HR Law

Chia sẻ kiến thức pháp lý nhân sự

  • Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:

    1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành25/12/2023
    Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam18/09/2023
    Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành20/06/2023
    Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý20/10/2022
    Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động01/07/2022
    Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng17/01/2022
    Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành30/01/2022
    Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành01/09/2021
    Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam15/02/2021
    Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động01/02/2021
    Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu01/01/2021
    Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành01/01/2021
    Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành15/03/2021

    2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực

    Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.18/8/2023
    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao17/10/2018

    3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 201501/07/2016
    Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
    Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 201401/07/2015Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
    Luật Thuế thu nhập cá nhân 200701/01/2009Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
    Luật Việc làm năm 201301/01/2015Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
    Luật Công đoàn năm 201201/01/2013Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
    Luật Bảo hiểm xã hội năm 201401/01/2016Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 202001/01/2022Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật người khuyết tật 201001/01/2011Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
    Luật Trẻ em 201601/06/2017Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
    Bộ luật Tố tụng Dân sự 201501/07/2016Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
    Luật Bình đẳng giới 200601/07/2007Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
    Luật người cao tuổi năm 200901/07/2010Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
    Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên

    Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.

  • Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:

    – Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.

    – Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.

    2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.

    3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.

    Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.

    Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

    Xem văn bản

  • HRLegal tổng hợp các tài liệu, biểu mẫu các văn bản pháp lý trong công tác quản trị nhân sự bắt buộc phải có theo quy định pháp luật, gồm có:

    • Mẫu hợp đồng lao đồng
    • Mẫu Thỏa ước lao động tập thể
    • Mẫu Nội quy lao động
    • Mẫu Quy chế dân chủ và đối thoại tại nơi làm việc
    • Mẫu Quy chế đánh giá hoàn thành công việc
    • Mẫu sổ quản lý lao động

    Các bạn tải về tại link drive này nhé. Nếu bạn tư vấn soạn thảo các văn bản pháp lý nhân sự, vui lòng liên hệ HRLegal.vn để được giải đáp nhé

  • Chuyện con mèo dạy hải âu bay” hoang đường như thú vị phết!

    Có 1 quyển sách mang tên “Chuyện con mèo dạy hải âu bay” ( tác giả Luis Sepúlveda) kể về câu chuyện chú mèo mun mang cái tên kiêu hãnh Zorba đã quyết định chấp nhận lời khẩn cầu của cô chim hải âu mẹ Kengah mắc nạn, đang trong tình trạng không thể qua khỏi nhưng lại sắp sinh ra một quả trứng. Sau khi quan sát tình trạng thê thảm của hải âu mẹ, Zorba đã bày tỏ lòng độ lượng mà nghe những lời trăn trối dành cho đứa con sắp ra đời cô và đã hứa 3 điều:

    • Sẽ không ăn quả trứng
    • Sẽ chăm lo quả trứng cho đến khi con chim non ra đời
    • Và sẽ dạy con chim hải âu non ấy bay!

    Sau khi cô chim hải âu mẹ qua đời, Zorba cấp tốc đi tìm những anh em mèo thông thái nhất kể lại chuyện điên rồ mà chính miệng mình nói ra, và càng điên rồ hơn nữa khi khả năng leo trèo của mèo mun chỉ dừng lại trên cái mái nhà lại phải dạy cho một chú chim bay vút lên trời?! Nhưng với thân phận là một chú mèo ở cảng phải biết giữ lời hứa nên Zorba không còn cách nào để thay đổi trách nhiệm mà chú đang gánh.

    Và điều thú vị nhất có lẽ là một chú mèo mun phải bảo vệ, phải ấp quả trứng suốt 20 ngày cho đến khi chim non ra đời. Tiếng gọi đầu tiên mà hải âu con khi nhìn thấy Zorba chính là “Má! Má! Con đói”. Ôi chao! Dường như câu nói thốt ra từ chiếc mỏ đáng yêu của chim non đã làm cho Zorba rung động đến mức sẵn sàng nhảy tới nhảy lui từ ban công này sang ban công khác, thậm chí lại còn có thêm cuộc họp chỉ để tìm thức ăn cho “đứa con” trên trời của mình. Chim hải âu con cảm kích và còn dành tặng 1 lời khen cho bà Má  –  “một bà Má rất Xịn”. Zorba còn đặt tên cái tên Lucky cho hải âu con  và  luôn bảo vệ nó trước mọi rình rập hiểm nguy trở thành bữa ăn của những con mèo khác và tất nhiên hải âu con không bao giờ tiếc lời khen với Má mình – “ Má của con thật là anh hùng!”.

    Xem thêm: Review sách Bước chậm lại giữa thế gian vội vã – Hae Min

    Giây phút hải âu con vừa chào đời và kêu lên : “Má! Má! Con đói!”

