HR Law

Chia sẻ kiến thức pháp lý nhân sự

  • Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:

    1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành25/12/2023
    Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam18/09/2023
    Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành20/06/2023
    Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý20/10/2022
    Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động01/07/2022
    Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng17/01/2022
    Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành30/01/2022
    Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành01/09/2021
    Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam15/02/2021
    Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động01/02/2021
    Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu01/01/2021
    Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành01/01/2021
    Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành15/03/2021

    2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực

    Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.18/8/2023
    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao17/10/2018

    3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 201501/07/2016
    Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
    Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 201401/07/2015Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
    Luật Thuế thu nhập cá nhân 200701/01/2009Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
    Luật Việc làm năm 201301/01/2015Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
    Luật Công đoàn năm 201201/01/2013Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
    Luật Bảo hiểm xã hội năm 201401/01/2016Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 202001/01/2022Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật người khuyết tật 201001/01/2011Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
    Luật Trẻ em 201601/06/2017Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
    Bộ luật Tố tụng Dân sự 201501/07/2016Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
    Luật Bình đẳng giới 200601/07/2007Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
    Luật người cao tuổi năm 200901/07/2010Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
    Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên

    Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.

  • Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:

    – Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.

    – Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.

    2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.

    3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.

    Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.

    Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

    Xem văn bản

  • HRLegal tổng hợp các tài liệu, biểu mẫu các văn bản pháp lý trong công tác quản trị nhân sự bắt buộc phải có theo quy định pháp luật, gồm có:

    • Mẫu hợp đồng lao đồng
    • Mẫu Thỏa ước lao động tập thể
    • Mẫu Nội quy lao động
    • Mẫu Quy chế dân chủ và đối thoại tại nơi làm việc
    • Mẫu Quy chế đánh giá hoàn thành công việc
    • Mẫu sổ quản lý lao động

    Các bạn tải về tại link drive này nhé. Nếu bạn tư vấn soạn thảo các văn bản pháp lý nhân sự, vui lòng liên hệ HRLegal.vn để được giải đáp nhé

  • Học Luật ra trường có dễ xin việc không? Đây chính là nỗi băn khoăn của các bạn trẻ muốn có ý định thi vào ngành Luật và cả những bạn đang học ngành Luật. Có thể khẳng định một điều rằng cơ hội việc làm của ngành Luật vô cùng lớn, tuy nhiên để có thể tự tin tìm kiếm cho mình những công việc tốt thì nhất định các bạn cử nhân Luật phải nắm vững cẩm nang xin việc ngành Luật sau đây.

    Có thể nói rằng với ngành Luật thì cơ hội việc làm vô cùng dồi dào, nguồn thu nhập lại luôn ở Top cao. Bởi vì các bạn cũng biết rõ rồi đấy, với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều công ty, doanh nghiệp mọc lên như nấm. Mà các công ty, doanh nghiệp đều luôn cần sự hỗ trợ pháp lý trong hoạt động điều hành và kinh doanh, chính vì vậy mà nhu cầu tuyển nhân sự ngành Luật vô cùng cao. Nên chắc chắn rằng nếu bạn chọn học ngành Luật thì tỷ lệ thất nghiệp rất là thấp.

    Học luật ra thì chỉ có thể làm Luật sư, Thẩm phán…đúng không? Không phải mình người khác mà ngay đến những cử nhân Luật đôi khi cũng hiểu sai về vấn đề này. Các bạn hãy nhớ rằng học Luật không phải ra chỉ là làm Luật sư, Thẩm phán, Kiểm sát viên…bởi vì nếu bạn muốn thì vẫn có thể mở văn phòng luật sư riêng để hoạt động hoặc là xin vào làm tư vấn Luật ở các công ty, doanh nghiệp lớn. Thế nên mới nói cơ hội việc làm của các cử nhân ngành Luật vô cùng dồi dào và phong phú.

    Thêm một nhầm lẫn nữa đó là các bạn vẫn nghĩ học ngành Luật thì buộc phải nhớ và thuộc hết các điều khoản, thông tư, nghị định…Nhưng điều đó hoàn toàn không chính xác vì ngay đến những Thẩm phán giỏi, những Luật sư danh tiếng thì họ cũng không thể nhớ hết các điều khoản luật được đâu.

    Đối với sinh viên Luật thì khi ra trường bạn có thể xin vào làm những công việc như: Luật sư, Công chứng viên, Kiểm sát viên, Thư ký tòa soạn, Giảng viên Luật, Thẩm phán…Mỗi công việc trên đều có những đặc thù riêng, bạn cũng phải có kỹ năng và những kinh nghiệm nhất định. Ví dụ như với nghề Luật sư thì công việc của bạn đó chính là nghiên cứu Luật, phân tích, soạn thảo và nộp lại văn bản luật, tư vấn và diện pháp luật cho một cá nhân hay tổ chức trong quá trình tiến hành tố tụng…

    Hay nếu bạn chọn theo đuổi trở thành Kiểm sát viên/Công tố viên thì bạn phải có khả năng giải quyết vấn đề, khả năng hùng biện, tranh biện, phân tích và xử lý thông tin. Ngoài ra công việc của một Kiểm sát viên/Công tố viên còn phải tham gia điều tram truy tố tội phạm, kiểm tra, giám sát việc khởi tố các hành vi phạm tội hay buộc tội….

    Hoặc bạn muốn trở thành Thư ký tòa soạn thì bạn phải biết quản lý, sắp xếp hồ sơ, hỗ trở Thẩm phán trong quá trình tiến hành các quá trình giải quyết vụ án như hướng dẫn các đương sự chuẩn bị, bổ sung giấy tờ liên quan, chứng cứ, ghi chép văn bản các phiên hòa giải…

    Mối công việc đều buộc bạn phải có kỹ năng và kinh nghiệm khác nhau. Vậy nhưng tổng quát lại thì đối với các cử nhân Luật mới ra trường thì không thể tránh khỏi những bỡ ngỡ, khó khăn trong quá trình tìm việc vì chưa có nhiều kinh nghiệm. Bởi vậy nên xin việc ngành Luật có khó khăn không thì tốt nhất bạn hãy nắm vững những kỹ năng, kinh nghiệm sau đây nhé.

    1. Tìm hiểu thật kỹ thông tin tuyển dụng

    Bạn phải tìm thông tin thật cẩn thận vì có rất nhiều tin ảo, không đúng sự thật. Vậy nên hãy tìm thông tin tuyển dụng từ phía văn phòng luật, công ty luật, hay là doanh nghiệp/công ty nào đó. Chỉ cần bạn biết được trang web chính thống rồi thì tra cứu thông tin vô cùng hiểu quả và nhanh chóng.

    2. Tìm kiếm thông tin từ google

    Nếu như bạn không thể tìm được trang chủ chính thống của một nơi tuyển dụng nào thì có thể lên google để tìm, vì trên google thì cái gì cũng có cả. Rất đơn giản, bạn chỉ cần gõ ” Công ty Luật tuyển thực tập sinh” chắc chắn sẽ ra rất nhiều kết quả.
    Vậy nhưng bạn đừng chọn bừa nhé, nhiều kết quả thì nhất định phải so sánh xem công ty luật nào môi trường làm việc tốt hơn. Và từ đó bạn có thể tìm kiếm thông tin nào phù hợp với mình một cách chính xác. Trên mạng có rất nhiều thứ nhưng bạn cần phải có sự thông tinh, tỉnh táo để chọn lọc cho mình những cái đúng và chính xác nhất.

    3. Cân nhắc trước khi nộp hồ sơ phỏng vấn

    Khi bạn tìm kiếm được thông tin mạng là một điều vô cùng hữu ích, thế nhưng đôi khi thông tin đưa ra lúc nào cũng chưa thể 100% là giải đáp được những thắc mắc. Chính vì vậy nên bạn hãy tìm cách kết nối với phía tuyển dụng bằng cách là gửi email, liên hệ bằng Facebook, cũng có thể gọi điện trực tiếp cho họ. Cái gì cũng cần phải chắc chắn vì “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một lần thử’.

    4. Khéo léo xin thực tập qua email

    Sau khi bạn đã tìm hiểu kỹ về phía các văn phọng luật, công ty luật hay là một doanh nghiệp bất kỳ thì bước tiếp theo sẽ là gửi hồ sơ cho họ. Hãy tạo ấn tượng bằng việc sử dụng một email chuyên nghiệp nhé. Vì các công ty, văn phòng…sẽ đánh giá cao bạn ở điểm này đấy.

    Các bạn khi gửi email thường rất hay để trống Tiêu đề email, đó là điểm trừ đấy. Hãy nhớ điền đầy đủ thông tin một cách ngắn gọn và súc tích nhất. Hãy nhớ rằng không được để mình phạm vào lỗi sai chính tả, bởi vì đây chính là điều tối kỵ nhất trong việc gửi hồ sơ xin việc đấy. Vậy nên đừng nóng vội, hãy dành thời gian đọc đi đọc lại để rà soát lỗi trước khi gửi nhé.

    5. Đánh giá đúng năng lực của mình

    Ông cha ta có câu: Biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng”, bởi vậy bạn nên xác định trước năng lực của mình ở đâu, phía công ty, văn phòng luật sẽ cần gì ở mình? Bạn phải biết trả lời câu hỏi đó để có thể đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của bạn thân để tạo một hồ sơ xin việc hoàn hảo nhất. Đừng quá tự cao ở bản thân, bởi vì tự cao chính là bạn đã thất bại rồi đấy. Tránh việc kể lan man, thay vào đó hãy tập trung cho họ biết mục tiêu của bản thân bạn khi xin vào làm công việc này, những kỹ năng chuyên môn, kỹ năng mềm mà bạn có, rồi những kinh nghiệm bạn đã có trước đây.

    Đối với những bạn sinh viên ra trường còn bỡ ngỡ, bản thân lại không có chút kinh nghiệm nào thì nhất định hãy nhớ rằng:

    Bạn phải luôn khéo léo và linh động, đừng ngại ngùng và sợ áp lực công việc. Hãy nhớ rằng bạn ra trường thì mục tiêu là tìm được công việc chứ không phải đi tìm việc nhàn hạ mà lương phải cao. Lần đầu đi làm sẽ áp lực, khó khăn, nhưng hãy nhớ rằng rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi.

    Thêm nữa là bạn cũng nên quan tâm vẻ bề ngoài của mình nữa nhé. Vì ngoại tình là yếu tố quan trọng khi đi xin việc đấy. Và cuối cùng, bạn hãy tự tin nắm bắt cơ hội, không ngại khó khăn

    Hiện nay học Luật đang được rất nhiều bạn trẻ lựa chọn, bởi vì cơ hội việc làm đến với các cử nhân ngành Luật rất cao, vậy nhưng tỷ lệ cạnh tranh cũng rất lớn. Bởi vậy nên hi vọng rằng cẩm nang xin việc ngành Luật trong bài viết này sẽ giúp cho các bạn trang bị thêm cho mình những hiểu biết, kiến thức và kỹ năng để tìm kiếm cho mình cơ hội lớn nhé. Chúc các bạn thành công.

    An Vy
    Nguồn bài viết: Timviec.com.vn

  • Bạn sẽ phù hợp với nghề luật sư nếu bạn có đủ phẩm chất này, Vì vậy, đừng ngần ngại đăng ký thi vào trường Đại học luật hoặc khoa Luật của một trường đại học nào đó.

    1. Bạn là người thông minh

    Luật sư Emily Raxenberg đã từng nói: Nếu bạn là người thông minh và nắm bắt được câu trả lời của đối phương, bạn sẽ khai thác được vấn đề dễ dàng hơn và hiệu quả hơn. Nếu cứ mải mê cãi cọ và chia sẻ quan điểm của mình, bạn sẽ bỏ lỡ quan điểm của đối phương. Tin tưởng vào chính mình là đúng nhưng bạn nên linh hoạt. Và chỉ có những luật sư thông minh mới làm được điều đó.

