vượt qua trạng thái tình cảm thông thường mà dẫn đến nhu cầu sống chung với nhau thì thường phổ biến ở lứa tuổi 15 – 25 tuổi (45%), kế đến là 25 – 40 tuổi, lứa tuổi trưởng thành, đã có thu nhập kinh tế riêng, đời sống xã hội ổn định (41%)
*Do đua đòi theo trào lưu của một lối sống mới
Xã hội đang hội nhập nên có nhiều lối sống mới du nhập vào nước ta cả tích cực và tiêu cực, thực trạng quan hệ hay hôn nhân đồng giới đang là lối sống mới và khá phổ biến trong xã hội. Một số nước trên thế giới đã bắt đầu công nhận và chấp nhận hôn nhân đồng giới như là một phần của xã hội, những trào lưu đấy du nhập và tạo thành một lối sống mới thu hút nhiều người tham gia. Đôi khi có những người sống bằng giới tính ảo nên cũng muốn theo xu thế, theo điều tra của nhóm ý kiến cho rằng nguyên nhân đua đòi theo lối sống mới chiếm 10%
*Muốn trải nhiệm cảm giác mới lạ
Đất nước đang hội nhập và phát triển nên một bộ phận trong xã hội muốn phá vỡ những nếp sống, thói quen vốn có để tìm đến những trải nghiệm mới lạ nên họ muốn thử kết đôi đồng giới (6%). Nhiều ý kiến phỏng vấn trực tiếp chỉ ra, họ làm vậy để tìm đến những cảm giác mới lạ mà họ chưa từng có trước đó để thay đổi bản thân, tìm đến những điều mới mẻ, thú vị trong cuộc sống hiện nay. Đôi khi họ thấy cuộc sống quá tẻ nhạt, vô vị nên họ muốn thay đổi, trải nghiệm cảm giác mới mà trước đây chưa từng có.
-
Một số giải pháp, kiến nghị về vấn đề hôn nhân đồng giới
Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa điều chỉnh đến lĩnh vực hôn nhân đồng giới, chính bởi vậy, câu hỏi mà nhóm đặt ra cho các bạn thuộc đối tượng điều tra đó là, quan điểm của bạn về vấn đề hôn nhân đồng giới (có nên được pháp luật Việt Nam nhận và bảo vệ không?). 24% số người được hỏi tỏ ra khá thờ ơ khi trả lời không quan tâm đến vấn đề này, có 5% kịch liệt phản đối, kiên quyết không ủng hộ (vì đây là hành vi phản cảm, gây ảnh hưởng xấu đến xã hội…), nhưng có rất đông các bạn sinh viên đồng tình, ủng hộ (vì đây là quyền con người, không nên phân biệt, kì thị (71%)
Vậy, nếu bản thân bạn được thay đổi quy định của pháp luật Hôn nhân gia đình hiện hành thì bạn sẽ quy định thế nào về vấn đề này? Câu trả lời thu được lại là 56% cho rằng nên cho phép những người đồng giới được kết hôn, 34% cho rằng chỉ cho những người đồng giới sống chung mà không cho phép kết hôn, cũng có 5% khẳng định hoàn toàn không cho phép người đồng giới sống chung hay kết hôn và sẽ phạt nặng nếu có vi phạm.
Nhóm cũng thu thập lại được rất nhiều ý kiến thú vị của các bạn sinh viên K38 với câu hỏi mở: Nếu là người ủng hộ vấn đề này, theo bạn để xã hội không phân biệt, kì thị người đồng giới cũng như kết hôn đồng giới cần phải làm gì:
|
Mã |
Các |
Số |
Tỉ |
Cộng |
|
1 |
Tuyên |
34 |
34 |
34 |
|
2 |
Thay |
15 |
15 |
49 |
|
3 |
Những |
2 |
2 |
51 |
|
4 |
Không |
1 |
1 |
52 |
|
|
Tổng |
52 |
52 |
52 |
Xét cho đến cùng, hiện nay, quan điểm về việc có nên thừa nhận hôn nhân đồng giới hay không vẫn là vấn đề gây tranh cãi.
