Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:
1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:
Tên văn bản
Ngày hiệu lực
Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành
25/12/2023
Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
18/09/2023
Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
20/06/2023
Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
20/10/2022
Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
01/07/2022
Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
17/01/2022
Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành
30/01/2022
Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành
01/09/2021
Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
15/02/2021
Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động
01/02/2021
Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu
01/01/2021
Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành
01/01/2021
Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành
15/03/2021
2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực
Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)
Tên văn bản
Ngày hiệu lực
Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.
18/8/2023
Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
17/10/2018
3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:
Tên văn bản
Ngày hiệu lực
Nội dung liên quan đến công tác nhân sự
Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015
01/07/2016
Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014
01/07/2015
Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007
01/01/2009
Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
Luật Việc làm năm 2013
01/01/2015
Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
Luật Công đoàn năm 2012
01/01/2013
Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
01/01/2016
Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020
01/01/2022
Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:
Tên văn bản
Ngày hiệu lực
Nội dung liên quan đến công tác nhân sự
Luật người khuyết tật 2010
01/01/2011
Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
Luật Trẻ em 2016
01/06/2017
Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
Luật Bình đẳng giới 2006
01/07/2007
Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
Luật người cao tuổi năm 2009
01/07/2010
Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên
Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.
Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.
Ngày 23/02/2024
Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:
– Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:
* 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;
* Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.
– Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:
* 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;
* 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;
* Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.
2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.
3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.
Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.
Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx
Ngày 23/02/2024
Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.
Khi nhắc tới cơ hội việc làm nghề luật, nhiều người sẽ chỉ nghĩ tới các nghề: luật sư, thẩm phán, kiểm soát, thư ký toàn án và một số nghề nghiệp đặc thủ ở các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay nhu cầu tuyển dụng ngành luật là rất lớn với nhiều nghề nghiệp ở các tổ chức/doanh nghiệp khác nhau như: Công chứng viên, Pháp chế doanh nghiệp, Quản tài viên, Đấu giá viên, Thẩm định giá, Thừa phát lại… Song song với đó thì tỷ lệ cạnh tranh việc làm ngành luật cũng rất cao.
Vì vậy, để nâng cao cơ hội và khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động. Mỗi sinh viên luật chúng ta cần phải biết cách viết CV “chuẩn”. Một CV tiêu chuẩn thường có các thành phần cơ bản sau:
1. Thông tin cá nhân
Ở phần này, bạn bắt buộc phải có các thông tin: tên, ngày sinh, số điện thoại, email, nơi ở hiện tại và nên kèm thêm một chiếc ảnh chân dung (không nhất thiết phải quá nghiêm túc như ảnh thẻ nhưng nên là 1 chiếc ảnh trang trọng, lịch sự toát lên được bạn là người nghiêm túc phù hợp với nghề luật). Các thông tin này, phải một cách rõ ràng và dễ nhìn nhất (thường sẽ nằm ở phần đầu mỗi CV).
2. Trình độ và bằng cấp
Đối với một CV ngành luật thì đây là một phần rất quan trọng. Không giống như IT hay Marketing coi trọng và kinh nghiệm thực tế và sản phẩm. Ngành luật luôn yêu cầu bạn phải có đủ các chứng chỉ bằng cấp liên quan thì mới có thể làm việc hiệu quả.
Điều này đúng với tính chất đặc thù của ngành luật. Khi chuyên môn hoạt động là dựa vào kiến thức sách vở, lý thuyết, tra vấn. Hãy nhấn mạnh vào bằng đại học của bạn. Bằng cử nhân Luật, thẻ luật sư, các chứng chỉ liên quan như công chứng, bất động sản, đấu giá… Tất cả đều là một lợi thế. Ngoài ra, nếu bạn có một bảng điểm đẹp, đừng ngại khoe nó!
3. Kinh nghiệm đã tích lũy được
Mục đích của phần này là nhằm nhấn mạnh các kỹ năng, kinh nghiệm bạn cần có cho vị trí mà bạn đang tìm. Hãy liệt kê tất cả các hoạt động liên quan tới chuyên môn luật mà bạn đã tham gia. Kể cả tình nguyện tại một văn phòng trợ lý pháp luật hay việc làm văn phòng tư vấn, trợ lý luật sư. Tất cả đều nên có trong CV. Đừng quên sự chính xác về thời gian, vị trí làm việc, công việc vụ thể của bạn là rất quan trọng. Nó tạo ấn tượng bạn là một ứng viên cẩn thận, logic – những đặc điểm rất cần trong ngành này
4. Mục tiêu nghề nghiệp
Nhà tuyển dụng đánh giá bạn đang tìm kiếm điều gì từ phần này của CV. Nếu muốn phát triển ở ngành luật hãy thể hiện mình là một người nghiêm túc, làm việc khuôn khổ. Và quan trọng nhất là khả năng học hỏi. Đặc thù của ngành này là vừa mang tính chất khô cứng khuôn phép. Hơn nữa lại được đổi mới các liên tục bằng các bộ luật, văn bản điều chỉnh. Nếu bạn không có khả năng nghiên cứu và tìm hiểu thì khó mà làm việc hiệu quả.
5. Một số lưu ý khi trình bày CV
+ Sử dụng ngôn ngữ chính xác: Có một điều luật bất thành văn. Những ứng viên phát muốn phát triển trong ngành luật đều cần một khả năng ngôn ngữ chắc chắn. Nhà tuyển dụng cũng tìm kiếm điều này ngay trong chính CV của bạn. Hãy đảm bảo những thuật ngữ bạn dùng là tuyệt đối chính xác. Hạn chế tối đa các từ ngữ mang tính định tính (khoảng, tầm, có thể,…) Và 100% là phải dò chính tả thật kĩ nhé!
+ Thể hiện sự quan tâm của bạn đối với các vấn để xã hội: Ngành Luật nói chung có liên quan mật thiết tới các vẫn đề xã hội. Hãy thể hiện rằng mình có biết và tìm hiều về các tinh tức chính trị, văn hoá liên quan và có quan điểm cá nhân rõ ràng.
+ Kỹ năng: Đối với CV ngành luật ngoài những thông tin cơ bản như tin học văn phòng hay tiếng anh. Bạn cần nhấn mạnh vào các kĩ năng như làm việc nhóm, thống kê. Đặc biệt quan trọng chình là kĩ năng làm việc trong môi trường áp lực về hiệu suất và thời gian. Đây là điều các nhà tuyển dụng ngành Luật luôn tìm kiếm
+ Ngoại khoá: Những hoạt động ngoại khoá thích hợp cho một CV luật. Có thể kể đến như tham dự diễn đàn, toạ đàm, gặp mặt, hội thảo hay tình nguyện vì cộng đồng. Tóm lại hãy kể ra những hoạt động thể hiện bạn là một người quan tâm tới chinh trị – xã hội và có tư duy nghiêm túc!
Trên đây là những chia sẻ về kinh nghiệm viết CV tìm việc làm ngành Luật nói chung. Mong rằng sẽ giúp bạn có thể tìm kiếm được một công việc ưng ý!
Nguồn bài viết tham khảo: Blog TopCV Nguồn ảnh: internet
Trên con đường trở thành Luật sư, có nhiều người đã chọn làm việc ở vị trí Trợ lý luật sư để từ đó có môi trường học tập, rèn luyện và trau dồi bản thân. Bởi tính chất của công việc này gắn liền với công việc của một Luật sư. Nhưng không phải vì thế mà cho rằng: chỉ những ai có hoài bão trở thành luật sư thì mới làm trợ lý luật sư. Vì Trợ lý luật sư cũng là một nghề của ngành luật như các nghề khác; vì miễn có đam mê, năng lực phù hợp và yêu thích nghề thì đều có thể trở thành một trợ lý luật sư.
Bản chất của một trợ lý là hỗ trợ cho công việc bận rộn thường ngày của Luật sư, để các bạn có thể hiểu rõ hơn công việc của một người trợ lý luật sư, mình xin chia sẻ bài viết dưới đây: đề cập đến một số công việc thường xuyên kèm theo đó là những đức tính, kỹ năng cần thiết, phù hợp cho từng công việc cụ thể mà các bạn sẽ phải trau dồi, rèn luyện trên con đường trở thành trợ lý luật sư.