    2. Bạn thích hòa giải

    Nếu hồi nhỏ bạn thường xuyên giúp mọi người làm hòa với nhau? Bạn có phẩm chất để làm luật sư đấy. Có thể bạn thường thấy rằng luật sư thì thường cãi cọ nhưng có thể bạn không biết rằng, họ đang đi tới một sự đồng thuật chung. Và ở cương vị của một người luật sư, trong nhiều trường hợp bạn sẽ giúp đỡ đồng thuận, hòa giải với nhau.

    3. Bạn giỏi thuyết phục

    Đúng vậy, bạn phải có những lập luận sáng tạo để nâng cao lợi ích khách hàng của bạn và thấy rằng họ đã đúng khi lựa chọn bạn. Bạn có giỏi thuyết phục mọi người không? Mọi người nhận xét bạn nói chuyện, thuyết trình như thế nào? Hãy tự ngẫm nghĩ hoặc nhờ người khác nhận xét về bạn nhé.

    4. Bạn nghiêm túc

    Xây dựng một hình ảnh nghiêm túc giúp đỡ rất nhiều trong công việc luật sư sau này của bạn. Và nếu bạn khá chỉn chu và nghiêm túc, bạn đang đi đúng hướng khi mơ ước trở thành luật sư đấy.

    5. Bạn chăm chỉ và làm việc không biết mệt mỏi

    Nếu bạn quyết tâm thành công, bạn cần có sự chăm chỉ. Học luật rất vất vả và làm một luật sư cũng như vậy. Bạn cần phải học tập lý thuyết miệt mài trước khi mang những lý thuyết đó ứng dụng vào công việc của bạn.

    6. Bạn yêu thích nói chuyện trước đám đông

    Luật sư được trả tiền nói chuyện. Họ kiếm tiền bằng việc nói trước phòng xử án lớn, trước mặt tất cả mọi người: quan tòa, nguyên cáo, bị cáo. Nếu bạn yêu thích nói chuyện trước đám đông, giọng nói, cử chỉ của bạn thuyết phục và cuốn hút người nghe thì đúng là nghề luật sư là dành cho bạn rồi.

    7. Bạn tự tin

    Khi bạn đi học luật, bạn sẽ thấy rằng, những sinh viên khôn ngoan, đầy tham vọng đang bao quanh bạn, một sinh viên luật thông minh sẽ không so sánh mình với họ. Bạn có cách làm việc và cách sống của riêng mình, bạn tham gia hoạt động ngoại khóa, học hành chăm chỉ, có áp lực để thành công và chăm chỉ tìm kiếm việc làm. Nếu bạn biết cân bằng giữa sự khiêm tốn và sự tự tin, bạn nên học ngành luật.

    Nguồn bài viết: Kênh 14

    Đọc thêm:

    Nghề Luật sư ở Việt Nam có dễ sống hay không?

    5 kỹ năng cơ bản để trở thành một luật sư tranh tụng giỏi

  • Hiện nay, có nhiều người đang nhầm lẫn và cho rằng: nghề hoạt động pháp luật và nghề Luật sư là một. Từ đó, người ta nghiễm nhiên coi Luật Luật sư là luật chuyên ngành của nghề hoạt động pháp luật và cho rằng doanh nghiệp không phải là công ty luật mà kinh doanh nghề hoạt động pháp luật là trái với quy định của Luật Luật sư.

    Trên thực tế, nghề hoạt động pháp luật tuy có một số điểm tương đồng nhất định với nghề Luật sư như đều tư vấn pháp luật, đều đại diện cho cá nhân, pháp nhân tham gia một số quan hệ pháp luật; nhưng không vì thế mà đánh đồng hai nghề này là một.

    Theo quy định hiện nay, nghề Luật sư là ngành nghề có điều kiện theo phụ lục đính kèm Luật Đầu tư, được điều chỉnh bởi Luật Luật sư. Trong khi đó, nghề hoạt động pháp luật nằm trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, mã ngành 6910, được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp. Luật Luật sư chỉ điều chỉnh nghề Luật sư, không điều chỉnh hoạt động tư vấn pháp luật và đại diện. Hoạt động tư vấn pháp luật được điều chỉnh bởi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, còn hoạt động đại diện được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự. Do đó, không chỉ có Luật sư mới được tư vấn pháp luật và đại diện. Có rất nhiều cá nhân, pháp nhân thường xuyên tư vấn pháp luật, như các trung tâm trợ giúp pháp lý, trung tâm tư vấn pháp luật.

    Việc đại diện cũng hết sức phổ biến trong xã hội thông qua các hợp đồng dân sự như hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền, các hợp đồng này được công chứng theo quy định của pháp luật và có giá trị pháp lý. Do đó, hoạt động pháp luật là một nghề riêng, độc lập với nghề Luật sư.

    Một thực tế rõ ràng rằng không có bất cứ quy định pháp luật nào cấm doanh nghiệp tư vấn pháp luật và đại diện, ngược lại đây là các hoạt động hợp pháp, có khung pháp lý rõ ràng. Cụ thể, Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật không cấm, đồng thời ngành nghề hoạt động pháp luật nằm trong hệ thống ngành nghề kinh tế Việt Nam (mã ngành 6910), cho nên việc việc oanh nghiệp đăng ký và kinh doanh ngành nghề này là hoàn toàn hợp pháp.

    Ngoài ra, việc kinh doanh ngành nghề hoạt động pháp luật còn được khuyến khích thực hiện. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tư vấn pháp luật là một trong những hình thức giáo dục, phổ biến pháp luật (Điều 11) và Nhà nước khuyến khích và có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật… (Điều 4). Do đó, việc doanh nghiệp đăng ký và kinh doanh ngành nghề hoạt động pháp luật và thông qua hoạt động kinh doanh để tiến hành tư vấn pháp luật để phổ biến, giáo dục pháp luật là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với chính sách và được Nhà nước khuyến khích.

    Có quan điểm cho rằng việc tư vấn pháp luật nếu không do Luật sư thực hiện thì khó đảm bảo tính chính xác, gây thiệt hại cho người dân. Tôi cho rằng quan điểm này không đúng, trong xã hội không chỉ có Luật sư mới có trình độ và hiểu biết pháp luật mà còn rất nhiều cá nhân khác có bằng cấp, kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý, đang làm nhiều công việc khác nhau chứ không chỉ làm Luật sư, họ đều có khả năng tư vấn pháp luật với chất lượng cao.

    Nói về rủi ro, việc người dân đến nhận tư vấn từ Luật sư cũng có rủi ro và bị thiệt hại do tư vấn sai chứ không chỉ riêng doanh nghiệp kinh doanh nghề hoạt động pháp luật. Một doanh nghiệp đăng ký hoạt động và có ký hợp đồng tư vấn với khách hàng cũng sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường nếu tư vấn sai, gây thiệt hại cho khách hàng. Do đó không thể nói người dân sẽ chịu rủi ro nếu được tư vấn pháp luật từ doanh nghiệp.

    Luật gia Bùi Thành Trung
    Nguồn bài viết: Pháp luật Online

  • Luật sư tranh tụng giỏi là luật sư hội tụ đầy đủ chuyên môn vững vàng và các kỹ năng vượt trội. Có được sự hội tụ đó, người luật sư phải trải qua thời gian trau dồi, mài dũa thành thạo kiến thức pháp luật và các kỹ năng từ trên ghế nhà trường, từ trong cuộc sống và kinh nghiệm thực hành nghề luật. Để tạo nên danh tiếng luật sư tranh tụng giỏi, người luật sư cần rèn luyện để sở hữu những kỹ năng cơ bản cho mình như kỹ năng giao tiếp hiệu quả, kỹ năng tranh luận sắc bén, kỹ năng nghiên cứu và phân tích sâu sắc, kỹ năng đàm phán thuyết phục, kỹ năng giữ bình tĩnh tốt, cụ thể:

    1. Kỹ năng giao tiếp hiệu quả

    Luật sư tranh tụng giỏi phải có kỹ năng giao tiếp hiệu quả. Kỹ năng giao tiếp được thể hiện dưới hình thức lời nói và bằng văn bản và phương thức lắng nghe tốt.

    + Nói tốt là một trong những yêu cầu quan trọng của luật sư tranh tụng giỏi. Một luật sư giỏi phải biết cách trình bày để các bên, đặc biệt là cơ quan tiến hành tố tụng hiểu rõ ý kiến, quan điểm của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất cho khách hàng. Luật sư nên nói rõ ràng, dùng từ chính xác, trong sáng dễ hiểu, sắc thái nói nên điềm tĩnh, lịch sự và tự tin.

    + Một luật sư tranh tụng giỏi phải sở hữu khả năng viết sắc sảo, tinh tế và mang tính thuyết phục. Trong tranh tụng, luật sư thường xuyên phải trình bày ý kiến của mình bằng văn bản để bày tỏ quan điểm, nêu ý kiến, kiến nghị để cơ quan tiến hành tố tụng hiểu rõ, suy xét nhằm giải quyết vụ việc. Luật sư cần viết rõ ràng, ngắn gọn, súc tích, truyền tải đúng trọng tâm nội dung, quan điểm của mình muốn đề cập.

    + Giao tiếp có hai chiều qua lại. Chiều ngược lại của nói là lắng nghe. Khách hàng thường nói và đưa ra khối lượng thông tin lớn về vụ việc hay cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các bên đưa ra nhiều yêu cầu đối nghịch. Nếu luật sư tranh tụng lắng nghe hời hợt, qua loa có thể bỏ sót các thông tin. Tuy nhiên, nếu luật sư ghi nhớ hết tất cả thông tin có lúc cũng thừa và mất thời gian. Vậy nên luật sư tranh tụng giỏi là người rèn luyện được kỹ năng nghe một cách chính xác và đúng trọng tâm để có thể tổng hợp và nắm đúng thông tin pháp lý cần thiết của vụ việc. Hỗ trợ cho việc lắng nghe, luật sư ghi lại nhanh chóng, ngắn gọn các thông tin quan trọng nhất để tránh bị quên. Như vậy, kỹ năng nói, nghe, viết là các kỹ năng cần thiết mà luật sư tranh tụng giỏi phải rèn luyện thành thạo.

    2. Kỹ năng tranh luận sắc bén

    + Kỹ năng tranh luận là kỹ năng luật sư tranh tụng giỏi bắt buộc phải có. Tranh luận là việc luật sư vận dụng quy định pháp luật và tình tiết sự việc tạo thành hoạt động sử dụng ngôn từ pháp lý một cách logic, đưa ra các luận điểm, luận cứ, luận chứng chặt chẽ có căn cứ, chứng cứ rõ ràng nhằm khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nhằm bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng.

    + Luật sư cần phải sử dụng ngôn ngữ thuyết phục, dễ hiểu, rõ ràng và cô đọng. Tận dụng triệt những mâu thuẫn hoặc những tình tiết trong vụ án mà có lợi cho khách hàng của mình. Để có được việc tranh luận tốt, luật sư cần có sự tự tin, bản lĩnh vững vàng, đặc biệt là sự chuẩn bị, tập dượt trước. Trong quá trình tranh luận, luật sư lưu ý không nên thể hiện thái độ hay dùng ngôn từ đả kích, xúc phạm đồng nghiệp và các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như những người tham gia tố tụng khác để tránh vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp cũng như ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng trong vụ việc.

    3. Kỹ năng nghiên cứu và phân tích sâu sắc

    Một vài điều về nghề luật sư

    Nói đến luật sư tranh tụng giỏi chắc chắn phải thấm trong mình kỹ năng nghiên cứu và phân tích sâu sắc.

    + Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, quy định pháp luật là vô cùng quan trọng khi tham gia bảo vệ khách hàng. Luật sư cần có khả năng kiên nhẫn đọc, một khối lượng lớn thông tin, tiếp thu các sự kiện và số liệu. Từ đó phân tích tài liệu và số liệu, tư duy logic, nhìn nhận đa chiều các thông tin để kết luận bản chất vụ việc.

    + Với sự biến động và thay đổi của hệ thống pháp luật Việt Nam ngày nay, luật sư tranh tụng giỏi không những phải nắm vững những quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực đó. Mà còn phải thường xuyên cập nhật những thay đổi và cách áp dụng kiến thức mới vào thực tiễn, đặc biệt là những văn bản hướng dẫn, quan điểm pháp lý của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát cấp cao,…

    + Mặc dù sự am hiểu chuyên sâu trong tất cả các lĩnh vực pháp luật là điều vô cùng khó thực hiện, luật sư không thể có “ba đầu sáu tay” để có thể nắm vững tất cả các quy định, kinh nghiệm để cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng trong tất cả các lĩnh vực khác nhau. Vì thế, việc lựa chọn một hay một số lĩnh vực pháp luật nhất định để nghiên cứu,thực hành chuyên sâu là điều một luật sư tranh tụng giỏi hiện nay thường hay làm.

    Vấn đề này đã đặt ra thách thức ở mức độ ngày càng cao hơn khi bối cảnh nước Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế. Bởi vậy, sự thay đổi hàng loạt các quy định về pháp luật để phù hợp với sân chơi chung của thế giới sẽ càng đòi hỏi người làm luật sư, nhất là luật sư tranh tụng hoạt động phải nhiều hơn để nâng cao kiến thức chuyên ngành và bắt kịp những thay đổi của pháp luật.

    4. Kỹ năng đàm phán thuyết phục

    + Luật sư tranh tụng giỏi phải có khả năng đàm phán, hòa giải trước khi mọi việc buộc phải xét xử. Luật sư tranh tụng giỏi cần tham gia đàm phán hòa giải dựa trên nguyên tắc Mềm mỏng về yếu tố con người (thiện chí) nhưng cứng rắn về bản chất sự việc, tập trung tìm giải pháp mang tính thuyết phục để việc hòa giải thành có lợi cho các bên. Nói cụ thể hơn, kỹ năng đàm phán có thể theo các phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thực tiễn, luật sư tranh tụng nên rèn luyện phương pháp đàm phán theo nguyên tắc. Vận dụng phương pháp đàm phán này, luật sư cần thực hiện theo 4 điểm cơ bản sau:

    (i) luật sư nên tách con người ra khỏi vấn đề để tập trung mục đích chính của các bên tham gia vào hòa giải là tập trung giải quyết vấn đề, chứ không phải là để thể hiện, so bì bên nào, luật sư nào hơn thua.

    (ii) luật sư cần tập trung vào các lợi ích giúp các bên nhận biết được mục tiêu chính của các bên là hướng đến các lợi ích cơ bản trong cuộc hòa giải.

    (iii) luật sư cần xây dựng nhiều phương án, giải pháp có thể đáp ứng được quyền lợi của các bên liên quan và dung hòa các lợi ích khác nhau của các bên một cách linh hoạt.

    (iv) Đảm bảo rằng kết quả phải dựa trên những tiêu chuẩn khách quan như quy định của một số điều luật, ý kiến của chuyên gia trong lĩnh vực cụ thể…

    Rèn luyện được kỹ năng này khá khó khăn, tuy nhiên đây là một kỹ năng nhất thiết luật sư tranh tụng nào cũng cần trau dồi để trở nên giỏi.

    5. Kỹ năng giữ bình tĩnh tốt, kỹ năng mềm cần có

    + Về những kỹ năng chuyên môn cần có, luật sư biết đến hai hình thức là nói và viết. Các kỹ năng về nói cụ thể như sau: kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng hùng biện, kỹ năng tranh luận, kỹ năng thương lượng, đàm phán. Đối với các kỹ năng về viết được đề cập có thể kể đến là các việc soạn thảo các tài liệu pháp lý (thư từ pháp lý, thư tư vấn, quan điểm luật sư, hợp đồng, thỏa thuận, bản luận cứ,….). Ở một cách nhìn nhận khác về kỹ thuật, trong nghề luật sư nói chung cũng như luật sư tranh tụng giỏi đều cần thêm rất nhiều kỹ năng qua trọng khác như tư duy pháp lý, tư duy tổng hợp, tư duy phân tích, tư duy phản biện….

    Kỹ năng này vô cùng quan trọng bởi trong quá trình giải quyết vụ việc, một điều gì đó thực sự gây bất lợi cho vụ án có thể phát sinh. Hi vọng điều này sẽ không xảy ra trong phiên tòa thực tế nhưng không may xảy ra, luôn có một xu hướng hoảng sợ ban đầu khi những thông tin xấu xuất hiện. Một luật sư tranh tụng giỏi luôn bắt đầu với cách tiếp cận rằng cái đó không lường trước sẽ phát sinh vào lúc này hay lúc khác, và khi nó xảy ra, nó được giải quyết tốt nhất bằng cách giữ cho mọi người sự bình tĩnh và tập trung vào giải pháp để giải quyết vấn đề. Thực tế những tình huống như thế rất cần kỹ năng “cái đầu lạnh và trái tim nóng” của luật sư tranh tụng.

    + Về kỹ năng mềm, luật sư xem như một nghề có xu hướng tương tác với nhiều người, thực hiện nhiều công việc trên máy tính, nghề luật sư sẽ đòi hỏi các kỹ năng mềm cần có như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng giao việc, kỹ năng nhận việc, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tin học, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ,….

    Thực sự mà nói, để thành công đối với nghề luật sư tranh tụng, các yếu tố kỹ năng chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng, có thể nói là yếu tố quyết định sự “sống còn” nhất. Việc hình thành và hoàn thiện các yếu tố kỹ năng đòi hỏi các luật sư cần có một quá trình làm việc, rèn luyện và đúc kết cũng như hoàn thiện qua rất nhiều vụ và mài dũa qua nhiều năm làm việc.

    Thực sự trở thành luật sư tranh tụng giỏi là không hề dễ dàng. Các luật sư nói chung và luật sư tranh tụng nói riêng luôn phải tự trau dồi, tích lũy kiến thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên.

    Theo: Global VietNam Lawyers

  • Trong thời đại ngày nay, các quyền của con người ngày càng được các Nhà nước tôn trọng và bảo vệ. Trong các quyền đó thì quyền được bào chữa là một quyền rất cần thiết và cực kỳ quan trọng và được Đại hội Luật gia dân chủ thế giới tại La Hay năm 1956 xem là thành trì cần thiết cho các quyền tự do khác.

    Vậy nghề luật sư là nghề như thế nào? khác gì so với các nghề khác. Chúng ta cùng tìm hiểu các đặc điểm nghề luật sư:

    Thứ nhất, Nghề luật sư là nghề tự do

    – Nghề luật sư trước hết hình thành từ nhu cầu, yêu cầu minh oan, bảo vệ cho bạn bè hoặc người thân thuộc bị nhà cầm quyền giam giữ hay bị trừng phạt một cách độc đoán, vô cớ Hoạt động này do người có trình độ, uy tín, lòng trắc ẩn, vị tha, hào hiệp và tự nguyện đứng ra thực hiện. Dần dần nó phát triển thành một nghề tự do có điều lệ, có quy chế do Nhà nước quy định hoặc thừa nhận;

    – Luật sư là nghề tự do bởi người hành nghề cũng như các tổ chức hành nghề không phải các tổ chức Nhà nước, không phải là cán bộ, công chức của Nhà nước. Người và tổ chức hành nghề hoạt động trong một chuyên môn và với một loại hình đặc biệt dịch vụ pháp lý;

    – Luật sư là nghề có chức năng xã hội là bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Thứ hai, Nghề luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý

    Nghề luật sư có giàu không?

    – Tham gia tố tụng để bào chữa cho các bị can, bị cáo, bảo vệ cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trong vụ án hình sự, làm người đại diện hoặc bảo vệ cho các đương sự trong vụ án dân sự, hành chính;

    – Tư vấn pháp luật, tư vấn giao dịch và hợp đồng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức;

    – Làm đại diện ngoài tố tụng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức;

    – Thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của khách hàng.

    Thứ ba, Nghề luật sư là nghề góp phần tích cực duy trì công lý và bảo vệ pháp luật

    Về duy trì công lý: Tham gia góp phần bảo vệ và giải phóng con người vì tự do của con người, vì các giá trị tự nhiên và phẩm chất xã hội của con người trên cơ sở tôn trọng chân lý khách quan, dựa vào các quy luật tự nhiên xã hội, dựa vào lợi ích của cộng đồng, của dân tộc và vì hoà bình trên thế giới.

    Về bảo vệ pháp luật: Tôn trọng và tuân thủ pháp luật, góp phần tuyên truyền pháp luật, hướng cho mọi người thực hiện các hành vi ứng xử trên cơ sở các quy định của pháp luật. Chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật.

    Thứ tư, Luật sư là nghề liên quan đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của cá nhân, tổ chức

    Kỹ năng tranh biện của người luật sư

    – Các hoạt động của luật sư trước hết hướng tới bảo vệ các giá trị vật chất và tinh thần của Nhà nước lợi ích của dân tộc, tránh mọi biểu hiện xâm phạm độc lập, chủ quyền, tự do và an ninh của Nhà nước, chống mọi biểu hiện và hành vi xâm phạm đến tài sản của Nhà nước cũng như luôn luôn bảo vệ các giá trị Quốc thể;

    – Hoạt động nghề nghiệp của luật sư là bảo vệ các quyền, lợi ích chân chính của mọi công dân, cá nhân như tài sản, danh dự, nhân phẩm…

    – Hoạt động của luật sư cũng liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của các tổ chức đặc biệt là các doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần khác nhau trong nền kinh tế quốc dân…

    Thứ năm: Nghề luật sư là nghề cao quý bởi hàm chứa những mục đích và phẩm chất cao đẹp đòi hỏi có trình độ và năng lực cao, có văn hoá và đạo đức trong sáng.

    Về mục đích: Mọi hoạt động hành nghề của luật sư hướng tới bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

    Về phẩm chất:

    + Luật sư là người có tư cách phẩm chất đạo đức trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật và xã hội cao.

    + Người hành nghề luật sư đòi hỏi phải có trình độ cao về kiến thức chuyên môn, thành thạo, chuyên sâu về nghiệp vụ, có năng lực độc lập giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp.

    + Luật sư là người có văn hoá ở trình độ chuyên môn, mọi hành vi ứng xử đều chứa đựng các giá trị về chân thiện mỹ.

    Thông qua các đặc điểm của nghề luật sư được trình bày ở trên, chúng ta thấy được địa vị pháp lý, vị trí xã hội, các giá trị chân chính của nghề luật sư.

    Trên thế giới, nghề luật sư là nghề có từ rất sớm, nó được hình thành từ nhu cầu bào chữa và trợ giúp pháp lý

    Ở Pháp (cũng như một số nước Châu Âu khác: Đức, Italia) nghề luật sư tồn tại từ lâu đời, bắt đầu hình thành từ thời kỳ trung cổ và ngày càng giữ vị trí khá quan trọng trong xã hội. Khi chế độ tư bản ra đời, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh thì nghề luật sư cũng phát triển nhảy vọt. Hiện nay, Pháp có khoảng 38.000 luật sư.

    Ở Mỹ, nơi mà nền kinh tế thị trường phát triển ở mức độ cao, là nước có số lượng luật sư đông nhất thế giới, khoảng gần 1 triệu luật sư.