Một số giải pháp cho hôn nhân đồng tính ở Việt Nam:
Thứ nhất là luật hóa hôn nhân đồng giới:
Hôn nhân đồng tính là vấn đề đang gây ra những tranh luận sôi sổi, tốn nhiều giấy mực báo chí xung quanh việc công nhận hay không công nhận, hay bằng cách nào đó hợp thực hóa hôn nhân đồng tính. hiện luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam cấm hôn nhân đồng tính. Tuy nhiên, trong xã hội vẫn tồn tại hai luồng ý kiến. Thứ nhất, cho rằng đã đến lúc phải nhìn nhận thực tế, thậm chí có thể sửa luật để cho phép hôn nhân đồng tính. Luồng ý kiến thứ hai là không đồng ý sửa luật, đặc biệt là ở Việt Nam.
Ở Việt Nam mới có Nghị định số 110/2013/NĐ-CP Chính phủ đã chính thức cho phép việc kết hôn giữa những người đồng giới Điều này đồng nghĩa với việc tổ chức tiệc cưới (nhưng không đăng kí kết hôn) giữa những người thuộc giới tính thứ 3 là hoàn toàn hợp pháp và không bị xử phạt hành chính như trước đây.
Dù công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính thì cũng không được tạo ra định kiến xã hội đối với cộng đồng và cá nhân người đồng tính. Đồng thời, Nhà nước cũng nên có cơ chế pháp lý để bảo vệ những lợi ích chính đáng về nhân thân, tài sản hoặc con (nếu có) giữa những người cùng giới tính có quan hệ sống chung với nhau.Đề nghị Luật hôn nhân và Gia đình xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, cho phép những người đồng giới tính kết hôn với nhau, tuy nhiên cần có những quy định cụ thể. Luật pháp cần quy định về quyền và nghĩa vụ giữa các bên cùng giới tính trong quan hệ chung sống như vợ chồng theo giải pháp quy định về việc chung sống như vợ chồng giữa những người khác giới.
Để tạo cơ sở cho việc ghi nhận quan hệ cùng giới, thời gian tới nên tiếp tục có những hình thức phổ biến, định hướng nhận thức đúng đắn hơn về cộng đồng LGBT nói chung, cộng đồng đồng tính nói riêng tại Việt Nam. Việc ban hành các quy định mới trong luật pháp ở Việt Nam để hợp pháp hóa quan hệ đồng giới là cần thiết và cần được tiến hành song song với các hoạt động đánh giá tác động, nâng cao nhận thức để xã hội hiểu và đón nhận. Bên cạnh đó, cần tổ chức nghiên cứu sâu hơn về thực trạng quan điểm của tầng lớp xã hội về đồng tính, HNCG, đánh giá trên những cơ sở đầy đủ và rõ ràng hơn để có những kiến nghị xác đáng hơn.
Cặp đôi đồng tính kết hợp dân sự sẽ bị hạn chế một số quyền nhất định, ví dụ như không được nhận con nuôi chung. Việc cho phép sống chung có đăng ký sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước xem xét, đánh giá quan hệ đồng giới một cách chính xác, có cơ sở hơn so với việc chỉ đưa ra quy định giải quyết hậu quả do việc sống chung không có đăng ký. Với tình hình hiện tại, nhất thiết phải có quy định điều chỉnh mối quan hệ sống chung có đăng ký của NĐT. Nếu không tạo cơ hội cho NĐT chứng minh sự bền vững trong việc sống chung thì xã hội khó đạt được tính căn bản bền vững, giá trị xã hội của pháp luật cũng khó được đảm bảo và phát huy. Bên cạnh đó, Dự thảo Luật Hộ tịch (đang được Bộ Tư pháp soạn thảo) nên đồng thời bổ sung quy định về đăng ký sống chung có đăng ký cho cặp đôi đồng tính. Việc đăng ký này sẽ được ghi vào một sổ riêng với mẫu Đăng ký khác so với mẫu của cặp đôi nam nữ (thay thuật ngữ vợ/chồng bằng thuật ngữ: bên thứ nhất, bên thứ hai…)
Thứ hai là cải thiện định kiến xã hội về vấn đề hôn nhân đồng giới:
Ở Việt Nam hiện nay, hai từ “Đồng tính” không còn quá xa lạ với mọi người. Thời kì đầu khi xã hội biết tới sự tồn tại của những người mang giới tính thứ ba, họ đã có một cái nhìn kì thị, phân biệt. Thật khó để bất cứ một xã hội nào, nhất là một quốc gia còn nặng truyền thống như Việt Nam ngay lập tức công nhận HNCG, thay đổi quan điểm về khái niệm gia đình, thay đổi chuẩn mực xã hội… trong một thời gian ngắn. Trong khoảng 10 năm trở lại cách nhìn nhận của mọi người đã thay đổi tích cực hơn.