1. Cập nhật văn bản pháp luật mới
Công việc đầu tiên và cơ bản nhất của trợ lý luật sư là cập nhật những văn bản pháp luật mới ban hành. Thông thường, định kỳ mỗi tháng một lần, các văn phòng luật công ty luật thường xuất bản những bản tin pháp lý hàng tháng, cung cấp những thông tin pháp luật mới nhất cho khách hàng và khách hàng tiềm năng. Trợ lý luật sư có trách nhiệm thu thập, tổng hợp các văn bản của các bộ, ban ngành để luật sư xem và quyết định sẽ đưa những thông tin nào vào bản tin pháp lý của văn phòng, cung cấp những thông tin nào cho khách hàng nào.
Đức tính: Cẩn thận, tỉ mỉ Kỹ năng: Sử dụng tốt máy tính, các công cụ tìm kiếm, tổng hợp tài liệu, ngoại ngữ đối với các tài liệu nước ngoài
2. Tống đạt giấy tờ
Luật sư là những người vô cùng bận rộn. Vì vậy, thời gian của luật sư cần được sử dụng hợp lý để không bị lãng phí. Phương pháp tính phí tư vấn trả cho luật sư thông thường được tính theo giờ, do đó họ cần phải luôn ở tư thế sẵn sàng, chuẩn bị tốt về kiến thức để tư vấn ngay khi có yêu cầu từ phía khách hàng. Vì vậy, với trách nhiệm giảm tải công việc cho luật sư, trợ lý luật sư thường được giao nhiệm vụ tống đạt giấy tờ đến khách hàng và các cơ quan, đơn vị liên quan. Ở những công ty lớn, họ thuê dịch vụ của các công ty chuyển phát. Tuy nhiên, ở những văn phòng nhỏ, luật sư thường giao cho trợ lý luật sư thực hiện công việc này.
Đức tính: Năng động, linh hoạt, tận tâm với công việc Kỹ năng: Có sức khỏe, tư duy logic tốt, kỹ năng quan sát, thiết lập kế hoạch, trí nhớ tốt, thông thuộc đường xá
3. Dịch thuật văn bản pháp lý
Kinh tế Việt Nam đang ngày một đi lên và là điểm đến lý tưởng của rất nhiều khách du lịch cũng như nhà đầu tư nước ngoài. Nhu cầu sử dụng các chuyên gia có khả năng ngoại ngữ càng được coi trong. Nhiều công ty luật được thành lập chỉ tập trung vào phục vụ khách nước ngoài. Do đó, trợ lý luật sư tại các công ty như vậy cần sử dụng thông thạo ngoại ngữ và công việc dịch thuật các văn bản pháp luật được thực hiện hàng ngày.
Đức tính: Cẩn thận, tỉ mỉ Kỹ năng: Sử dụng tốt máy tính, dịch thuật, ngoại ngữ tốt (thông thường là tiếng anh)
4. Nghiên cứu văn bản pháp luật
Công việc cơ bản và là xương sống của của nghề luật là nghiên cứu và phân tích văn bản pháp luật. Luật sư thông thường sẽ yêu cầu trợ lý nghiên cứu trước một vài vấn đề pháp luật sau đó sẽ họp bàn thảo luận và nghe ý kiến của họ. Đây cũng là công việc quan trọng để đánh giá tư duy, khả năng và định hướng phát triển cho các trợ lý luật sư sau này.
Đức tính: Cẩn trọng, tư duy pháp lý Kỹ năng: Nghiên cứu, phân tích
Đã có rất nhiều bài viết ở nhiều trang khác nhau nói về con đường của một Cử nhân Luật trở thành Luật sư, có thể nói đó là một con đường đầy chông gai. Có nơi còn nói “Nghề Luật sư không phải là nghề dành cho người nghèo”. Ở đây chúng ta không đề cập đến con đường để trở thành Luật sư đó nữa, vì nó chông gai, khó khăn như thế nào nhiều người nói rồi, và chắc có lẽ các bạn cũng biết cả rồi. Trong khuôn khổ bài viết này, mình chỉ muốn đề cập đến chuyện nghề Luật sư có dễ sống hay không? Dễ sống ở đây được hiểu là sự phát triển của nghề, cơ hội của các Luật sư…
Theo mục tiêu của Bộ tư Pháp trong công cuộc cải cách tư pháp, đến năm 2020 nước ta sẽ có khoảng 18.000 đến 20.000 Luật sư. Về cơ bản, tính đến thời điểm này thì mục tiêu này đã thất bại, hiện tại nước ta chỉ có khoảng giao động từ xấp xỉ khoảng 12.000 Luật sư.
Trong đó, theo nhiều số liệu thống kê thực tế hiện tại chỉ có khoảng 60% là đang hành nghề, và một tỉ lệ rất nhỏ trong đó khoảng 5% là sống khỏe với nghề Luật sư. Từ những con số trên, chúng ta dễ dàng có câu trả lời. Nghề Luật sư ở Việt Nam hoàn toàn không dễ sống tí nào, tỉ lệ sống khỏe quá ít, số người bỏ nghề rất nhiều. Năm 2019, riêng tại TP. Hồ Chí Minh đã có hơn 300 Luật sư bị xóa tên khỏi Đoàn Luật sư vì không đóng Đoàn phí. Sau khi tìm hiểu ra thì những người này đã chuyển sang làm những ngành nghề khác để mưu sinh, không còn hoạt động trong nghề.
Vậy lý do nào khiến Nghề Luật sư ở Việt Nam “khó sống” đến vậy? Theo mình thì có một số lý do sau đây:
1. Xã hội chưa thượng tôn pháp luật
Điều này có vẻ rất sâu xa, nhưng đó là một lý do không hề nhỏ. Xã hội chưa thượng tôn pháp luật, người dân chưa có thói quen kiện tụng, chưa có thói quen mọi chuyện phải được giải quyết bằng pháp luật. Chính vì thế, thói quen nhờ đến Luật sư khi gặp các rắc rối pháp lý là không nhiều, dẫn đến cơ hội việc làm không cao.
2. Thực tiễn áp dụng pháp luật chưa được lý tưởng hóa
Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự, một vụ án dân sự tối đa sẽ có 06 tháng để chuẩn bị cho việc xét xử. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng pháp luật không hề như Luật định, có những vụ án được “ngâm” hồ sơ hàng chục năm, được các Tòa “đá trách nhiệm” qua lại khiến người dân gặp rất nhiều rắc rối như vụ tranh chấp tác quyền vụ kiện “Thần Đồng Đất Việt”.
Cũng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, thì mọi hồ sơ khởi kiện đúng thẩm quyền thì Tòa phải tiến hành nhận hồ sơ và thông báo cho nguyên đơn về việc đóng tạm ứng án phí để tiến hành thụ lý vụ án. Tuy nhiên thực tế áp dụng pháp luật thì không như vậy.
Trên đây chỉ là 02 ví dụ cho việc thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng còn chưa được triệt để. Điều này vô tình dẫn đến những khó khăn cho người dân và người Luật sư. Một quy trình ngắn gọn, được áp dụng quy định triệt để thì sẽ có điều kiện tối đa cho các Luật sư hành nghề, năng suất lao động sẽ được nâng cao.
3. Do gánh nặng “Cơm áo gạo tiền”
Hầu hết những người khi cầm trên tay thẻ Luật sư do Liên đoàn Luật sư cấp đều rơi vào độ tuổi lập gia đình. Gánh nặng cơm áo gạo tiền đặt nặng lên vai họ trước hết. Trước khi nghĩ về ước mơ, hoài bão thì họ phải nghĩ đến mưu sinh cho gia đình trước tiên. Mà thực tế cho thấy, số Luật sư sống khỏe với nghề khi còn trẻ là không nhiều, cho nên có rất nhiều trường hợp “đứt gánh giữa đường” với nghề mặc dù năng lực, trình độ, khát khao họ có đủ cả.
Có những ranh giới khiến người thẩm phán khó thể tiếp cận được những góc khuất trong vụ án. Khi ấy, luật sư sẽ là người đặt bình hoa giúp tòa có cái nhìn trọn vẹn.