    Tại Nhật Bản cũng là một nước có nghề luật sư phát triển mạnh, ngay từ năm 1949, Nhật đã có Luật số 205 điều chỉnh hành nghề luật sư.

    Ở Việt Nam, nghề luật sư có từ thời Pháp thuộc. Lúc bấy giờ (trước năm 1930) các luật sư người Pháp chiếm độc quyền hành nghề bào chữa và mói đến khi có sắc lệnh của Tổng thống Pháp 25/5/1930, thực dân Pháp mới tổ chức Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn. Và đến lúc này có luật sư người Việt Nam tham gia biện hộ.

    + Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngay sau đó, Nhà nước đã có những văn bản pháp lý đầu tiên quy định chế độ bào chữa, điều kiện công nhận luật sư. Nhưng do thời kỳ này nền kinh tế xã hội còn yếu kém, đất nước vừa trải qua giai đoạn chiến tranh, vì vậy nghề luật sư chưa được phát triển.

    + Pháp lệnh luật sư năm 1987 được ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và hoạt động của luật sư ở nước ta. Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 quy định một người tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ tương đương đại học pháp lý, được một đoàn luật sư kết nạp công nhận và cấp Thẻ thì trở thành luật sư và hành nghề luật sư.

    + Pháp lệnh luật sư năm 2001Luật luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) được ban hành, với các quy định đầy đủ về hành nghề luật sư, điều kiện gia nhập Đoàn luật sư… đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghề luật sư phát triển. Số lượng luật sư qua các năm như sau:

    + Năm 1989, cả nước có 186 luật sư (trong đó có 186 luật sư kiêm nhiệm).

    + Tính đến tháng 9/2001, trên cả nước có 2.100 luật sư, trong đó có 1.632 luật sư chính thức và 468 luật sư tập sự.

    + Tính đến ngày 31/5/2005, số lượng luật sư tăng lên 1.883 luật sư và 1.553 luật sư tập sự.

    + Tháng 6/2008, cả nước đã có gần 4.200 luật sư và 2.000 người hành nghề tập sự luật sư.Cùng với sự phát triển về số lượng, chất lượng luật sư cũng được bước nâng lên, bước đầu đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư.

    + Theo thống kê tháng 01/2019, số lượng Luật sư ở Việt Nam đã lên tới hơn 13.000 Luật sư đang hành nghề; gần 5.000 người tập sự hoạt động trong hơn 4.000 tổ chức hành nghề Luật sư.

    Nguồn bài viết tham khảo: Công ty Luật Dragon

  • Vận dụng pháp luật vào thực tiễn

    Tôi viết bài này dành cho các bạn đang tập sự, để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng “vác củi” này. Công việc của luật sư là vận dụng luật để tư vấn hay bào chữa; nhưng để làm được việc đó bạn phải đi qua hai bước là biết và hiểu luật. Vậy ta sẽ đi từ đầu.

    I. Biết điều “bí mật” của luật pháp

    Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong tâm lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày hôm nay; lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình bây giờ và cho con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ. Và luật pháp làm việc đó. Để làm, nó có một cách làm hay có một kỹ thuật, và kỹ thuật này được các nhà soạn thảo luật sử dụng khi soạn luật.

    Kỹ thuật kia, đối với một số bạn, nó là còn là một bí mật; vì nó có đấy nhưng các bạn chưa để ý! Còn các vị đàn anh của các bạn thì họ biết nó rõ như biết bàn tay của mình (không phải là biết vân tay đâu!)

    Khi đọc một văn bản quy phạm pháp luật, ta thấy chúng thường bắt đầu bằng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Phạm vi là các vấn đề, sự việc, công việc… mà luật điều chỉnh; còn đối tượng là người thực hiện các công việc đó và luật cũng chi phối họ luôn. Đó là hai kỹ thuật mà luật sử dụng. Biết chúng bạn sẽ hành nghề dễ dàng. Và đó là “biết luật”. Ta đi vào từng cái.

    A. Ấn định trách nhiệm

    Khi sống thì con người, chậu hoa, con chó hay cái xe… đều có thể gây thiệt hại cho người khác. Vì thế, luật pháp phải ấn định trách nhiệm cho mỗi thứ ấy. Trách nhiệm sẽ buộc anh A phải đền cho anh B, khi làm B bị thiệt hại, và mục đích của đòi hỏi ấy là lập lại trật tự đã bị vi phạm. Thí dụ, bạn – là B – đang quét sân trước cửa nhà mình, thì gió thổi làm cho chậu hoa của người hàng xóm – là A – rơi vào đầu bạn. Bạn bị chảy máu đầu rồi thấy nhức đầu. Trước lúc chậu hoa rơi, bạn lành lặn, không đau đớn chỗ nào. Đấy là trật tự đã có. Khi chậu hoa rơi vào đầu bạn thì trật tự kia đã bị vi phạm. Vậy ông A phải đền tiền cho bạn để đi khâu chỗ da bị rách; uống thuốc cho hết đau…; nghĩa là lập lại cái trật tự đã bị vi phạm. Trách nhiệm của A được luật gọi là trách nhiệm dân sự. Đến đây, bạn sẽ bảo tôi: “Cái này tôi biết thừa rồi!” Tôi nhắc nó lại ở đây để bạn nhớ trách nhiệm là gì, nó phục vụ ai và mục đích gì. Tôi đã thấy câu “chịu trách nhiệm trước pháp luật” ở mẫu hợp đồng công chứng (dân sự) nên nhân thể nhắc các bạn đừng phạm như người đứng ra làm… mẫu cho ta.

    Trên cuộc đời này có nhiều trật tự lắm và chúng nằm trong những lãnh vực khác nhau. Thí dụ, trật tự trong buôn bán, thuê nhà, làm việc, vay mượn tiền, sử dụng điện thoại, đầu tư, môi trường… Mỗi việc đó được luật gọi là hành vi bị điều chỉnh; nhưng nó là một giao dịch trong cuộc sống hàng ngày. Và ta sẽ gọi nó như thế. Trong sách vở, giao dịch được gọi là quan hệ xã hội, mối tương quan pháp lý… Tuy ba nhưng mà một. Khi nói chuyện với khách, bạn phải thoát khỏi sách vở để nói cho họ dễ hiểu. Bạn không thoát được sách vở thì bạn chưa biết luật! Và sợ nói sai.

    Trong mỗi giao dịch có ít ra hai người can dự, và người nọ có thể gây thiệt hại cho người kia. Để mỗi giao dịch diễn biến suôn sẻ, đạt được mục đích của các bên; luật quy định nội dung giao dịch (gọi là hành vi điều chỉnh) và mỗi bên can dự phải làm gì (đối tượng điều chỉnh). Chuyển ra thực tế thì khi một bên làm, bên kia được hưởng; vậy bên làm có trách nhiệm, còn bên hưởng có quyền lợi; cả hai bên đều có những trách nhiệm và những quyền lợi nhất định. Ai không thực hiện trách nhiệm của mình thì người ấy làm thiệt hại người kia. Thí dụ, trong hợp đồng mua bán tài sản, bên mua không trả tiền thì bên bán bị thiệt hại. Và trong thực tế bạn biết người sau sẽ làm gì. Luật pháp từ chữ nghĩa chuyển sang thực tế là như thế. Bạn cần nhớ “cặp đôi” này vì nó là bước đầu để vận dụng luật pháp.

    Luật ấn định đối tượng điều chỉnh tức là định ra người thực hiện giao dịch. Từ đó – trong thực tế – mỗi người có một “tư cách”. Và ở trong mỗi tư cách, người ta có trách nhiệm lẫn quyền lợi. Bạn nhớ, trách nhiệm của người này tạo nên quyền lợi cho người kia. Ấn định “tư cách” là một kỹ thuật của luật pháp.

    Danh từ “tư cách” trong luật khác ý nghĩa với “tư cách” trong luân lý. Cái trước là vị trí của mỗi người trong một giao dịch; cái sau là cách thức cư xử hay hành vi của một người nhất định (có triết gia gọi là cử thái, tiếng Anh là “behavior”). Tư cách theo nghĩa luân lý cho biết một người nào đó có đàng hoàng, đứng đắn hay không. Thí dụ như bạn nói “Ông ấy có tư cách”. Thế nhưng cũng nói câu y chang trong lãnh vực luật pháp thì nó có ý nghĩa ông ấy ở trong một vị trí nhất định và có quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp. Khi học ở trường luật, tư cách của một người được gọi là “địa vị pháp lý”. Từ ngữ này cho thấy bạn đứng từ ngoài và nói về một người khác không dính dáng gì tới bạn.

    Khi hành nghề ta phải đi tìm tư cách của khách hàng mình trong giao dịch liên quan, để xác định trách nhiệm rồi quyền lợi của họ. Đó là “lợi ích hợp pháp” của họ mà họ thuê bạn… bảo vệ. Bạn dùng danh từ “tư cách” thì dễ nhập vào làm một với họ trong suy nghĩ của mình.

    B. Quy định giao dịch

    Giao dịch xuất phát từ hai nguồn gốc. Một là sinh hoạt tự nhiên của dân chúng trong xã hội như buôn bán, làm nhà, chơi hụi, sinh con đẻ cái. Hai là những hoạt động do luật pháp đặt ra hay thiết lập vì chúng cần thiết cho sinh hoạt của xã hội, nhưng chưa tồn tại, hay chỉ mới manh nha trong thực tế. Thí dụ, trước năm 1987, ở ta không có người nước ngoài đầu tư; sau đó Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và lập ra công ty liên doanh. Sau này luật thiết lập thị trường chứng khoán rồi sàn giao dịch bất động sản…

    Về các sinh hoạt tự nhiên vốn đã có từ lâu trong đời sống xã hội, thì luật pháp “điều chỉnh” chúng; nghĩa là luật xác định chúng; bằng cách định nghĩa chúng là gì, thực hiện thế nào; các bên liên quan làm gì, trách nhiệm ra sao… Thí dụ Bộ Luật Dân sự năm 1995 của ta (LDS).

    Đối với các giao dịch chưa có hay mới manh nha xuất hiện trong đời sống xã hội, thì luật đặt ra chúng rồi điều chỉnh chúng giống như các hoạt động đã có sẵn. Tuy nhiên, trong trường hợp này luật thường dễ thay đổi để cho phù hợp với cuộc sống hơn, hay để đáp ứng với các điều kiện mới.

    Luật xác định hay đặt ra các giao dịch theo nhu cầu của cuộc sống; nhưng các luật gia luật phân loại chúng thành quy phạm, chế định, ngành luật tạo để nên hệ thống luật, hầu giúp chúng ta dễ nhớ khi học.

    Tóm lại, hai kỹ thuật luật pháp sử dụng là đặt ra các giao dịch, rồi ấn định tư cách của các người thực hiện giao dịch đó. Và đó là chữ nghĩa.

    C. Luật đi vào cuộc sống

    Trong cuộc sống hàng ngày mỗi người có nhiều tư cách. Thí dụ, ở nhà với bố mẹ, ông A là con (Luật Hôn nhân gia đình; quan hệ huyết thống); đến trường dạy học ông ta là thầy giáo, hiệu trưởng (Luật Giáo dục, quan hệ hành chính); ra chợ mua hàng thì là người mua (Luật Dân sự – quan hệ mua bán). Luật gọi là các bên; nhưng khi vận dụng luật ta phải chuyển mỗi bên thành một “tư cách”. Thí dụ, đọc thấy bên mua (hay Bên A) trong hợp đồng mua bán, thì bạn phải đổi họ thành “người mua”, hay “người bán. Như vậy, là khám phá ra “bí mật” của luật pháp! Tất nhiên, bạn có thể nói: “Tôi gọi là bên mua, bên bán; còn ông gọi là người mua, người bán, thế thì có khác gì nhau?” Tất nhiên là không, nhưng nếu có nhiều bên khác tham gia thì tiếng “bên” sẽ dễ làm bạn lẫn lộn trong suy nghĩ, và không nhận ra ngay bổn phận và quyền lợi của mỗi người. Luật sư phải suy nghĩ rạch ròi.

