Trình bày nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức. Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn

Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của ý thức
– Quan điểm duy tâm cho rằng: Ý thức có nguồn gốc thần thánh (VD: Chúa được sinh ra vào thứ Bảy, được tạo ra từ đất sét)
– Ngày nay, khi khoa học phát triển, người ta cho rằng loài người là do người ngoài hành tinh sinh ra.
– Quan điểm của Mác – Lê nin khẳng định: ý thức gồm 2 nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
– Muốn hiểu được nguồn gốc tự nhiên của ý thức, chứng ta phải hiểu được thuộc tính phản ánh của vật chất.
+ Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện thuộc tính kết cấu vật chất này trong kết cấu vật chất khác khi hai kết cấu vật chất đó tương tác lẫn nhau.
VD: Khi cho 2 vật thể A, B va chạm với nhau thì cả hai đều sẽ bị tổn thương, biến dạng hoặc phân hủy ( cỏ may bám vào quần).
+ Cùng với sự tiến hóa của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh cũng có trình độ cao thấp khác nhau, kết cấu vật chất càng phát triển thì năng lực phản ánh càng cao. Trình đọ thấp nhất của phản ánh là ở giới thực vật. Đó là tính cảm ứng của thực vật.
VD: hoa hướng dương luôn xoay về hướng có ánh nắng mặt trơi, ngọn cây luôn vươn về nơi có ánh sáng.
Tính phản ứng ở động vật bậc thấp: khi môi trường tác động lên cơ thể động vật thì chúng phản ứng lại
VD: mùa đông chim bay về phương nam…
 Trình độ phản ánh tâm lý ở động vật bậc cao (động vật đã có bán cầu đại não). Động vật này đã xuất hiện cảm giác, tri giác và biểu tượng.
 Trình độ phản ánh ý thức ở bộ não người. Đây là trình độ phản ánh cao nhất và chỉ có ở con người. Não người là cơ quan nhục thể, nơi sinh ra ý thức, là kết quả của quá trình phát triển hết sức lâu dài của vật chất. Não người có trọng lượng bằng 1/45 trọng lượng cơ thể. Nó có khoảng 14 – 17 tỉ tế bào thần kinh (tế bào thần kinh điều khiển mọi hoạt động của con người). Não bị tổn thương, hoạt động của ý thức sẽ bị hỗn loại. Số lượng tế bào thần kinh tham gia điều khiển hoạt động của cơ thể người là không đáng kế (khoảng 1000 tế bào). Muốn thông minh phải huy động được càng nhiều tế bào tham gia càng tốt.
– Nguồn gốc tự nhiên của ý thức bao gồm não người và sự phản ánh của thế giới xung quanh.
Bộ não người là cơ quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của cộ óc con người diễn ra trên cơ sở sinh lý thần kinh của bộ óc người. Nghĩa là ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não con người, do đó, khi bọ não bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc.
Thế giới khách quan: Ý thức được hình thành nhờ có sự tác động của thế giới khách quan lên bộ não người. Thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan, đã tác động lên bỗ não con người, hình thành nên ý thức.
* Nguồn gốc xã hội
Nếu chỉ có nguồn gốc tự nhiên thì ý thức chưa thể xuất hiện, vì các loài động vật cũng bị tác động bởi thế giới xung quanh như con ngời. Cùng với nguồn gốc tự nhiên, ý thức còn có nguồn gốc xã hội. Đó là lao động và ngôn ngữ.
– Lao động là hoạt động đặc thù của con ngwoif, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác.
+ Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ lao động và sử dụng những công cụ đó để tạo ra của cải, vật chất.
+ Lao động của con người là hành động có mục đích – tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thảo mãn nhu cầu của con người.


+ Trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trưu tượng của con người cũng ngày càng phát triển.
– Lao động sản xuất cong là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ:
+ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu vầu cần trao đổi kinh nghiệm. Từ đó, nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động.
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quá sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ. Chính vì vậy, Ăng ghen coi lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” biến bọ não con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý  thức.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp qan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và thực tiễn xã hội, Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não người, thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
CNDVBC cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất.
– Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm.
– Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan cũng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới, bởi
+ Phản ánh ý thức bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định, Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu được cái được phản ánh, Trên cơ sở đó, hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơ nhiện thực khách quan. Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh.
+ Phản ánh ý thức bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Là sản phẩ của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức có tính xã hội.
Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy tâm, coi ý thức, tư duy là cái có  trước, dinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự pahnr ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất.
 Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn.
MB: CNDVBC khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất. Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức; song, ý thức có thể tác động ngược trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình.
– Phải xuất phát từ thực tế khách quan. Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải tôn trọng thực tiễn khách quan, tuân theo các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan để đề ra các chủ trương, đường lối. Đồng thời, phải dựa trên cơ sở thực tế khách quan để kiểm nghiệm, đánh giá các chủ trương, đường lối đó. Nói cách khác, chúng ta phải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
– Phát huy tính năng động chủ quan. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng và biết làm chủ tri thức khoa học, truyền bá tri thức đó vào trong quần chúng nhân dân để nó dẫn dắt quần chúng. Đồng thời, đòi hỏi mỗi người phải biết tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, cùng có nhân sinh quan tiến bộ và nâng cao ý chí, nghị lực trong hoạt động thực tiễn.
– Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy luật khách quan của đối tượng. Trên cơ sở ấy, con người xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp. Tiếp theo, con người vói ý thức của mình xác định các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt động thực tiễn. Cuối cùng, bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra.
– Nhận thức rõ vai trò tích cực của ý thức, của nhân tố chủ quan, Đảng ta đã xác định, trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay, phải “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, đồng thời phải “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài chí của người Việt Nam” (Văn kiện Đại hội Đảng VIII).
          – Phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, tức là khắc phục tình trạng không tôn trọng quy luật khách quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy tình cảm làm điểm xuât phát cho chiến lược, sách lược, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách…

– Phải phòng, chống và khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thụ động và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường tri thức khoa học, coi thường lý luận trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.