Thông thường người thẩm phán chỉ tập trung lo cho trật tự pháp luật mang tính chất tổng quát mà không có điều kiện soi rọi từng dấu vết, từng tình tiết gia cảnh của đương sự, bị cáo. Thế nhưng với luật sư (LS) thì lại khác, luật cho phép LS được gần gũi, chia sẻ với thân chủ của mình ngay cả trong mâm cơm gia đình.
Chính những lúc trò chuyện thân mật ấy, LS có thể tìm ra được nhiều thông tin quan trọng trong việc tìm ra chứng cứ giúp làm sáng tỏ về vụ án. Khi tiếp cận với người bị hại, người LS còn thấu hiểu được sự đau đớn xé lòng của họ như thế nào, từ đó có biện pháp bảo vệ phù hợp với quy định pháp luật nhất.
Có thể đứng ở góc độ pháp luật, đôi khi hành vi của bị cáo được xem là rất nhỏ nhưng khi tiếp cận với phía bị hại mới thấy được sự u ám, uẩn khúc trong mỗi con người. Lấy ví dụ đối với tội làm nhục người khác, pháp luật xử rất nhẹ, thế nhưng người bị hại họ sẽ mang những đau đớn đó đến suốt cuộc đời của họ. Chính sự tiếp cận ấy, người LS sẽ giữ vai trò giúp cho quan tòa thấu hiểu, chia sẻ mà ra phán quyết thấu lý đạt tình.
LS Vũ Phi Long trong phiên tòa vụ năm công dân Kon Tum cưa gỗ khô bị buộc tội trộm cắp tài sản. Ảnh: Ngân Nga
Nhiều người hay nhận xét rằng TAND, VKSND và công an là cơ quan pháp luật nghiêm khắc một cách lạnh lùng. Khi ấy, người LS sẽ nhẹ nhàng đặt lên một bình hoa để giúp cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng nhìn rõ hơn về vụ án, về những tình tiết mà đôi khi không phải lúc nào trong hồ sơ vụ án cũng thể hiện.
Để quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, được bảo vệ, bảo đảm theo hiến pháp và pháp luật, tôi mong rằng khi LS khiếu nại những vấn đề còn chưa rõ ràng, còn vướng mắc trong hoạt động của các cơ quan tố tụng thì cần có một sự phản hồi công khai hơn. Nên chăng các cơ quan chức năng xây dựng một kênh công khai, chẳng hạn như khi trả lời khiếu nại, chấp nhận hay không chấp nhận cũng đưa lên trang web của chính các cơ quan tố tụng để mọi người dân cùng được theo dõi.
Nếu LS khiếu nại đúng thì các cơ quan có thẩm quyền cũng đưa thẳng lên web và nếu sai thì cũng đưa lên. Đây cũng là cách tránh đi sự mờ ảo trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại. Bởi trong giai đoạn thời kỳ bùng nổ thông tin, khi mà cái tốt lan tỏa rất chậm, còn cái xấu dường như dễ lan truyền rất nhanh, làm cho dư luận hiểu lệch lạc đi bản chất của sự việc.
(Nhân ngày Truyền thống Luật sư Việt Nam) Luật sư Vũ Phi Long, nguyên Phó Chánh Tòa Hình sự TAND TP.HCM Nguồn bài viết: Báo điện tử Pháp luật TP. HCM
Công chứng là việc Công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Theo Khoản 1, Điều 7 của Luật Công chứng 2014 quy định về 12 hành vi nghiêm cấm Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện, cụ thể:
1. Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;
2. Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;
3. Công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;
4. Từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;
5. Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức có liên quan;
6. Ép buộc người khác sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng;
7. Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho tổ chức mình trong việc hành nghề công chứng;
8. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức mình;
9. Tổ chức hành nghề công chứng mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký;
10. Công chứng viên đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác;
11. Công chứng viên tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý; tham gia chia lợi nhuận trong hợp đồng, giao dịch mà mình nhận công chứng;
12. Vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.
Trên đây là nội dung 12 hành vi mà pháp luật Việt Nam nghiêm cấm Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.
Trước hết, để trở thành công chứng viên, một người bắt buộc phải là công dân Việt Nam, được đào tạo và có bằng cử nhân luật; có đủ sức khỏe và tư cách đạo đức tốt.
Sau khi có bằng cử nhân luật, người đó phải tham gia khóa đào tạo nghề công chứng trong 12 tháng tại Học viện Tư pháp. Sau khóa đào tạo chuyên môn, Học viện Tư pháp cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa học cho người học.
Việc tham gia khóa đào tạo hành nghề công chứng không bắt buộc áp dụng cho tất cả các trường hợp. Cụ thể, theo Điều 10 Luật Công chứng 2014, những đối tượng sau sẽ được miễn đào tạo hành nghề công chứng:
– Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên;
– Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên;
– Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật;
– Người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên pháp luật cao cấp.
Tuy nhiên, các trường hợp được miễn đào tạo hành nghề công chứng vẫn phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và quy tắc đạo đức hành nghề công chứng tại Học viện Tư pháp trong 03 tháng và tập sự hành nghề.
Tập sự hành nghề
Người đã hoàn thành khóa đào tạo hành nghề công chứng hoặc khóa học bồi dưỡng hành nghề công chứng đăng ký việc tập sự hành nghề với Sở Tư pháp nơi có Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng nhận tập sự.
Trường hợp không tìm được tổ chức hành nghề công chứng để tập sự hoặc gặp khó khăn trong việc tự liên lạc, người tập sự có thể liên hệ với Sở Tư pháp đại phương nơi mình muốn tập sự để được bố trí phù hợp (Khoản 1, Điều 11 Luật Công chứng 2014).
Thời gian thực tập hành nghề công chứng là 12 tháng đối với những người tốt nghiệp khóa đào tạo hành nghề công chứng, 03 tháng đối với người tốt nghiệp khóa bồi dưỡng nghề công chứng. Người có nguyện vọng được quyền thay đổi nơi tập sự nhưng phải đảm bảo tổng thời gian tập sự tối thiểu tại mỗi tổ chức hành nghề là 03 tháng (Khoản 2, Điều 3, Thông tư 04/2015/TT-BTP).
Kiểm tra kết quả tập sự
Việc đăng ký kiểm tra kết quả tập sự có thể được thực hiện tại Sở Tư pháp nơi đăng ký tập sự khi có kỳ kiểm tra do Bộ Tư pháp tổ chức hoặc ngay khi người tâp sự nộp báo cáo kết quả tập sự. Một năm, Bộ Tư pháp tổ chức 02 kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng. Trong trường hợp không đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra trước, người tập sự được phép đăng ký kiểm tra lại trong đợt sau nhưng tổng số lần kiểm tra tối đa chỉ 03 lần (Điều 16, Điều 17, Thông tư 04/2015/TT-BTP).
Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng được cấp giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự hành nghề công chứng.
Bổ nhiệm công chứng viên
Khi đạt tiêu chuẩn hành nghề và đã tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, có giấy chứng nhận hoàn thành tập sự hành nghề công chứng, người có nguyện vọng đủ điều kiện nộp hồ sơ xin bổ nhiệm công chứng viên theo quy định tại Điều 12 của Luật Công chứng 2014.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản và hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên của Sở Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định bổ nhiệm công chứng viên. Đây là thời điểm xác định một người chính thức trở thành công chứng viên.
Hẳn là trước khi lựa chọn ngành học bạn cũng đã có sự tìm hiểu về ngành, về công việc tương lai mà mình yêu thích hay lựa chọn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói riêng và của xã hội nói chung, ngày càng có thêm nhiều ngành nghề mới ra đời để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống.
Nếu bạn là sinh viên ngành Luật, có lẽ bạn hoặc bạn bè, người thân của bạn sẽ nghĩ học Luật thì sau này sẽ làm luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên hay làm nhà nước. Nếu trong bối cảnh của khoảng chục năm trở lại trước thì đúng vậy, cơ hội nghề nghiệp của ngành Luật chưa được mở rộng. Song giờ đây, nếu bạn đang hoặc sắp ứng tuyển vào ngành Luật, bạn hãy yên tâm rằng, học Luật sẽ có rất nhiều công việc cho bạn lựa chọn sau khi ra trường.
1. Luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên
Đây là những nghề truyền thống và được nhiều người biết đến vì những nghề này đã ra đời từ rất lâu. Nếu bạn có ước mơ sẽ trở thành luật sư, kiểm sát viên hay thẩm phán thì bạn nên biết đôi điều về những nghề nghiệp này.
Những công việc, chức danh này thường sẽ do Nhà nước quy định về tiêu chuẩn và quy trình cấp chứng chỉ hành nghề hay bổ nhiệm. Vì đây là những công việc khó, đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cũng như kỹ năng cao nên thời gian đào tạo thường lâu hơn so với các nghề khác. Ví như để trở thành một luật sư, bạn phải có bằng cử nhân Luật, có chứng chỉ lớp đào tạo luật sư và tập sự một năm tại các tổ chức hành nghề luật sư mới đủ điều kiện dự thi để được cấp chứng chỉ hành nghề. Thời gian để học lấy chứng chỉ luật sư thường kéo dài 6 hay 7 năm, thậm chí còn lâu hơn nếu bạn không qua kỳ thi để lấy chứng chỉ hành nghề.
2. Công chức nhà nước trong các Cơ quan nhà nước
Nếu bạn muốn làm nhân viên Nhà nước để góp phần xây dựng đất nước thì bạn có thể lựa chọn con đường trở thành công chức. Hàng năm, các cơ quan Nhà nước thường tổ chức các cuộc thi công chức nhằm lựa chọn nhân tài cho đất nước. Đừng lo lắng nếu bạn cho rằng chỉ tiêu tuyển dụng rất ít. Vì hiện nay, rất nhiều cơ quan Nhà nước các cấp từ cấp cơ sở đến cấp trung ương đều có nhu cầu tuyển dụng hàng năm. Vì vậy, nếu bạn muốn trở thành công chức thì sẽ có rất nhiều vị trí cho bạn ứng tuyển đấy.
3. Pháp chế doanh nghiệp
Trong nền kinh tế mở cửa hiện nay, rủi ro về pháp lý trong kinh doanh là rất lớn nếu các doanh nghiệp không biết cách phòng ngừa. Tuy nhiên, việc có thể tiên liệu và phòng tránh rủi ro pháp lý không phải ai cũng làm được mà cần có một đội ngũ những người am hiểu pháp luật. Vì vậy, ngày nay, rất nhiều các doanh nghiệp có hẳn một phòng/ban pháp chế để tư vấn, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật, tránh những sai phạm có thể xảy ra.
Ngoài các doanh nghiệp, bạn cũng có thể tham gia đội ngũ pháp chế trong các ngân hàng thương mại. Hoạt động của ngân hàng thường gắn liền với hợp đồng, đầu tư,.. nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vì vậy, các ngân hàng luôn cần những đội ngũ pháp chế để rà soát hợp đồng, đảm bảo hợp đồng không bị vô hiệu, bảo đảm những hoạt động của ngân hàng không vi phạm pháp luật. Không những thế, các ngân hàng thường có các phòng/ban khác ngoài pháp chế mà phải dùng đến nhân sự ngành Luật như: đầu tư, doanh nghiệp, thu hồi nợ, tố tụng…
4. Công chứng viên
Công chứng viên cũng là một nghề cần có chứng chỉ hành nghề, tức là bạn cũng phải học một lớp đào tạo nghề công chứng, qua thời gian tập sự, qua kỳ thi kiểm tra kết quả tập sự để được cấp chứng chỉ.
Công chứng viên là người xác nhận những giao dịch, hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, nghề này đòi hỏi người thực hiện công chứng có sự hiểu biết về pháp luật và có tinh thần trách nhiệm cao.
5. Giảng viên luật
Nếu bạn yêu thích nghiên cứu pháp luật, thì trở thành giảng viên luật sẽ là lựa chọn phù hợp. Việc giảng dạy ngành Luật hiện nay mới chỉ được tổ chức ở một số trường đại học. Nhưng hầu hết, các trường đại học đều cần những giảng viên luật để dạy những bài giảng về pháp luật chung hay pháp luật về chuyên ngành cho những ngành không phải là Luật. Do đó, nhu cầu về giảng viên cũng ngày một tăng. Các trường có nhu cầu sẽ tổ chức các kỳ thi tuyển giảng viên để tuyển dụng. Làm giảng viên, bạn sẽ có nhiều thời gian và cơ hội để nghiên cứu Luật chuyên sâu, đóng góp cho sự phát triển luật pháp của nước nhà.
6. Trợ giúp viên pháp lý
Trợ giúp viên pháp lý là những người được đào tạo về luật và có chức năng giúp đỡ, hỗ trợ những trường hợp cần được trợ giúp pháp luật. Công việc của trợ giúp viên pháp lý thường là tư vấn luật, hướng dẫn các đối tượng được trợ giúp thủ tục pháp lý, thủ tục hành chính, hướng dẫn soạn thảo đơn từ, chuẩn bị giấy tờ, hồ sơ…
Những người được trợ giúp pháp lý thường là những người có hoàn cảnh khó khăn, người già neo đơn không nơi nương tựa, thương binh, bệnh binh,… là những người không có kiến thức pháp luật nhưng vì hoàn cảnh khó khăn mà không thuê được luật sư hoặc tư vấn pháp luật.
7. Chấp hành viên, Thư ký tòa án, Quản tài viên, Báo cáo viên pháp luật, Thư ký luật sư,…
Đây là những công việc pháp luật trong từng ngành, nghề khác nhau. Thông thường, để làm các công việc như Chấp hành viên, Quản tài viên, Báo cáo viên pháp luật… cần có những điều kiện cụ thể. Nếu bạn dự định lựa chọn công việc nào cho sự nghiệp hãy tìm hiểu thật kỹ về công việc đó xem mình có đủ tiêu, chuẩn, điều kiện không.
Trong những năm trở lại đây còn một ngành mới đó là Thừa phát lại. Đây là cơ quan có chức năng tống đạt, lập vi bằng, tổ chức thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án…Hoạt động của Thừa phát lại vừa là độc lập vừa là giúp việc cho các Cơ quan tố tụng như Tòa án, Cơ quan thi hành án nhưng lại không phụ thuộc vào các cơ quan này.
Để được bổ nhiệm làm Thừa phát lại, bạn cần phải có bằng cử nhân luật và có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực luật pháp là 5 năm trở lên, có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về Thừa phát lại…
Ngoài những công việc trên còn rất nhiều công việc cũng cần đến tấm bằng cử nhân luật.Nhưng dù làm công việc gì, quan trọng nhất cũng là sự đam mê, có như vậy, bạn mới thật sự cống hiến và làm việc hết mình. Hãy sống đúng với đam mê của mình và dũng cảm theo đuổi ước mơ bạn nhé
Dưới sự chuyển mình của cuộc Cách mạng 4.0, việc tìm kiếm thông tin hướng nghiệp đã không còn là thách thức với thế hệ trẻ nữa. Tuy nhiên, ngành nghề nào cũng có ‘nỗi oan’ của nó từ hình ảnh được cộng đồng phác họa trên các công cụ tìm kiếm và các kênh thông tin. Ngành luật cũng không ngoại lệ.
Là một sinh viên luật, tôi nhận ra những người ngoài ngành có rất nhiều hiểu lầm về công việc của chúng tôi. Sau đây là 4 hiểu lầm phổ biến nhất.
1. Học luật là sau này ra trường làm luật sư?
Có không ít người trong xã hội đã mặc định về công việc của những cử nhân luật là như vậy. Tuy nhiên, trên thực tế, luật sư chỉ là một trong số rất nhiều những công việc mà một cử nhân luật có thể lựa chọn sau khi ra trường.
Nếu như bạn không có đam mê với nghề luật sư, một cử nhân luật có thể theo đuổi vị trí của một chuyên viên tư vấn pháp lí, một nhân viên pháp chế cho các cơ quan, tổ chức, công ti và doanh nghiệp…
Hoặc nếu bén duyên với ngành sư phạm, bạn cũng có thể trở thành một giảng viên luật học. Ngoài ra, theo chia sẻ của thầy Lê Văn Hiển, Phó trưởng phòng Đào tạo trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, một cử nhân luật cũng có thể trở thành một công chức nhà nước, để từ đó tiếp tục đi theo con đường của một chính trị gia.