    Trong thí dụ chậu hoa rơi, bạn là chủ nhà, mua chậu hoa về để trên ban công lúc chiều, đến đêm nó rơi vào đầu ông hàng xóm. Ở đây, khi đứng ở vị trí của chậu hoa kia mà nói, bạn là “ông chủ chậu hoa”. Bạn không còn là “ông chủ nhà”! Phải là chủ chậu hoa thì mới bắt bạn đền được; còn nếu nói bạn là “chủ nhà” thì bạn sẽ chối ngay “tôi chẳng dính dáng gì đến chậu hoa cả!” Khi là “chủ chậu hoa” thì lúc đền, tư cách của bạn thành “người gây thiệt hại” và phải bồi thường cho nạn nhân. Bạn thấy không, chỉ trong một hoàn cảnh đơn giản như vậy, bạn có ba tư cách; mỗi tư cách làm cho bạn có nghĩa vụ và quyền lợi khác nhau. Việc bồi thường của bạn được quy định trong LDS về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Luật của Pháp gọi là lỗi (faute); luật Anh, Mỹ gọi là lầm lẫn (tort) hay công bằng (equity). “Tư cách” là cái mối rối nhất của một cuộn dây dài bị rối. Gỡ nó ra được thì gỡ cuộn dây rối được. Gỡ cuộn dây là giải quyết một sự tranh chấp.

    Như đã đề cập, mỗi giao dịch trong cuộc sống thì sách vở gọi là quan hệ xã hội. Gọi như thế là để trừu tượng hóa các loại giao dịch thành một. Tương tự, nó cũng được gọi là “quan hệ pháp lý” hay “tương quan pháp lý”.

    Nói “quan hệ pháp lý”, “pháp lý”… nhiều người dễ nghĩ đến tính chất long trọng của nó; thực ra nó chỉ là một sự việc, một vấn đề được luật quy định và bị buộc phải tuân theo. Tuân thủ luật pháp không phải vì nó là luật pháp, mà vì cái mục đích mà luật muốn phục vụ. Tôi xin mở rộng điểm này một tí để chúng ta không còn bị “hỏa mù” về “tính pháp lý”. Các bạn bằng lòng chứ?

    Khi nghe ai nói Luật Thừa kế quy định về các điều kiện hình thức và nội dung của bản di chúc để cho nó có giá trị pháp lý, không được sai sót. Nghe thế, ta thường sợ vì là “pháp lý”! Hãy khoan! Ta đặt câu hỏi: “Có giá trị với ai?” “Có phải với cơ quan chính quyền hay tòa án?” Thoạt nghĩ, bạn sẽ bảo ”với tòa án”, với “luật pháp”. Nghĩ kỹ hơn thì không phải vậy. Luật pháp hay tòa án có tranh chấp di sản với người thừa kế đâu; mà chính là các người kia với nhau và họ đem nhau ra tòa đấy chứ. Bên bảo “di chúc không có giá trị”; bên nói “có chứ”. Thực sự họ tranh chấp nhau về tài sản thừa kế; còn hình thức di chúc chỉ là cái cớ. Vậy tòa án phải quyết định hình thức di chúc đúng hay sai? Nhìn ra trước các sự tranh chấp kia, luật quy định các điều kiện của di chúc. Cứ soạn đúng như thế thì khỏi cãi nhau! Suy ra, “giá trị pháp lý của bản di chúc” là loại bỏ tranh chấp.

    Nhấn mạnh tính pháp lý của tờ di chúc vì tính chất long trọng của nó là chưa hiểu luật. Các quan chức hành chánh thường làm như thế. Là luật sư bạn cần nắm rõ vấn đề. Nếu các thừa kế nhìn nhận bản di chúc là ý muốn của bố mẹ họ, thì việc chứng thực mà luật buộc trở thành vô nghĩa!

    Trở lại đề tài, quan hệ xã hội hay tương quan pháp lý tạo ra tư cách. Tư cách ấn định trách nhiệm và quyền lợi. Quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm. Đó là các “bí mật” của luật pháp. Khi xem hợp đồng của khách hàng giao, bạn sẽ hoán chuyển: giao dịch cam kết thành vụ việc – các bên thành tư cách mỗi người. Nắm được tư cách, bạn sẽ bảo vệ được thân chủ mình vì biết ông ta có quyền lợi gì và với ai. Tư cách giúp mở tung vấn đề.

    Tuy nhiên, sau khi xem một giao dịch thì ta cũng phải xác định nó nằm trong lãnh vực nào: dân sự (trách nhiệm theo nghĩa vụ; theo hợp đồng và ngoài hợp đồng, lao động, thương mại); hành chính, hay hình sự. Thông thường, trách nhiệm dân sự buộc phải thực thi bằng tiền nếu vi phạm; trách nhiệm hành chánh thì cũng bằng tiền hay phải chấm dứt hoạt động; trách nhiệm hình sự thì bằng tiền, tù hay cả hai, tùy sự vi phạm. Câu viết ”tôi cam kết sẽ chịu mọi trách nhiệm” thì thực sự chỉ là một trong ba loại trách nhiệm trên.

    II. Vận dụng luật pháp

    Ở đây tôi chỉ đề cập luật dân sự tức là trách nhiệm dân sự.

    Các bạn đã học luật vậy đương nhiên các bạn biết luật. Đó là mức độ thứ nhất của người đã học luật. Khám phá ra “bí mật của luật” như tôi đã kể ở trên – mà đó là phần rất nhỏ – thì là bước đầu cho sự hiểu luật. Khi hiểu luật nhiều thật nhiều thì bạn dạy luật được. Vậy hiểu luật là mức độ thứ hai. Nhưng chỉ ở mức này thì chưa giúp gì được cho việc tái lập trật tự xã hội mà đã bị phá vỡ do sự vi phạm luật của một ai đó. Một phần trong vai trò của luật sư là tái lập trật tự.

    Tái lập trật tự xã hội về mặt dân sự là làm sao cho người thiệt hại được bồi thường. Vậy ngoài hai bên liên can phải có người thứ ba và bằng chứng, để giải thích, hay bắt buộc “người vi phạm” đền cho “nạn nhân” và người này phải biết vận dụng luật. Luật sư và thẩm phán nói chung (bao gồm kiểm sát viên) làm việc này. Ở đây tôi chỉ đề cập luật sư.

    Trở lại chậu hoa rơi thì việc vận dụng luật là:

    (i) Xác định ngành luật, phân tích khung cảnh (thời gian, không gian, chủ nhân) của sự việc chậu hoa hoa rơi, khiến gây thương tích;

    (ii) Người phải chịu trách nhiệm, chiếu theo quy định về “cây cối gây ra” hay “sức khỏe bị xâm phạm”;

    (iii) Bằng chứng; và

    (iv) Mối liên hệ nhân quả.

    Chọn ra một điều khoản nhất định của một văn bản luật nào đó áp dụng cho một sự việc nhất định, với những người nhất định, để ấn định trách nhiệm hầu tái lập trật tự là vận dụng luật pháp. Một người hiểu luật có thể có một trình độ cao, như tiến sĩ luật; nhưng sự hiểu biết ấy khó áp dụng trong thực tế vì luật chỉ áp dụng cho những người và cảnh nhất định đã xảy ra và phải làm sao thuyết phục được các người liên quan, vốn ít hiểu luật.

    Tôi xin lấy một thí dụ để làm rõ các mức độ: Biết luật, hiểu luật và vận dụng luật qua một số hành vi bị luật điều chỉnh. Ấy là: đi xe, quẹo xe và tránh xe ngược chiều. Luật Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định thế này.

    “Điều 9. Quy tắc chung

    Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.
    …………

    Điều 15. Chuyển hướng xe
    1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
    2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.
    3. Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe.
    4. Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ, đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất.

    Điều 17. Tránh xe đi ngược chiều
    1.Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình.
    2. Các trường hợp nhường đường khi tránh nhau quy định như sau:
    a) Nơi đường hẹp chỉ đủ cho một xe chạy và có chỗ tránh xe thì xe nào ở gần chỗ tránh hơn phải vào vị trí tránh, nhường đường cho xe kia đi;
    b) Xe xuống dốc phải nhường đường cho xe đang lên dốc;
    c) Xe nào có chướng ngại vật phía trước phải nhường đường cho xe không có chướng ngại vật đi trước.
    3. Xe cơ giới đi ngược chiều gặp nhau không được dùng đèn chiếu xa.”

    Áp vào ba mức độ đã nêu thì:

    1. Biết luật.

    Là biết các quy định trên trong thực tế. Đi xe máy trên đường (tham gia giao thông) thì phải đi như thế nào; lúc quẹo phải làm gì; và tránh xe đi ngược chiều thế nào.

    2. Hiểu luật.

    Một người hiểu luật thì biết rằng luật kia nhằm giữ cho mọi người an toàn khi đi đường. Nguyên tắc chung là mỗi người phải ở bên phải theo chiều đi của mình và khi đi như thế thì có ưu tiên vì được người khác nhường. Ai không nhường là vi phạm luật dù chưa đụng ai; còn mình đi không đúng thì cũng phạm luật dù cảnh sát chưa bắt.

    Khi muốn rẽ tay phải hay tay trái thì phải giảm tốc độ và ra dấu hiệu báo hướng rẽ. Hơn nữa, khi rẽ thì nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ rẽ khi thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác. Phải làm như thế vì mất ưu tiên khi đi.

    Nếu đi trên cầu xuống thì phải nhường đường cho xe đang lên dốc cầu. Phải làm vậy vì khi xe mình đi xuống, thì không phải đạp, hay không phải nhấn ga; tức là được an nhàn, kiểm soát được xe mình, và vì thế khó bị ngã. Trong khi ấy, khi người đi lên dốc cầu phải làm ngược lại, bánh trước cao, bánh sau thấp, khó kiểm soát nên dễ bị ngã. Luật áp dụng đạo đức con người là người mạnh phải nhường cho người yếu.

    Người hiểu luật sẽ giải thích các quy định của luật, tại sao nó có và có thể mở rộng thêm bằng cách giảng luân lý, người đối xử với người; hay tập tục trên thế giới về việc lái xe theo bên phải hay bên trái. Lúc đó sẽ là thầy giáo giỏi.

    3. Vận dụng.

    Người vận dụng luật là khi phải giải quyết một vụ tranh chấp. Thí dụ, anh A đang đi xe đạp bên tay phải trên đường Cách mạng Tháng Tám, khu quận 3, gần đến ngã tư Võ Văn Tần. Đến sát ngã tư, A bị ngã vì B đi xe máy, vượt lên để rẽ phải, áp sát và đụng anh ta. B thấy đèn vàng bèn chạy nhanh lên vì có bảng ghi “Cấm rẽ phải khi đến đỏ”. A đến nhờ bạn thưa B.

    Muốn làm bạn phải vận dụng luật, giống như trình bày ở vụ chậu hoa rơi. (Tôi không thể dùng vụ lai chậu hoa rơi ở đây được vì nó không có thí dụ cho việc biết và hiểu luật). Bạn phải xác định ngành luật phù hợp. Ở đây bạn không nhảy sang Bộ Luật Hình sự (Điều 108); mà phải tìm Luật Giao thông đường bộ. Bạn sẽ thấy B vi phạm Điều 15.2. Vậy là xác định vi phạm (hành vi bị điều chỉnh). Đi tiếp, bạn phải tìm cách để B đền tiền cho A? Bạn không thể làm một luận án như tiến sĩ ở đây! Luật sư khác tiến sĩ ở chỗ này. Bạn sẽ vận dụng điều 15.2 kia vào trường hợp cụ thể, tức là của A.