Tưởng như đồng tính đã không còn là “chuyện xa lạ” như nhiều năm về trước, khi đất nước mới mở cửa, nhưng thực tế, những NĐT thật sự vẫn còn nỗi niềm suy tư khi xã hội Việt Nam hiện nay vẫn không cho họ cái quyền gọi là bình đẳng. Lẽ ra mọi người nên cảm thông và san sẻ với họ nhiều hơn thay vì ném cho họ những cái nhìn kỳ thị, vì họ là những con người bất hạnh, họ yêu mà không bao giờ được đáp lại, hy sinh mà không bao giờ được bù đắp, cũng như khao khát mà không bao giờ được thỏa mãn. Đồng tính không phải là một tệ nạn như ma túy, thuốc lắc, … không nên đồng hóa họ như những tệ nạn bởi đồng tính là bẩm sinh, họ không có quyền lựa chọn xu hướng tính dục cho bản thân. Đã đến lúc, xã hội có cái nhìn thoáng hơn cho những thành viên mang xu hướng tính dục khác, và cho họ được quyền sống bình thường như bao nhiêu cá thể khác của cộng đồng loài người. Thực chất, khi chúng ta tìm hiểu, đánh giá về quyền của NĐT sẽ không hề có ý nghĩa muốn cổ vũ cho một trào lưu mới mà nên được hiểu đây chính là thay tiếng nói cho những NĐT
Bản thân những người đồng tính đã không còn ngần ngại, che giấu con người thật của mình. Họ sống tự tin và dám thể hiện mình hơn. Hàng loạt những đám cưới đồng tính diễn ra một cách công khai giống như hồi chuông lớn khẳng định sự tồn tại mạnh mẽ của cộng đồng những người mang giới tính thứ ba. Hầu hết các gia đình châu Á đều đã trải qua nhiều khó khăn như chiến tranh, nghèo khó… Những người bố, những người mẹ luôn quan tâm đến con mình, sẵn sàng hy sinh và mong muốn giữ con sát bên cạnh trong bất kì hoàn cảnh nào. Chính vì thế, những người con đã thấy vô cùng khó khăn khi không thể sống đúng với những dự tính mà gia đình đã đặt sẵn cho mình.
Trong cộng đồng LGBT (Đồng tính nam-nữ, song tính và chuyển giới) từ lâu đã có một định nghĩa gọi là “gia đình tự chọn”. Đó là khi những cá nhân thuộc cộng đồng không tìm được sự ủng hộ trong chính gia đình của mình và buộc phải tìm và gắn bó với những người tuy xa lạ nhưng lại có thể yêu thương con người thật của họ. “Gia đình tự chọn” này rất quan trọng với người đồng tính nhưng điều đó không làm vơi đi tình cảm gia đình máu mũ, đặc biệt là đối với người phương Đông. Bạn có thể không bao giờ trở thành những con người mà bố mẹ bạn mong mỏi, dù họ có những suy tư riêng về hy vọng, về truyền thống nhưng họ sẽ luôn tìm được cách để yêu thương và chấp nhận bạn. Nhờ có những gia đình ủng hộ con cái sống thật với giới tính riêng của mình.
III. PHẦN KẾT LUẬN
Qua đề tài lần này đã giúp ích kiến thức rất nhiều cho nhóm:
- Cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cho môn học xã hội học đại cương như thiết kế bảng câu hỏi khảo sát, xử lý số liệu và thông tin thu thập được.
- Rút ra được nhiều kinh nghiệm trong quá trình hoạt động nhóm và cách làm việc hiệu quả hơn cho những lần sau.
- Cung cấp thêm kiến thức về xã hội, những vấn đề nổi cộm trong lối sống cũng như cách suy nghĩ của giới trẻ hiện nay.