Như vậy, cử nhân luật có nhiều hơn một lựa chọn hay cơ hội về nghề nghiệp. Và môi trường làm việc của những người theo đuổi ngành, nghề này, cũng không nhất thiết phải là tòa án, văn phòng luật sư hay văn phòng công chứng như trước giờ nhiều người Việt vẫn lầm tưởng.
2. Học luật là phải nói rất nhiều?
Xuất phát từ lầm tưởng thứ nhất, khi quan sát những người luật sư phải tranh tụng rất nhiều trong phiên tòa để bảo vệ cho thân chủ của mình, đa số người Việt cho rằng học luật là phải nói nhiều. Song, đây cũng chỉ là một góc nhìn phiến diện về ngành luật.
Thực tế, khi học luật, bạn sẽ được rèn luyện tư duy logic, sáng rõ về những vấn đề mà mình gặp phải. Để từ đó, việc giải quyết vấn đề không nằm ở việc bạn nói nhiều hay ít, mà nằm ở việc bạn nói gì, nói ở đâu và nói khi nào. Hay có thể hiểu, học luật không phải là học cách nói nhiều lên, mà là học cách nói ít lại, nhưng vẫn đủ, vẫn đúng và vẫn trúng.
3. Học luật dễ thất nghiệp?
Quan điểm học luật dễ thất nghiệp là một quan điểm đúng, nhưng đó là với hoàn cảnh kinh tế – văn hóa – xã hội Việt Nam của những năm trước. Hiện tại, với sự đầu tư của các công ty, doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam, cơ hội cho các cử nhân luật làm công việc liên quan đến tư vấn thủ tục pháp lí hoặc quản trị doanh nghiệp đã rộng mở hơn nhiều lần so với trước đây.
Còn với nghề luật sư hiện nay, cả nước mới có tổng cộng hơn 13.000 luật sư đang hành nghề, tỉ lệ luật sư/số dân của Việt Nam vẫn nằm ở mức thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Ngoài ra, tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên luật khi ra trường cũng một phần phụ thuộc vào kĩ năng, trình độ chuyên môn cũng như khả năng ngoại ngữ của các bạn. Vì vậy, không chỉ luật học, mà bất kì ngành, nghề nào cũng cần đến sự cố gắng, nỗ lực của người theo đuổi nó.
4. Học luật là phải học thuộc hết các văn bản pháp luật?
Người Việt Nam thường lầm tưởng rằng, sinh viên luật sẽ dành thời gian 4 năm Đại học của mình để “ngốn” hết các văn bản pháp luật đã được ban hành. Và vì thế, họ cho rằng những bạn có khả năng ghi nhớ tốt sẽ đồng nghĩa với việc học luật giỏi.
Tuy nhiên, khi học luật, bạn được yêu cầu nắm vững những khái niệm, nguyên tắc áp dụng chung. Phần còn lại sẽ phụ thuộc vào sự phán đoán, tư duy logic của bạn trong việc giải quyết các vấn đề, tình huống cụ thể, cũng như kĩ năng tra cứu luật và các văn bản pháp lí khác…
Đồng thời, do bản chất pháp luật gắn liền với đời sống xã hội, việc học luật cũng không thể cứng nhắc trong khuôn khổ các văn bản pháp luật được. Học luật, từ đó, còn yêu cầu sự linh hoạt, sáng tạo trong suy nghĩ và tư duy, cũng như một cái nhìn tổng quan về ngành tư pháp của nước ta hiện nay.
Tôi thường gặp trên các diễn đàn và ngoài đời thực, từ các bạn mới ra trường và cả từ các luật sư câu hỏi về sự khác biệt giữa công ty luật (hoặc Văn phòng Luật sư) và pháp chế(Doanh nghiệp, Ngân hàng,…). Cũng may mắn là tôi trải qua khá nhiều môi trường làm việc (công ty nhà nước, tập đoàn tư nhân, công ty kiểm toán, công ty luật), đã làm cả pháp chế lẫn luật sư tại hãng luật. Vậy nên hôm nay xin được chia sẻ những kinh nghiệm của mình về chủ đề này, so sánh giữa hai môi trường, hãng luật và pháp chế.
Về cơ bản, cả hai đều là công việc ngành luật, và bạn đều phải tư vấn luật, review hợp đồng, kiện tụng, thủ tục…v.v nhưng vẫn có rất nhiều điểm khác biệt. Nếu bạn đã từng trải qua cả hai môi trường rồi thì sẽ dễ để cảm nhận, nhưng đối với các bạn mới tốt nghiệp, hoặc luật sư nhưng chưa từng làm môi trường còn lại thì sẽ khó để thấy hết.
Tất nhiên mỗi công ty luật, mỗi ban pháp chế cụ thể sẽ khác nhau, còn tùy thuộc về quy mô, danh tiếng công ty, lĩnh vực kinh doanh, và loại vị trí cụ thể: mới tốt nghiệp, có kinh nghiệm, cấp quản lý … Việc so sánh là ở mức độ tổng quát giữa các vị trí công việc và tổ chức ở mức độ tương đương nhau.
Lưu ý rằng đây cũng là một câu hỏi khá phổ biến trong quá trình tuyển dụng, nhất là khi chuyển từ công ty luật sang pháp chế hay ngược lại, nếu bạn ở trong tình huống này, hãy cân nhắc kỹ càng để chọn câu trả lời phù hợp, như thế sẽ tốt hơn là nói ra tất cả những điều dưới đây. Bây giờ là cụ thể các điểm khác biêt:
1. Giờ làm việc
Làm thêm giờ là một điều rất bình thường tại các công ty luật. Hãng luật càng danh tiếng thì bạn càng phải làm việc chăm chỉ. Tôi có những người bạn làm việc tại 2 công ty luật lớn nhất của Việt Nam và chứng kiến họ làm việc vào cuối tuần khá thường xuyên. Cuộc sống tại công ty luật là một chuỗi deadline vô tận, bạn sẽ không thường xuyên có nhiều khoảng trống trong ngày làm việc.
Làm pháp chế thì sẽ đỡ áp lực hơn về mặt thời gian. Nếu bạn biết cách quản lý công việc tốt, thường là bạn sẽ rời văn phòng đúng giờ. Tất nhiên sẽ có những công việc gấp yêu cầu bạn phải làm bất kể thời gian, tuy nhiên đó không phải là điều xảy ra hàng ngày.
Nếu bạn làm việc với vai trò luật sư trong các loại công ty tư vấn không phải là công ty luật, ví dụ như công ty kiểm toán kiểu big 4 (KPMG, E&Y…) hoặc các công ty tư vấn quản lý (vd: Mc Kinsey…), văn hóa về giờ làm việc cũng tương tự như tại các công ty luật.
2. Lương
Lương trong công ty luật thường là cao hơn so với pháp chế cho các vị trí tương đương, ngoại lệ đối với level mới ra trường/không có kinh nghiệm. Nếu một bạn mới ra trường và chưa có kinh nghiệm đi làm chuyên viên pháp chế thì bạn đấy sẽ có khả năng nhận lương cao hơn so với việc làm trợ lý luật sư tại công ty luật (sự chênh lệch, có thể ví dụ là: 4 so với 6 hoặc 7 so với 10 triệu đồng). Sự thật khá buồn cho các bạn sinh việt luật tại Việt Nam là mức lương khởi điểm trong các công ty luật khá thấp hơn so với các ngành nghề khác.
Lại nói đến giờ làm việc, có một sự thật hài hước: khi tư vấn luật, bạn sẽ luôn nói với các khách hàng của mình rằng việc làm thêm giờ sẽ được trả 150% lương giờ làm bình thường theo quy định của Luật lao động Việt Nam. Nhưng nếu bạn làm việc tại công ty luật, bạn sẽ tự động chấp nhận việc làm thêm giờ mà không có thêm lương. Trong kinh nghiệm của mình, tôi chưa bao giờ thấy một công ty luật nào trả lương làm thêm giờ. Duy nhất một ngoại lệ là một công ty luật của Nhật, họ trả lương cho làm thêm giờ cho các trợ lý luật sư.