    Để vận dụng luật bạn phải biết đặt câu hỏi pháp lý. Đặt câu hỏi như thế là một vấn đề căn bản của mọi luật sư. Và bạn phải làm sau khi đã xem xét nội vụ.

    Câu hỏi ấy có thể là: “B có vi phạm luật không?”. Thường thì các bạn hỏi như vậy. Hỏi như thế, đối tượng bạn nhắm vào là luật pháp, tức là Điều 15.2 kia (vi phạm luật mà). Nhưng ở đây là A cơ. Vậy bạn nên hỏi: “Khi làm A ngã, thì B đã đi phải hay đi trái?” Đi phải hay trái cũng là dựa theo luật, nhưng bạn đã đưa A vào cuộc. Thực ra, hỏi theo câu trước hay sau thì cũng là đặt câu hỏi pháp lý vì chúng đều dựa vào luật. Nhưng cách sau cho câu trả lời nhanh hơn.

    Hỏi theo câu đầu thì câu trả lời lần lượt theo logic sẽ là: (i) B có vi phạm luật; (ii) vì luật buộc B phải nhường quyền đi trước cho người người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, tức là A; (iii) vậy B phạm lỗi với A và phải đền cho A. Bạn thấy không, bạn nhắm vào luật thì bạn phải nêu luật ra, rồi mới đưa B vào được.

    Hỏi theo cách sau thì câu trả lời là: B đi trái luật nên làm ngã A; vậy phải đền cho A. Trong câu hỏi sau bạn nhắm vào B, nên câu trả lời nhanh hơn, xác định vi phạm rõ hơn.

    Bạn có thể phản đối tôi, vì thế tôi nói “nên hỏi”. Ai giải quyết vấn đề đúng và nhanh thì hiệu quả hơn người làm chậm. Luật sư là một người làm kỹ thuật. Luật là một thực tế. Ai làm hiệu quả hơn thì người ấy giỏi.

    Vậy, khi đọc bài này xong, bạn có thể biết mình đang ở mức độ nào. Vai trò của luật sư là vận dụng luật pháp. Chúng ta dễ gặp người biết luật; nhưng họ thường chưa hiểu luật; còn vận dụng được thì phải mất nhiều công. Bởi thế các tòa án ở Mỹ, họ chỉ cho phép luật sư tham dự các vụ tranh chấp. Sở dĩ vậy vì luật sư biết cách đặt câu hỏi pháp lý, biết cách tranh tụng để đưa ra chân lý, giúp tòa ra bản án chấp chóng vánh và thuyết phục. Dạy cách vận dụng luật chưa được chú trọng trong các trường luật của ta. Các bạn nên biết cách này, nếu muốn hành nghề thành công. Tôi sẽ trở lại với các bạn trong các đề tài khác. Các bạn có thể trao đổi với tôi về đề tài này, nếu muốn. Ngồi uống nước ở sân trước của Đoàn (Một chiều mưa tầm tả chẳng hạn… nhưng ai rủ thì phải bao tôi).

    Luật sư Nguyễn Ngọc Bích
    Công ty Luật HD DC
    Nguồn bài viết: Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

  • Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sách chuyên sâu về nghề luật sư, mỗi cuốn sách đều đem lại cho không chỉ dân luật mà bất cứ ai những thông tin hữu ích riêng. Dưới đây là danh sách tổng hợp một số cuốn sách hay về pháp luật và nghề luật sư giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn khác nhau và bổ sung những kiến thức về luật pháp vô cùng quý giá.

    1. Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư – Luật Sư Nguyễn Ngọc Bích

    Nội dung quyển sách Tư duy pháp lí của Luật Sư được chia làm 4 phần:

    Tư duy pháp lý của Luật sư

    Phần một: Giới thiệu với bạn về tư duy pháp lý và đưa ra các điều kiện bạn phải có, hay phải thay đổi so với trước kia để có thể có tư duy pháp lý. Tốt nghiệp trường luật xong bạn chưa có khả năng tư duy pháp lý để làm luật sư; vì trường luật đào tạo bạn làm cán bộ pháp chế (tức là soạn luật để cho người khác áp dụng, và giám sát việc thực hiện luật). Bạn sẽ biết về điều này rõ hơn khi đọc Chương 2 của phần này.

    Phần hai: Trình bày cách tư duy pháp lý; gồm phương pháp thực hiện; các vụ án để bạn… luyện chưởng và biết tính chất của các câu hỏi pháp lý.

    Phần ba: Đưa ra một số vụ án để các bạn tập làm một mình hầu kiểm tra mức độ sử dụng tư duy pháp lý…

    Phần bốn: Một số bài đọc thêm để bạn mở rộng kiến thức.

    2. Hiến Pháp Mỹ Được Làm Ra Như Thế Nào? – Nguyễn Cảnh Bình

    Hiến Pháp Mỹ Được Làm Ra Như Thế Nào? – Nguyễn Cảnh Bình

    Quyển sách này sẽ cung cấp cho bạn độc quan tâm đến pháp luật bức tranh toàn cảnh về sự ra đời của Hiến pháp Mỹ, đất nước được mệnh danh là xứ sở của tự do và quyền con người. Nó được làm ra trong những cuộc tranh luận nảy lửa tưởng như không có lối thoát và những mối bất đồng sâu sắc, bởi những bộ óc vĩ đại có một không hai trong lịch sử và bằng một tinh thần mà người ta khó có thể tìm một tính từ nào thay thế ngoài cách gọi – “tinh thần Mỹ”. Đó là sự tôn trọng đặc biệt lẫn nhau, thừa nhận những quan điểm hoàn toàn khác biệt, chấp nhận và cùng thỏa hiệp để đi tới lợi ích chung cuối cùng.

    Nội dung cuốn sách hay về luật Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? bao gồm những mẩu chuyện rất hấp dẫn về quá trình soạn thảo Hiến pháp, về những cuộc tranh luận cực kỳ gay go và nan giải trong quá trình soạn thảo bản Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, những bức thư đầy tính nhân bản và trách nhiệm của những người tham sự Hội nghị lập hiến.

    3. Luật 101 – Jay M. Feinman

    Thông qua quyển sách hay về Luật 101 này, tác giả muốn đưa cái nhìn tổng quát và cập nhật đầy đủ về hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, bao gồm tư liệu mới về các vụ kiện được Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ xét xử năm 2009, khía cạnh pháp lý về cuộc chiến chống khủng bố (kể cả những người bị giam giữ ở Guantanamo và cổng từ an ninh), và những tiến triển gần đây nhất của luật về Internet.

    Luật 101 – Jay M. Feinman

    Trong một cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề pháp lý nan giải, những mẩu chuyện nhỏ đầy thú vị, và các câu hỏi đáng phải suy ngẫm, cách dẫn chứng luật một cách rõ ràng của Jay M.Feinman giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc về truyền thống pháp luật của Mỹ và bao quát cả những môn học chính được dạy ở năm đầu trong trường luật. Độc giả được giới thiệu mọi khía cạnh của hệ thống pháp luật, từ luật hiến pháp và quá trình tranh tụng cho đến luật bất cẩn, luật hợp đồng, luật sở hữu trí tuệ, và luật hình sự.

    4. Bàn Về Tinh Thần Pháp Luật – Montesquieu

    Bàn Về Tinh Thần Pháp Luật - Montesquieu

    Bàn về tinh thần pháp luật là tuyệt tác triết học của Montesquieu, là một trong những tác phẩm vĩ đại trong lịch sử triết học chính trị và trong lịch sử luật học. Mục đích cuốn sách, như chính tác giả đã nêu, là: Trình bày những nguyên nhân quyết định nền pháp lý cho mỗi quốc gia; trình bày sự phù hợp cần thiết giữa luật lệ và chế độ cai trị của một nước; trình bày những quan hệ giữa các luật lệ với nhau. Ông đã phải mất gần 20 năm cho tác phẩm này

    Bàn về tinh thần pháp luật của Montesquieu cùng với Bàn về Khế ước xã hội của Rousseau được coi là bộ đôi tác phẩm “xây dựng lý thuyết về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền, dẫn tới cuộc Đại cách mạng Pháp 1789”. Những giá trị kinh điển của hai tác phẩm cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và được coi như những “tinh hoa tư tưởng của nhân loại”.

    5. Bàn Về Khế Ước Xã Hội – J. J. Rousseau

    Về mục đích cuốn sách, tác giả viết: “Tôi muốn tìm xem trong trật tự dân sự có hay không một số quy tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết đối đãi với con người như con người. Và có hay không luật pháp đúng với những ý nghĩa chân thực của nó”. Với luận văn này, J. J. Rousseau muốn “gắn liền cái mà luật pháp cho phép làm với cái mà lợi ích thúc đẩy phải làm, khiến cho công lý và lợi ích không tách rời nhau”.

    Bàn Về Khế Ước Xã Hội - J. J. Rousseau

    Cuốn sách được in chui và phát hành đầu năm 1762, khi mà Chính phủ Hoàng gia và Nghị viện Pháp ra lệnh đốt một số sách của Rousseau. Ông phải chạy trốn, sống cuộc đời lưu vong, không ổn định và nghèo khổ, cho đến ngày 2/7/1788, từ giã cõi đời tại làng Camenonville, và chôn trên hòn đảo Dương Liễu heo hút ngày 4/7/1788.

    Toàn bộ luận văn trên dưới sáu vạn chữ được chia làm bốn quyển:

    Quyển thứ nhất gồm 9 chương: mở ra những ý niệm chung về sự hình thành một xã hội người từ trạng thái tự nhiên chuyển sang trạng thái dân sự và những ý niệm chung về việc thành lập Công ước xã hội.

    Quyển thứ hai gồm 12 chương: chủ yếu bàn về vấn đề lập pháp.

    Quyển thứ ba gồm 18 chương: bàn chủ yếu về vấn đề cơ quan hành pháp.

    Quyển thứ tư gồm 9 chương: bàn tiếp nhiều vấn đề, trong đó nổi lên vấn đề cơ quan tư pháp.

    Những người yêu J. J. Rousseau và đã đọc Khế ước xã hội thường nói: đọc Khế ước xã hội thật là mệt. Vì văn chương của tác giả vừa uyên thâm, vừa uẩn súc; cách lập luận của ông dựa vào phương pháp logic kiểu Descartes, rành rọt, hiển nhiên, nhưng đồng thời bao quát nhiều ý niệm, soi vào nhiều góc cạnh của vấn đề, lại phải trình bày rất khéo léo những quan điểm đối nghịch với chính thống đương thời. Bài luận văn có những câu dài tới trên 10 dòng, phải tách nhỏ ra một cách linh hoạt thì mới diễn dịch được tư duy của tác giả. Nhưng thật là một niềm vui lớn cho người nghiên cứu khi nắm bắt được những ý lớn và khái quát được tư tưởng vĩ đại của J. J. Rousseau trong Khế ước xã hội.

    6. Cộng Hòa – Plato

    Cộng Hòa - Plato

    Cuốn sách được xem là cột mốc lớn của triết học phương Tây. Tác phẩm được trình bày dưới dạng đối thoại giữa Plato và những người khác. Mặc dù chủ đề chính là về một nhà nước lý tưởng nhưng nó cũng xoay quanh giáo dục, tâm lý, đạo đức và chính trị. Trong các đoạn chính của Cộng hòa, Plato sử dụng những huyền thoại để khám phá bản chất tự nhiên của thực tế, truyền đạt cái nhìn về sự tiên đoán của con người và vai trò của triết học trong việc thiết lập tự do.