     Bằng uy tín của chú mèo mun xứ cảng cuối cùng Zorba cũng nuôi hải âu Lucky thành một con chim hải âu thiếu niên, điều đó đồng nghĩa đã đến lúc tập bay! Một lớp học tập bay của những Thầy mèo thông thái được thành lập và hoạt động bài bản bắt đầu từ lý thuyết rồi mới đến thực hành. Sau 17 lần những người “thầy mèo – trò hải âu” cố gắng áp dụng lý thuyết vào thực hành nhưng cả 17 lần đều thất bại với vài phân cách mặt đất và kết thúc bằng cú ngã uỵch. Không bỏ cuộc, Zorba đã sự dụng điều kì diệu đó là giao tiếp với con người, phá vỡ điều cấm kị “nói tiếng người” của loài mèo. Sau khi quyết đoán lựa chọn được một con người có thể tin tưởng giúp cho hải âu Lucky có thể bay thành công. Và bằng sự dũng cảm của chính hải âu lucky, những lời động viên dạt dào, chân thành của Má mèo mun Zorba cuối cùng Lucky đã bay lượn tự do trên bầu trời của thành phố cảng Hamburg. Và câu nói mà Lucky trước khi bay lượn ngất ngây trên bầu trời to lớn dành cho Má Zorba của mình chính là “ Con sẽ không bao giờ quên Má và các bác mèo”. Mèo mun Zorba  ngồi dõi theo đường bay của hải âu Lucky đến khi đôi mắt bị phủ mở không biết bởi giọt mưa hay chính nước mắt của chú.

    Câu chuyện nuôi dưỡng vườn tâm hồn với  những giá trị phẩm chất thật

    Tác phẩm “Chuyện con mèo dạy hải âu bay” tưởng chừng chỉ dừng lại ý nghĩa hư cấu nhằm thỏa mãn óc sáng tạo và giải trí dành riêng cho lứa tuổi thiếu nhi. Nhưng từ những chi tiết nhỏ trong cách suy nghĩ, hành động, cách giải quyết vấn đề của chú mèo mun Zorba, của cô chim hải âu mẹ, của các bác mèo và của chú chim hải âu may mắn như chính cái tên của nó – Lucky đều chứa đựng những phẩm chất vô cùng đáng quý của mỗi người.

    Đầu tiên là cô chim hải âu mẹ khốn khổ, biết trước mình không còn đủ sức, vào những phút sống sót cuối cùng bằng tình yêu thương vô vàng dành cho đứa con sắp nở của mình, bằng trách nhiệm, sự  tận tâm sau cuối của danh nghĩa Mẹ dành cho con, cô đã liều mình, quyết định giao quả trứng cho một con mèo. Có thể với linh cảm của một cô chim mẹ sắp qua đời, bỗng nhiên cô lại có một thứ niềm tin vô hình mãnh liệt mà gửi gắm nơi nương tựa của con mình vào chú mèo Zorba. Qua đó, mới thấy được rằng, trên cuộc đời này, chỉ có con cái rời bỏ Cha Mẹ mình, nhưng không Cha Mẹ nào từ bỏ con cái dù trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Bổn phận làm con, làm cháu, chúng ta phải luôn biết yêu quý, ghi nhớ công lao dưỡng dục, sinh thành của Cha Mẹ, Ông Bà. Mỗi người chỉ có một Gia đình, hãy luôn trân trọng, dành những điều tốt đẹp nhất cho Gia đình khi còn có thể.

    Zorba – chú mèo mun kiêu hãnh nhưng chất chứa biết bao những phẩm chất đáng trân trọng mà chính loài người cần phải học hỏi. Khi nhìn thấy tình cảnh đáng thương của cô hải âu mẹ, lần đầu nó đã tính bỏ mặc nhưng khi nghe tiếng kêu, lương tâm của một con mèo đã nổi dậy và quay lại. Sự thương xót trước con vật khổ hơn mình, tự dưng Zorba lại đồng ý hứa giúp hải âu mẹ, chẳng những vậy hứa tới tận 3 điều. Quả là một anh hùng dũng cảm đến điên rồ ! Nhưng rồi cũng chính vì uy tín của một con mèo xứ cảng, mà nó đã quyết tâm phải làm tròn trách nhiệm, làm tròn 3 lời hứa do chính miệng mình thốt ra. Và sau những tháng ngày cố gắng chăm sóc chim hải âu con nó đã ý thức được vai trò làm Má nuôi của hải âu Lucky, nó đã dùng lòng khoan dung, yêu thương chân thành mà chia sẻ cho Lucky nghe những điều tốt đẹp mà nó đã nhận ra được. Đó là cách yêu thương một kẻ không cùng đồng loại bằng chính trái tim và tấm chân tình của mình, cách làm sao để có được sự dũng cảm, cách vượt qua thử thách và khó khăn của chính bản thân mình và bài học làm việc hiệu quả hơn khi biết hợp tác với những người cộng sự đáng yêu của mình. Zorba đã thực sự thành công trong việc nuôi đưỡng, chỉ bảo cho hải âu con đến giây phút hải âu tung cánh vụt bay cao lên bầu trời. Chỉ nhiêu đây thôi, chúng ta nên thấu hiểu rằng, phải biết yêu thương, giúp đỡ những người đang gặp khó khăn khi mình có thể giúp được, dù không sống chung một mái nhà. Dám dũng cảm, chấp nhận những thử thách mà mình chưa bao giờ thử để làm mới, làm giàu thêm tri thức cũng nhưng kinh nghiệm cuộc đời mình. Sống là chia sẻ, là hợp tác, là động viên, là giúp đỡ để luôn có được những điều tốt đẹp nối tiếp tốt đẹp, để cuộc đời có ý nghĩa hơn, trọn vẹn hơn.