Đối với các thông tin về lương, bạn có thể tham khảo qua các số liệu thống kê của các công ty nhân sự như Navigos, First Alliances, Adecco…v.v để nhìn thấy sự khác biệt giữa công ty luật và pháp chế. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng những thống kê của các công ty nhân sự hàng đầu sẽ được thu thập dựa vào thông tin từ các khách hàng của họ – là những công ty thuộc top trả lương cao. Ngoài ra, các công ty luật thường không hay tìm người thông qua các công ty nhân sự. Vì thế những số liệu đó sẽ không thể phản ánh cho toàn bộ thị trường luật sư, tôi nghĩ rằng con số trung bình của thị trường là tương đối nhỏ hơn.
3. Phong cách làm việc
Điều này phụ thuộc rất nhiều và kỹ năng quản lý của từng cá nhân luật sư điều hành và trưởng ban/giám đốc pháp chế (TBPC), họ sẽ là những người quyết định phong cách làm việc của công ty luật hoặc phòng pháp chế. Nhưng nói chung, các hãng luật (nhất là các hãng luật quốc tế có lịch sử phát triển lâu năm) thường sẽ có một hệ thống và chuẩn mực quản lý công việc tốt hơn. Luồng công việc và phối hợp nhóm trong hãng luật thường nhịp nhàng hơn. Đối với các luật sư thuần về kiến thức chuyên môn, họ sẽ thấy dễ chịu hơn khi làm việc trong môi trường có đầy đủ các chuẩn mực, vai trò vị trí, luồng công việc đã được sắp đặt quy củ.
Trong khi đó, công việc pháp chế đòi hỏi khả năng độc lập xử lý công việc và kỹ năng tương tác tốt với đồng nghiệp xung quanh. Bạn cần phải biết tự mình học hỏi. Bạn sẽ dễ gặp tình huống khó xử vì việc thiếu đi những quy định rõ ràng về luông công việc và vai trò cụ thể của từng vị trí. Sự nhảy cảm để biết mình nên hay không nên làm gì là điều rất quan trọng. Trong môi trường pháp chế, mọi người mong muốn bạn có thể xử lý và hoàn thành công việc một cách độc lập, việc kiểm tra/rà soát chéo thường là rất ít trong một ban pháp chế.
Theo quan điểm riêng của mình, cho mục đích học hỏi thì các bạn mới ra trường nên làm việc cho các hãng luật, bởi các hãng luật thường có phong cách làm việc tốt hơn, ngoài ra tại đây, các bạn thường sẽ được các luật sư có kinh nghiệm kèm cặp và rà soát lại chất lượng công việc của bạn. Đó sẽ là cách học hỏi dễ dàng hơn cho những người mới vào nghề.
4. Kinh nghiệm tích lũy
Tại công ty luật: Các khách hàng của bạn đến từ nhiều hoàn cảnh, lĩnh vực (sản xuất, dịch vụ, kỹ thuật, bất động sản, thương mại…v.v), điều này khiến bạn sẽ phải nghiên cứu luật ở nhiều lĩnh vực khác nhau khá thường xuyên. Kể cả đối với luật sư có nhiều năm kinh nghiệm, sẽ luôn luôn có những câu hỏi mới phía trước. Chính vì vậy, kiến thức pháp luật của bạn sẽ trở nên đa dạng và tổng quát. Bạn sẽ phải viết các thư tư vấn, bài nghiên cứu pháp luật đòi hỏi nhiều về sự thận trọng và có cấu trúc hàn lâm. Các sản phẩm của bạn phải nhìn đẹp trong một mẫu biểu chuyên nghiệp. Kỹ năng quản lý thời gian của bạn cũng sẽ được phát triển để phù hợp với khối lượng công việc bạn cần xử lý.
Pháp chế: Làm pháp chế tức là bạn sẽ có một nhóm khách hàng duy nhất với phạm vi kinh doanh nhất định, đó chính là công ty mà bạn làm việc. Điều này đòi hỏi một kiến thức chuyên môn sâu sát gắn liền với lĩnh vực kinh doanh của công ty. Khi một vấn đề pháp lý được đưa ra, người kinh doanh thường thích những bản tư vấn rõ ràng, có hiệu quả để vận dụng xử lý vấn đề hơn là một bản tư vấn chuẩn chỉnh mang tính hàn lâm. Một lợi thế khi làm pháp chế đó là bạn sống giữa môi trường kinh doanh, điều này cho bạn các cơ hội để thấy luật được áp dụng trên thực tế như thế nào và bạn sẽ thấy cách một công ty “lách luật” cụ thể thế nào. Luật sư tại hãng luật sẽ có ít cơ hội này hơn, trừ những người làm tranh tụng, vì khi đó khách hàng buộc phải tiết lộ toàn bộ sự thật và ý định sâu xa của họ.
Một điểm khác biệt nữa là về nghiệp vụ rà soát hợp đồng, đây là một nghiệp vụ thường gặp đối với những người làm pháp chế. Tôi muốn nói về vấn đề này nhiều hơn nhưng có lẽ sẽ mất nhiều giấy mực (tương tự như post này) để diễn đạt đầy đủ.
5. Vai trò trong tổ chức
Bạn sẽ có cảm giác khác biệt giữa hai môi trường. Làm luật sư trong hãng luật tức là bạn có vai trò trung tâm, bạn là một tài sản tạo ra tiền. Những giờ tư vấn tính phí và bảng tính thời gian của bạn thể hiện rõ tính lợi nhuận của bạn. Những người khác, nhân sự, hành chính, kế toán được đặt xung quang chỉ để hỗ trợ bạn. Bạn sẽ có quyền lực vì bạn chơi vai chủ chốt trong cuộc chơi. Làm pháp chế thì khác. Phòng pháp chế là một chi phí để giảm thiểu rủi ro, nó không phải là một bộ phận mang về lợi nhuận hay một bộ phận bắt buộc phải có trong một công ty. Bạn ở đó để trợ giúp mọi người, lãnh đạo công ty nhìn nhận vai trò của bạn như vậy.
Nếu bạn ở một công ty luật, khách hàng tìm đến bạn khi họ thực sự cần một luật sư. Họ thực sự muốn có được lời tư vấn của bạn để thực hiện hoặc để đưa ra quyết định. Trong khi đó, đối với vị trí pháp chế, trong rất nhiều trường hợp, mọi người tìm đến bạn với suy nghĩ rằng phòng pháp chế như là một cánh cổng mà họ phải đi qua. Ví dụ như nhân viên phòng bán hàng có thể đưa cho bạn một bản dự thảo hợp đồng sơ sài, anh ta chỉ mong muốn việc bán được hàng và không muốn lưu tâm đến những comments của bạn về rủi ro hợp đồng. Anh ta cần có được chấp thuận từ bạn cho HĐ vì đây là điều bắt buộc trong quy trình nội bộ của công ty. Vì thế, bạn cũng thấy có một chút “quyền lực” của người gác cổng.
6. Cơ hội thăng tiến
Trong hãng luật sẽ có nhiều thứ bậc để thăng tiến: trợ lý luật sư (paralegal/legal assistant), luật sư cấp dưới (junior associate), luật sư (associate), luật sư cấp cao (senior associate), luật sư thành viên (partner), luật sư điều hành (managing partner)…Bên cạnh đó con đường cấp bậc cũng khá hấp dẫn nếu bạn thể hiện tốt bởi đó là môi trường dễ dàng hơn để đo đếm được hiệu quả kinh tế bạn mang lại cho văn phòng.
Phần lớn các phòng pháp chế thường được cấu trúc thành hai loại vị trí, điều hành và nhân viên. Bạn hiểu việc thăng tiến sẽ như thế nào rồi chứ. Đừng nhầm lẫn rằng tôi nói bạn sẽ không có cơ hội để được thăng tiến, tôi chỉ muốn nói là nó ít hơn so với trong hãng luật. Về cơ bản, đó là một cái thang ít bậc. Và môi trường pháp chế cũng khó đong đếm hiệu quả của từng nhân viên hơn.