    Ông tưởng tượng ra một cái hang mà những con người bị xiềng xích từ khi mới sinh ra làm bạn với cái bóng của mình và mang họ đến thực tế. Vai trò của triết học, cụ thể là những gì Plato gọi là biện chứng, là đưa con người ra khỏi cái bóng và hướng bản thân họ tới thực tế. Đây là bản chất của việc theo đuổi sự khôn ngoan mà không có nhà nước lý tưởng nào không làm. Độc giả hiện đại có thể đồng ý với mọi điều Plato nói, cũng như lập luận chặt chẽ, cái nhìn đầy chất thơ vẫn có sức mạnh trong việc kích thích và thách thức. Sức mạnh lâu dài này đã làm của Cộng hòa trở thành một trong những nền tảng của văn hóa phương Tây.

    7. Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn – Trương Nhật Quang

    Cuốn sách “ Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn” được viết chủ yếu cho đối lượng bạn đọc là các luật sư trẻ với mong muốn giúp các bạn đào luyện các kỹ năng cơ bản để thành công trong môi trường một công ty luật chuyên nghiệp. Ngoài các luật sư trẻ, các sinh viên luật và các giảng viên luật có thể tìm thấy những thông tin giúp ích cho quá trình học tập và giảng giạy kỹ năng hành nghề luật sư tại các trường luật ở Việt Nam. Tác giả cũng hy vọng cuốn sách có thể giúp các luật sư có kinh nghiệm hồi tưởng và nhớ lại các kinh nghiệm đúc kết trong suốt quá trình hành nghề bận rộn của mình.

    Khi viết cuốn sách này, tác giả không có tham vọng trình bày tất cả các kỷ năng có liên quan đến quá trình hành nghề luật sư. Tác giả chỉ tập trung trình bày các khả năng mà tác giả cho là quan trọng, cơ bản và cần thiết nhất đối với luật sư, đặc biệt là các luật sư trẻ mới bước vào nghề. Các kỹ năng được trình bày trong cuốn sách về cơ bản bao gồm: kỹ năng nghiên cứu và phân tích, kỹ năng trình bày, kỹ năng soạn thảo và đàm phán hợp đồng, kỹ năng dịch thuật, kỹ năng quan hệ với khách hàng, kỹ năng làm việc với cơ quan nhà nước và các kỹ năng mềm khác. Ngoài các kỹ năng hành nghề và các kỹ năng mềm trên, các vấn đề đạ đức nghề nghiệp và trách nhiệm cảu luật sư khi hành nghề phát sinh nhiều trong thời gian vừa qua cũng được thảo luận.

    8. Triết học luật pháp – Raymond Wacks

    Triết học luật pháp là một dẫn nhập về pháp luật sinh động và dễ tiếp cận. Cuốn sách đề cập và thảo luận về nhiều chủ đề bao gồm quyền của phụ nữ, vấn đề phân biệt chủng tộc, bảo vệ môi trường, bàn về cuộc chiến tranh Iraq và cách đối phó với các nghi phạm khủng bố.

    Triết học Luật pháp

    Viết về triết học luật pháp – một lĩnh vực đầy thử thách nhưng Raymond Wacks đã không đem đến một cuốn sách khô khan mà trái lại, đã đem tới một cuốn sách nhỏ, thú vị, dẫn dắt người đọc tìm hiểu, khám phá những khái niệm của luật pháp cũng như vai trò của nó trong cuộc sống của chúng ta.

    Nhắc tới những nhà tư tưởng quan trọng của thế giới từ cổ điển tới hiện đại, ông đã nhìn vào những câu hỏi trung tâm đằng sau lý thuyết pháp lý mà đã luôn thu hút những luật gia và các nhà triết học, cũng như nhiều người khác về mối quan hệ giữa pháp luật với công lý, đạo đức và dân chủ.

    9. Hướng dẫn khởi nghiệp với nghề luật sư – Nguyễn Hữu Phước

    Hướng dẫn khởi nghiệp với nghề luật sư

    Với những ai muốn trở thành luật sư riêng hoặc thành lập một công ty, văn phòng luật sư để hành nghề thì điều cốt lõi là phải có kiến thức trong quá trình khởi nghiệp. Công việc của một luật sư không hề đơn giản, bởi sự cạnh tranh về trình độ chuyên môn, uy tín của các luật sư khác khiến cho những người mới vào nghề gặp nhiều khó khăn, trở ngại.

    Hướng dẫn khởi nghiệp với nghề luật sư” là một quyển sách rất hữu ích được biên soạn bởi Tác giả Nguyễn Hữu Phước đồng thời là Luật sư sáng lập của Phuoc & Partners. Quyển sách được đúc kết từ sự đam mê nghề nghiệp và những kinh nghiệm làm việc thực tế của Luật sư Nguyễn Hữu Phước trong hơn hai mươi năm hành nghề luật sư tư vấn.

    10. Lịch Sử Nghề Luật Sư Ở Việt Nam – Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa

    Lịch Sử Nghề Luật Sư Ở Việt Nam

    Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam là công trình nghiên cứu độc lập về quá trình hình thành và phát triển nghề nghiệp luật sư ở nước ta, từ thời kỳ đầu tiên dưới ách độ hộ của thực dân Pháp, qua các chế độ trước năm 1975, cho đến ngày nay. Đây là quyển sách chuyên khảo liên ngành tiếp theo quyển Truyền thống luật sư Việt Nam cũng do hai tác giả biên soạn, được Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản cuối năm 2014, đã được dư luận độc giả hoan nghênh, tìm đọc.

    Về tác giả: hai luật sư có quá trình hoạt động nghề nghiệp gần như suốt đời mình, Luật sư Phan Đăng Thanh và Luật sư Trương Thị Hòa còn là hai nhà nghiên cứu lịch sử, từng nhiều năm tham gia giảng dạy bộ môn “Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam” ở các Trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh (như: Trường Đại học Mở – Bán công, Đại học Luật, Đại học Tổng hợp sau là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh…) và diễn giảng các môn về kỹ năng hành nghề tại Trường đào tạo nghề luật sư thuộc Bộ Tư pháp – Học viện Tư pháp hiện nay.

    Qua nội dung quyển sách này, tác giả đã sưu tầm các nguồn tài liệu khả tín từ các Kho lưu trữ quốc gia của Nhà nước qua các thời kỳ, Thư viện Khoa học Tổng hợp và Thư viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, các sách báo và hình ảnh từ nguồn mạng điện tử, tư liệu gia đình do người thân của các cố luật sư cung cấp.

    Ngoài ra, vẫn còn rất nhiều sách hay về những chủ đề khoa học pháp lý và lĩnh vực pháp lý như: Sổ tay thẩm phán về tranh chấp dân sự, những mẫu hợp đồng thông dụng, tranh chấp điển hình trong quản trị doanh nghiệp,…

    Nhìn chung, những quyển sách hay trên đây đều được viết bởi những tác giả rất nổi tiếng, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề và am hiểu sâu rộng về ngành luật và khoa học pháp lý; xứng đáng là những tài liệu bổ ích, vô cùng cần thiết mà bất kì người học Luật nào cũng nên đọc.

    Nguồn bài viết: Sưu tầm internet

  • Hiện nay ngành luật khá phổ biến trong cả nước nói chung và Việt Nam nói riêng, vì mục tiêu ra trường có việc làm cao. Theo thống kê năm 2020 cho thấy, đến nay có gần 50 trường đào tạo ngành luật trên cả nước. Cùng jes.edu tìm hiểu về danh sách các trường đại học luật uy tín mà hằng năm đào tạo nên hàng ngàn luật sư giỏi để cung cấp nhu cầu nhân sự cho các công ty luật tại Việt Nam nhé.

    Các trường đại học có sự phân bố đồng đều trong tất cả các khu vực
    Miền bắc
    trong những năm gần đây số lượng sinh viên đăng ký học các ngành khác và cũng như ngành luật tăng cao.

    1. Đại học luật Hà Nội với các ngành luật như: Luật kinh tế, luật học, luật thương mại quốc tế;

    2. Đại học Nội Vụ Hà Nội: Luật học;

    3. Đại học Công Đoàn: Luật học;

    4. Đại học Văn Hóa Hà Nội: Luật học, luật kinh tế;

    5. Đại học Mở Hà Nội: Luật học, luật quốc tế;

    6. Đại học Kiểm Sát Hà Nội: Luật học;

    7. Đại học Quốc Gia Hà Nội: Luật kinh doanh, luật học;

    8. Đại học Thái Nguyên: Luật học, luật kinh tế, luật kinh doanh quốc tế;

    9. Đại học Hàng Hải Việt Nam: Luật Hàng Hải;

    10. Đại học Ngoại Thương: Chuyên ngành luật thương mại quốc tế;

    11. Đại học Thương Mại: Luật kinh tế;

    12. Đại học Kinh tế Quốc dân: Luật, luật kinh tế;

    13. Đại học Kinh doanh công nghệ Hà Nội: Luật kinh tế;

    14. Đại học Hà Tĩnh: Luật học;

    15. Học viện phụ nữ Việt Nam: Luật học;

    16. Học viện Ngoại giao Việt Nam: Luật quốc tế;

    17. Đại học Vinh: Luật học, luật kinh tế;

    18. Đại học Hồng Đức – Thanh Hóa;

    19. Đại học Quảng Bình: Luật kinh tế, luật hành chính – tư pháp.

    20. Đại học luật – Đại học Huế: Luật dân sự, luật hình sự, luật kinh tế, luật quốc tế, luật hành chính;

    21. Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng: Luật học, luật kinh tế, luật kinh doanh;

    22. Đại học Duy Tân – Đà Nẵng: Luật kinh tế;

    23. Đại học Tài chính kế toán – Quảng Ngãi: Luật kinh tế.

    24. Học viện Tòa án – ngành Luật;

    25. Học viện Tư pháp (có cả phân viện tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành trên cả nước): Đào tạo nghiệp vụ Luật sư, Thẩm định giá, công chứng, đấu giá

    Các trường Đại học đào tạo ngành Luật tại khu vực phía Nam

    1. Đại học Luật Đà Lạt;

    2. Đại học Kinh tế – luật: Luật kinh doanh, luật thương mại quốc tế, luật dân sư, luật tài chính;

    3. Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh: Luật thương mại, luật dân sự, luật hình sự, luật hành chính, luật quốc tế và quản trị luật.

    4. Đại học Sài Gòn: Luật hành chính, luật thương mại, luật kinh doanh;

    5. Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh: Luật kinh doanh;

    6. Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh: Luật học;

    7. Đại học Tôn Đức Thắng: Luật học;

    8. Đại học Ngân hàng Thành Phố Hồ Chí Minh: Luật kinh tế;

    9. Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh: Luật kinh doanh, luật thương mại quốc tế, luật tài chính ngân hàng;

    10. Đại học kinh tế tài chính thành phố Hồ Chí Minh: Luật kinh tế, luật quốc tế, luật học;

    11. Đại học Nguyễn Tất Thành thành phố Hồ Chí Minh: Luật kinh tế;

    12. Đại học Bình Dương: Luật kinh tế;

    13. Đại học Lạc Hồng – Đồng Nai: Luật kinh tế.

    14. Đại học công nghệ miền đông Đồng Nai: Luật kinh tế;

    15. Đại học Trà Vinh: Luật học;

    16. Đại học An Giang: Luật kinh tế, luật hành chính, luật dân sự;

    17. Đại học Cần Thơ: Luật hành chính, luật thương mại, luật tư pháp;

    18. Đại học Long An: Luật kinh tế;

    19. Đại học Thủ Dầu Một: Luật học;

    20. Đại học Tin học – Ngoại ngữ thành phố Hồ Chí Minh: Luật kinh tế.

    Trên đây là danh sách tổng hợp các trường đào tạo ngành luật trong cả nước và các chuyên ngành đào tạo của mỗi trường (cập nhật tháng 05/2020).

    Nguồn bài viết: JES

  • Ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, luật sư là nghề có triển vọng, được nhiều người kính trọng và cũng là sự nghiệp mong muốn của nhiều người. Thế nhưng, để đạt được giấc mơ đó lại không hề đơn giản.

    Theo luật pháp Việt Nam, một người muốn trở thành luật sư bắt buộc phải đảm bảo các điều kiện sau: có bằng Cử nhân Luật, qua lớp đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư, trải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, đạt kết quả kỳ thi kết thúc tập sự. Ngoài ra, người luật sư còn phải có nhiều yếu tố khác như có phẩm chất đạo đức tốt, đảm bảo điều kiện sức khỏe tốt để hành nghề,…

    Không kém gì các ngành trong khối Khoa học Sức khỏe, sinh viên theo học ngành Luật sư phải trải qua một quãng thời gian tương đối dài, tối thiểu 6 năm gồm 4 năm học bằng Cử nhân và 2 năm học lấy bằng hành nghề Luật sư, thậm chí có thể dài hơn. Có những người mất đến cả chục năm trên còn đường trở thành luật sư, và có những người theo đuổi cả cuộc đời nhưng không thể vượt qua được kỳ thi. Có nhiều người cho rằng, thời gian đào tạo nghề Luật sư như vậy là quá lâu, dẫn đến việc xây dựng sự nghiệp và đạt được thành công muộn hơn bạn bè cũng trang lứa. Tuy nhiên, ý kiến này lại hết sức chủ quan bởi nghề Luật sư không hề giống những nghề bình thường khác. Người theo đuổi nghề này buộc phải nắm vững pháp luật, hội tụ những kỹ năng chuyên môn cần thiết, đồng thời lại phải có đạo đức nghề nghiệp. Luật sư không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân mà còn góp phần không nhỏ vào việc phát triển xã hội.

    Chính vì vậy, để trở thành một Luật sư đúng nghĩa, mỗi người phải trải qua một khoảng thời gian rèn luyện nghiêm túc, có học vấn vững vàng đồng thời được đào tạo những kỹ năng bài bản. Nếu bạn thực sự có đam mê và nhiệt huyết với nghề thì 6 năm rèn luyện không phải là một thời gian dài.

    Mỗi ngành nghề đều có những buồn vui riêng của nó. Bên cạnh những khó khăn, vất vả, rào cản, có thể thấy nhiều Luật sư, văn phòng Luật sư vẫn tồn tại và hoạt động rất hiệu quả. Vậy, vì sao khó khăn chồng chất như vậy, họ vẫn tồn tại được?

    Luật sư phải sở hữu các kỹ năng mềm cần thiết như khả năng hùng biện; nắm bắt, tổng hợp và phân tích vấn đề; thuyết phục người khác,…

    Trước tiên, một Luật sư muốn tồn tại và có chỗ đứng trong xã hội thì phải có cái “tâm” trong sáng. Chữ “tâm” ở đây là thực sự tâm huyết, yêu và hiểu nghề mà mình đang theo đuổi. Họ phải làm việc với tất cả sự nhiệt huyết, trăn trở, ưu tư, sống chết với nghề. Ở hầu hết tất cả các ngành nghề đều có người này người kia. Nghề Luật sư cũng vậy. Nhưng những Luật sư tồn tại được phải là người sống bằng cái tâm trong sáng. Họ theo nghề bằng con đường chân chính, bằng việc vận dụng đúng pháp luật. Điều đó được thể hiện bằng một số hành động như: Luật sư phải tư vấn đúng cho khách hàng của mình những việc họ cần phải làm, không lợi dụng khách hàng, không giúp khách hàng áp dụng sai pháp luật,…

    Thứ hai, Luật sư phải là người nắm chắc các quy định của pháp luật để có thể áp dụng và tư vấn cho nhiều trường hợp khác nhau trong cuộc sống. Không chỉ nắm đầy đủ các quy định, một Luật sư giỏi còn phải biết vận dụng linh hoạt và chính xác những quy định ấy để có thể mang lại kết quả tốt nhất cho thân chủ.

    Thứ ba, Luật sư phải sở hữu các kỹ năng mềm cần thiết như khả năng hùng biện; nắm bắt, tổng hợp và phân tích vấn đề; thuyết phục người khác,… Kỹ năng mềm đóng vai trò rất quan trọng đối với Luật sư trong việc có thành công hay không bởi nghề Luật sư vừa phải giao tiếp với rất nhiều người, vừa phải tự nắm bắt các vấn đề, thông tin của khách hàng,…

    Ngoại ngữ cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp tạo nên chỗ đứng cho người Luật sư. Ở Việt Nam, số lượng Luật sư có khả năng ngoại ngữ tốt không nhiều. Trong khi đó, đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ theo xu hướng hội nhập với Thế giới. Khách hàng và những vụ việc có yếu tố nước ngoài là những “mảnh đất” màu mỡ tạo ra thu nhập lớn cho những Luật sư. Chính vì vậy, việc các Luật sư có trình độ ngoại ngữ tốt sẽ có lợi thế hơn so với những Luật sư không có trình độ ngoại ngữ hoặc trình độ ngoại ngữ kém.

    Trong tương lai tới đây, nghề luật sư chắc chắn sẽ phát triển mạnh tại Việt Nam khi nền kinh tế đang từng bước khởi sắc thu hút đầu tư nước ngoài. Mọi con đường đi đến thành công đều gập ghềnh, gian khó. Nghề luật sư cũng vậy, muốn thành công chúng ta phải trải nghiệm qua khó khăn. Khi hội tụ đủ cố gắng, say mê, tâm huyết và ý chí thì chắc rằng chúng ta sẽ là luật sư thành công với tương lai đầy hứa hẹn.

    Nguồn bài viết: http://nganhluatvn.edu.vn/

  • Trong cuộc đời mỗi chúng ta, hiếm ai chưa từng một lần học bơi; có người học nhanh, có người học chậm nhưng cũng có người vĩnh viễn bỏ cuộc vì không vượt qua được nỗi sợ hãi khi đối mặt với dòng nước. Những Luật sư tập sự thường được ví như chập chững học bơi, để đến khi trở thành một luật sư thực thụ là bắt đầu hành trình ra biển lớn.

    Hẳn không ít sinh viên Luật vỡ mộng khi mang tấm bằng cử nhân và chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ luật sư đến gõ cửa của các Văn phòng, Công ty Luật để xin bắt đầu quá trình học bơi gian nan.

    Câu trả lời chung của các Luật sư đang hành nghề là: Hiện nay điều kiện tiếp nhận luật sư tập sự khắt khe lắm, nên rất khó khăn; nào là phải 03 năm hành nghề luật sư, mỗi luật sư chỉ được hướng dẫn tập sự cho 3 người… Nào là hành nghề luật sư khó lắm, không dễ tồn tại, phải chuẩn bị mọi thứ trước…

    Vậy cần chuẩn bị những gì?

    Điều kiện tiên quyết chính là tâm lý phải thật vững vàng. Nghề nào cũng vậy, chỉ đơn giản khi nhìn bề nổi. Không phải tự nhiên mà trong hơn 5000 sinh viên Luật tốt nghiệp mỗi năm, số người quyết tâm theo nghề chỉ là một con số vô cùng khiêm tốn, chưa kể không phải ai cũng theo đuổi đến cùng. Nguyên nhân vì đâu?

    Thứ nhất, là thời gian. Hơn 04 năm trời ở trường đại học, nếu suôn sẻ sẽ thêm 02 năm cho quá trình đào tạo nghiệp vụ luật sư và tập sự trực tiếp. Chỉ tính riêng thời gian “cứng” đã là 06 năm, và con số thực tế bao giờ cũng kéo dài hơn nhiều.

    Thứ hai, vấn đề tài chính. Sinh viên vừa mới chân ướt chân ráo rời ghế nhà trường, chưa kinh nghiệm thực tế, khả năng tài chính phần lớn còn quen phụ thuộc vào gia đình. Tập sự hành nghề chính là tiếp tục quá trình học tập mới – học đi đôi với hành. Đã đi học lại không phải đóng học phí đã là một điều may mắn, việc tạo ra thu nhập trong thời gian này thực sự còn khá khó khăn cho những người trẻ tuổi. Không phải tự nhiên mà các sinh viên Luật thường nói với nhau: “Nghề luật là một nghề tư sản”. Điều này cũng giải thích lý do tại sao hầu hết các luật sư thường có độ tuổi ngoài 30, không ít trường hợp rất tâm huyết với nghề nhưng không có điều kiện để theo đuổi, đành chọn giải pháp ổn định kinh tế trước, rồi sau đó mới tiếp tục theo đuổi ước mơ.

    Vậy con đường để tập sự hành nghề luật sư dễ hay khó?

    Trên thực tế, chẳng có nghề nào lại dễ dàng, lại không vất vả. Một bác phu hồ cũng phải biết phân loại vật liệu xây dựng, tỷ lệ trộn xi và cát; một cô hàng rau cũng phải biết chọn rau củ nào đắt khách, loại quả nào tốt cho sức khỏe. Nghề luật sư cũng vậy. Nó chỉ dễ với những ai thực sự tâm huyết, có sự chuẩn bị cả về tinh thần và giải pháp cho vấn đề tài chính. Một người muốn theo nghề nhưng không hiểu nghề thì sự yêu thích cũng chỉ mang tính chất nhất thời.

    Phần đông các bạn yêu nghề đều cố gắng vượt qua khó khăn ban đầu để bắt đầu cho việc tập sự hành nghề luật sư. Cá nhân tôi từng chứng kiến không ít người phải bỏ cuộc giữa chừng vì nhiều lý do khác nhau. Hầu hết những lý do cơ bản như: không chịu được áp lực công việc, áp lực về tài chính, tinh thần; không thích ứng được với môi trường mới vv… Cũng có khi lý do lại xuất phát từ phát từ phía tổ chức hành nghề luật hay luật sư trực tiếp hướng dẫn. Không ít bạn sinh viên từng chia sẻ, quá trình học việc của bạn ấy chưa một lần được tiếp xúc hồ sơ trực tiếp, không được giao việc gì liên quan đến chuyên môn, hàng ngày đến cơ quan chỉ đảm trách chuyện trà nước, giao tài liệu … Sau một thời gian, mục đích khi đến với nghề không đạt được đã khiến không ít người đã xuất hiện cái nhìn bi quan về công việc.

    Vậy “Đâu là rào cản thật sự đối với một người muốn tập sự để trở thành luật sư?”

    Trước hết phải khẳng định, rào cản này đến từ hai phía. Bản thân những người muốn theo nghề nhưng chưa thật sự tìm hiểu, chưa chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ lúng túng rất nhiều khi đối mặt với những vấn đề phát sinh trên con đường đã chọn. Phía các tổ chức hành nghề, những luật sư trực tiếp hướng dẫn vì một lý do nào đó chưa thật tâm nhiệt tình để truyền lửa, để khợi dạy vào tạo điều kiện phát huy nhiệt thành của những người tập sự.

    Từ đó để thấy, đối với mỗi cá nhân người tập sự cho đến những luật sự, những tổ chức hành nghề đều cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Tôi tin rằng, với cái tâm của một người luật sư chân chính – những người đã từng trải qua khoảng thời gian khó khăn trên để dốc lòng tạo điều kiện, nhiệt thành chia sẻ cả về chuyên môn cũng như tinh thần – sẽ là sự động viên tích cực cho các bạn sinh viên luật nuôi dưỡng ước mơ của mình.

    Nguyễn Trung Trực
    Tập sư hành nghề Luật sư
    Công ty Luật TNHH Trung Nguyễn