7. Việc chuyển việc từ công ty luật sang pháp chế doanh nghiệp và ngược lại
Việc một luật sư tại hãng luật chưa hề có kinh nghiệm pháp chế chuyển sang làm tại ban pháp chế sẽ dễ dàng hơn nhiều so với điều ngược lại. Tại sao? Lý do như đã nói đến ở trên, giờ làm việc, phong cách làm việc, chuyên môn…v.v. Tổng quát lại thì những kinh nghiệm có được tại hãng luật có thể áp dụng khi chuyển sang môi trường pháp chế một cách dễ dàng hơn. Điều này không có nghĩa là bạn không thể vào một hãng luật sau một thời gian dài chỉ làm pháp chế. Nó chỉ có nghĩa là bạn sẽ gặp nhiều khó khăn để chứng tỏ sự xứng đáng của mình với nhà tuyển dụng của hãng luật, những người thường sẽ ưu tiên cho các ứng viên có kinh nghiệm làm việc tại hãng luật tương tự.
8. Danh tiếng
Bạn thường nhìn thấy tên ai trên truyền thông, báo chí, bảng xếp hạng các luật sư như Legal 500, chambers and partners, Asia law, who is who legal, hay IRFL 1000 …v.v Đúng vậy, đó là các luật sư tại các hãng dẫn đầu và những luật sư có văn phòng riêng. Vậy, có phải vì những luật sư đó có chuyên môn vượt trội so với những đồng nghiệp làm pháp chế? Không, họ là những luật sư hàng đầu nhưng bạn không nên tự động nghĩ rằng chuyên môn của họ tốt hơn tất cả những luật sư pháp chế nội bộ khác. Nếu họ nhận vị trí của một TBPC, họ sẽ vấn gặp rất nhiều khó khăn như họ chưa từng gặp.
Một điều đương nhiên, một hãng luật, văn phòng luật vẫn là một công ty, một thực thể kinh doanh. Nó cũng cần phải marketing, quảng cáo như tất cả các loại công ty khác. Chắc bạn hiểu tầm quan trọng của marketing trong thời đại này rồi. Như một điều tất yếu, khi một hãng luật xây dựng danh tiếng, các luật sư của họ sẽ có nhiều cơ hội hơn để xuất hiện trên tạp chí, truyền thông và danh sách bảng xếp hạng luật sư.
Trong khi đó, các công ty mong muốn luật sư nội bộ chỉ làm việc cho riêng mình. Hãy tưởng tượng bạn sở hữu một công ty và có luật sư riêng, bạn sẽ mong muốn luật sư đó dành toàn bộ thời gian và nỗ lực để phục vụ công ty của bạn hay luật sư đó vẫn cung cấp dịch vụ cho những người khác, đó là còn chưa tính đến tư vấn cho các đối thủ kinh doanh của bạn? Rất nhiều công việc TBPC sẽ gắn với một hạn chế công việc kinh doanh riêng. Đúng vậy, đối với TBPC (mức độ cao nhất của luật sư nội bộ), họ ít khi xuất hiện trên tạp chí hay bảng xếp hạng các luật sư.
Vì vậy, nếu bạn muốn trở thành luật sư “có tiếng”, làm việc trong hãng luật sẽ tốt hơn cho bạn. Nếu bạn làm việc trong phòng pháp chế, đừng ngây ngô nghĩ rằng nếu bạn sở hữu vốn kiến thức uyên bác và kỹ năng xuất sắc thì cộng đồng sẽ tự động biết đến bạn. Bạn phải bước ra sân khấu và thể hiện cho mọi người xung quang bạn khá như thế nào. Khi bạn làm cho một hãng luật, khách hàng và các hãng luật khác sẽ là khán giả cho sân khấu đó, và nếu bạn làm tốt, sẽ có nhiều người biết đến bạn hơn.
9. Partner so với Trưởng phòng/Giám đốc Ban Pháp chế
Tôi không biết nên dùng từ gì gọn gàng trong tiếng Việt để chỉ “Partner” (có thể dịch là “luật sư thành viên”), vì vậy nên xin giữ nguyên từ này cho nó gọn. Một partner tức là một luật sư có vốn sở hữu trong hãng luật. Thường thường thì một hãng luật sẽ có nhiều partner.
Nếu bạn vẫn đọc phần này thì xin cảm ơn sự kiên nhẫn của bạn! Và tôi đoán rằng bạn có thể là một người tham vọng hoặc khá tò mò…Thành thật mà nói, tôi chưa bao giờ trải qua hai vị trí cao nhất này và nó là xa vời. Nhưng tôi đã làm việc rất gần với những người nắm giữ vị trí này nên tôi có thể tiết lộ một số điều mà tôi biết.
Cả hai đều là những vị trí rất thử thách! Là TBPC có nghĩa là bạn chịu trách nhiệm toàn bộ cho hoạt động của phòng pháp chế và các vấn đề pháp lý. Bạn sẽ phải làm việc rất gần với các lãnh đạo công ty và chịu sự ảnh hưởng bởi phong cách của họ. Nếu sếp của bạn làm việc ngày đêm thì bạn cũng phải sẵn sàng ngày đêm. Cho dù bạn có là một luật sư xuất sắc thì một điều kiện tiên quyết để bạn có thể gắn bó và trụ được lâu dài như một TBPC đó là bạn phải rất “hợp” với phong cách của lãnh đạo công ty.
Nói về việc làm partner. Ok, bạn bắt đầu là một trợ lý luật sư, bạn làm tốt và tiến bộ, bạn trở thành một luật sư cấp cao thành công và gắn bó lâu dài với hãng luật. Tiếp theo thế nào? Hãng luật sẽ đề xuất bạn trở thành partner để ghi nhận những cống hiến của bạn. Vâng, trở thành một partner, nhiều quyền lực hơn khiến cuộc sống trở nên dễ dàng… Đó là một phần thôi, thực tế khác như vậy. Đây là một điều đã từng làm tôi rất ngạc nhiên: tôi biết và đã nghe về một số tình huống mà các luật sư Việt Nam/hay cả luật sư nước ngoài của các công ty luật nước ngoài từ chối với đề nghị trở thành partner của hãng luật mà mình đang làm việc. Vâng, đó là sự thật. Tại sao? Đề nghị trở thành partner thường gắn với điều kiện về mua phần vốn kèm theo các cam kết hiệu quả khác, điều này dẫn đến sự sụt giảm về thu nhập trong giai đoạn đầu. Ngoài ra, trở thành partner, bạn không còn đơn thuần chỉ là một luật sư nữa, bạn là một doanh nhân điều hành dịch vụ pháp lý. Đó không chỉ đơn giản là một món quà mà còn là một thử thách.
Công việc thử thách gắn liền với phần thưởng xứng đáng. Một anh bạn luật sư của tôi từng tiết lộ anh nhận được đề nghị làm luật sư nội bộ với mức lương tháng 10K USD từ một tập đoàn trong nước! Một con số thật lớn, và đó là con số lớn nhất tôi được biết cho vị trí luật sư nội bộ. Con số trung bình thấp hơn nhiều, bạn có thể lên Vietnamwork để kiểm tra. Tôi không biết các partner thu nhập bao nhiêu nhưng tôi đoán rằng partner sẽ thu được nhiều hơn. Bạn có thể xem mục 2 – Lương để biết cách tìm hiểu so sánh lương. Ngoài khoản lương ra, partner sẽ có cổ tức/lợi nhuận từ hãng luật nhưng TBPC cũng có thể nhận thưởng và cổ phiếu thưởng từ công ty của họ, điều này làm khoảng cách nhỏ lại.
Hy vọng qua bài này bạn sẽ có được một cái nhìn nhất định về sự khác biệt giữa hai môi trường phổ biến của nghề luật sư hiện nay. Không có lựa chọn nào là hoàn hảo, tuy nhiên sẽ luôn có cái phù hợp hơn cho một mục tiêu nào đó của bạn. Chúc may mắn!
Không phải tự nhiên mà nhiều người học luật hoặc đã từng học luật phải thừa nhận nghề luật chọn người chứ không phải là người chọn nghề luật. Vốn dĩ là một lĩnh vực phức tạp và rất áp lực, dưới đây là một số chia sẻ qua kinh nghiệm của cá nhân tôi dành cho các bạn sinh viên luật để có thể tồn tại trong lĩnh vực này.
1. Người học luật phải cháy hết mình bằng tình yêu với luật
Nhiều người nói với tôi rằng học luật cần phải có sự đam mê. Tôi thừa nhận rằng những người học luật với tất cả sự đam mê và thích thú chắc chắn học sẽ nhanh hơn và ít “khổ” hơn những người khác. Tuy nhiên không phải lúc nào tôi cũng thấy những người như vậy, thay vào đó là “Em học luật vì gia đình em khuyên thế”, “Em học luật vì nhà có người làm trong ngành luật”, “Em học luật vì bố mẹ em thích em học luật”, “Em học luật vì em không đủ điểm vào trường khác”… . Tuy nhiên không dễ và không hợp lý để nói yêu một cái gì đó khi mà các bạn còn chưa rõ về nó.
Thật khó có thể yêu cầu một bạn học sinh vừa tốt nghiệp cấp ba, vừa trải qua một quá trình ôn thi kéo dài có thể thật sự hiểu về ngành luật hay là công việc của một luật sư. Tôi thậm chí đã làm trong ngành luật hơn 5 năm nhưng nhiều khi phải thốt lên rằng cuộc đời ơi, ngành luật ơi sao mà phức tạp đến thế. Có lẽ những gì đa số các bạn tân sinh viên luật biết mới chỉ là hình ảnh bóng bẩy của các luật sư hay trong vài bộ phim tình cảm, trinh thám. Dĩ nhiên đó chỉ là bề ngoài của ngành luật và những gì chờ đón các bạn ở trường đại học và những tháng ngày hành nghề luật không phải như vậy.
Vì vậy, theo quan điểm của riêng tôi, đam mê là một điều cần thiết và sẽ là lợi thế đối với một số người học luật. Tuy nhiên, nếu như bạn chưa có được sự đam mê đó thì theo tôi đừng quá vội bi quan vì:
Việc am hiểu pháp luật rất có ích cho dù sau này các bạn lựa chọn hướng đi nào chăng nữa.
Với một tấm bằng cử nhân luật những lựa chọn nghề nghiệp của bạn cũng đa dạng hơn rất nhiều. Đây có thể là một lựa chọn với nhiều bạn trẻ khi mà các bạn còn chưa định hướng được năng lực và sở thích của chính mình. Sau này khi thấy mình thích một ngành khác, ai cấm các bạn rẽ hướng cơ chứ.
2. Học luật có khó không?
Dĩ nhiên là học luật khó chứ, Người ta có thể tạo ra những cỗ máy nhưng chưa ai có thể tạo ra một con người hoàn chỉnh cả bởi lẽ con người là một trong những thứ phức tạp nhất của tự nhiên. Cái người học luật học lại là những mối quan hệ giữa con người với con người, do đó không thể nói là nó đơn giản được. Tất nhiên cái gì cũng có tính tương đối của nó, khi học luật hãy đừng suy nghĩ tiêu cực về nghề luật của chúng tôi như vậy nhé, bởi vì:
Chúng tôi không bao giờ đọc thuộc luật đâu. Các quy định pháp luật nhiều lắm, tôi làm luật hơn 5 năm mà bảo tự nhiên đọc thuộc một điều luật nào là một điều không tưởng. Hiện tại bạn có thể dễ dàng tìm thấy các quy định pháp luật trên internet nhé với đủ các công cụ để tra cứu, dẫn chiếu. Vấn đề là bạn hiểu và áp dụng chúng có chính xác hay không mà thôi.
Học luật quan trọng là các bạn rèn luyện được một tư duy phân tích và phản biện. Đó là khi tiếp xúc với một vấn đề bạn cần chọn lọc, xâu chuỗi các thông tin, đặt ra các vấn đề và giải quyết các vấn đề liên quan. Ngoài ra, học luật cũng như dạng học nghề và vì vậy không chỉ có kiến thức mà cần có các kỹ năng mềm liên quan, vì vậy hãy chú ý rèn luyện những kỹ năng này nhiều nhé.
3. Thành công rồi tôi sẽ thuê phiên dịch
Thế hệ của tôi ngoại ngữ là một lợi thế nhưng có lẽ đối với những bạn trẻ đọc bài viết này có lẽ lại là một điều bắt buộc. Các bạn còn chưa biết đâu, tuổi cầu thủ bóng đá chỉ cùng lắm đến 35 thôi trong khi tuổi nghề trong ngành luật thì dài lắm. Tôi còn thấy những luật sư hơn 70 tuổi còn xông xáo tại các tòa mà gừng càng già càng cay nhé. Trong khi đó, mỗi năm hơn 4000 sinh viên luật mới ra trường. Cạnh tranh việc làm trong ngành luật đang trở nên ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết. Thử nghĩ các bạn sẽ có gì để so sánh với các bậc đàn anh đàn chị đầy đủ kinh nghiệm trong cạnh tranh việc làm đây. Ngoài ra nếu các bạn rẽ hướng sang kinh doanh thì dĩ nhiên ngoại ngữ lại vô cùng cần thiết rồi.
Vì vậy, ngay từ năm nhất nên tận dụng thời gian khi chưa có quá nhiều áp lực từ các môn chuyên ngành, tự trang bị cho mình khả năng ngoại ngữ pro là điều nên và cực kỳ nên làm đấy.
4. Học một ngành luật thôi là đủ xài rồi.
Việc phân chia thành các ngành luật như luật thương mại, luật dân sự, Luật hình sự …. chỉ mang tính chất tương đối. Các ngành luật hay các môn học luật đều có những mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Thông thường một người học luật cho dù học chuyên ngành nào cũng cần phải có một hệ thống kiến thức pháp luật nền tảng về tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở đó, người ta có thể chuyên sâu vào một hoặc một vài lĩnh vực cụ thể. Hơn nữa, khi giải quyết một vấn đề phát sinh trên thực tế thì đa số các trường hợp người ta đều phải liên kết kiến thức thuộc các mảng, lĩnh vực khác nhau. Ví dụ để xử lý một tranh chấp về thừa kế, bên cạnh những quy định pháp luật về dân sự, chúng ta cần nắm những quy định về pháp luật hành chính trong các thủ tục khai nhận di sản. Rồi biết đâu trong vụ đó lại có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự nữa chứ. Do đó, nếu nói tôi học luật kinh tế hay luật thương mại thì tôi không cần quan tâm đến các môn luật hình sự, luật dân sự thì sẽ là một sai lầm rất lớn đấy.
5. Nên sớm tìm kiếm cơ hội thực tập trong môi trường làm việc thực tế
Ở một số quốc gia, nghề luật được xem là dạng nghề dạy nghề. Kiến thức là cái chúng ta có thể cập nhập khi còn là sinh viên cũng có thể tự cập nhập trong quá trình làm việc. Kỹ năng phân tích vấn đề, xử lý tình huống, ngược lại, chỉ có thể được bồi đắp qua môi trường và những công việc thực tế. Vì vậy, ngay từ khi bước chân vào cổng trường đại học, các bạn nên chuẩn bị tinh thần để sẵn sàng đi thực tập ngay khi có thể. Liên quan đến vấn đề này, sinh viên luật cần lưu ý:
Việc thực tập như nói ở trên chỉ bao gồm thực tập tại các công ty luật, các phòng pháp chế, tòa án hay viện kiểm sát. Việc làm tại các quán cafe, bán thời gian cũng có những lợi ích nhất định nhưng không thuộc phạm vi nói đến ở bài này.
Khi thực tập nên có thái độ cầu thị. Những công việc như xử lý văn bản, photo, sắp xếp tài liệu sẽ làm các bạn chán nản. Nhưng bên cạnh đó chúng ta có thể tiếp xúc cách các luật sư xử lý các tình huống trên thực tế, quản lý công việc, tranh luận…. Việc giao tiếp, va chạm hàng ngày cũng là cơ hội để khắc phục tâm lý nhút nhát hay thấy ở các bạn sinh viên.