    con mèo dạy hải âu bay

    Cuối cùng, bàn về hải âu Lucky, thật sự rất may mắn khi gặp được Má mèo mun Zorba trong cuộc đời thiếu thốn Cha Mẹ của mình. Lucky luôn biết trân trọng niềm hạnh phúc, sự đùm bọc, thương yêu của Má Zorba dành trọn vẹn nhất cho nó. Lucky không bao giờ tiếc một lời khen đối với Má mèo Zorba có 1-0-2 của mình. Lucky luôn ghi nhớ những lời sẻ chia, động viên của Má mèo Zorba lấy đó làm động lực mà tự vút bay bằng chính đôi cánh của mình trên bầu trời rộng lớn. Và lòng biết ơn trong Lucky sẽ không bao giờ dập tắt với câu nói “Con sẽ không bao giờ quên Má và các bác mèo “. Sống là phải biết ơn, biết dành cho nhau những lời khen chân thành, trân trọng những lời động viên từ Gia đình và mọi người xung quanh, lấy đó làm động lực vượt qua khó khăn, thử thách. Chỉ có như thế những điều tươi đẹp sẽ nối tiếp mở ra những điều tươi đẹp hơn.

    Và để có được một câu chuyện ý nghĩa nuôi dưỡng phẩm chất tốt đẹp thì người tác giả quyển sách Chuyện con mèo dạy hải âu bay” đã viết ra nó bằng chính tâm hồn và trái tim của mình. Một niềm tin tuyệt đối vào những điều hoang đường trong chuyện đều sẽ mang lại một sức mạnh kì diệu cho tất cả những ai thưởng thức bằng chính tâm hồn của họ.

    Theo: Vườn Tâm Hồn

  • Bước chậm lại giữa thế gian vội vã là một tản văn về tình yêu, cuộc sống của đại đức Hae Min. Bị ấn tượng với cái tựa, đọc coi bộ thấy nhẹ nhàng, thanh thoát lắm, thế nên móc hầu bao thỉnh về. Nhưng đọc được vài trang đã cảm thấy không có hứng thú, ráng lướt lướt cho đến cuối sách rồi cuối cùng bỏ ngang, không đọc tiếp nữa.

    Review cuốn sách: Bước chậm lại giữa thế gian vội vã – Tác giả Hae Min

    Nội dung là cái nhìn và cảm nhận của tác giả về những điều trong cuộc sống, gồm: tương lai, tình yêu, những mối quan hệ, nhiệt huyết. Là người theo đạo nên trong sách cũng có dành 2 chương để nói về “Tu hành” và “Tôn giáo”. Cách hành văn nhẹ nhành, đơn giản, mang tính chất an ủi, sẻ chia, có lồng 1 vài triết lý Phật giáo đơn giản và quen thuộc. Các chương đều ngắn, đọc không thấy lê thê.

    bước chậm lại giữa thế gian vội vã - đại đức hae min

    Giới thiệu tác giả: Hae Min – Người viết cuốn sách “Bước chậm lại giữa thế gian vội vã”

    • Tác giả là Đại đức Hae Min
    • Nguyên quán: Sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc
    • Ông có bằng Thạc sĩ Tôn giáo học tại Havard
    • Bằng Tiến sĩ Tôn giáo học ở Đại học Princeton
    • Ở Mỹ, ông được tham gia lớp giảng dạy về tôn giáo ở đại học Hamphrise, Massachusetts
    • Năm 2000, Đại đức Hae Min quyết định xuất gia theo tông phái Tào Khê – một phái tiêu biểu của Phật giáo ở Hàn Quốc
    • Năm 2005, Hae Min trở về Seoul và mở trường Trị liệu tâm hồn và điều trị miễn phí
    • Hiện nay, Đại đức Hae Min là một trong những người có ảnh hưởng rất lớn đến giới trẻ Hàn Quốc.

    Tác phẩm tiêu biểu của Đại đức Hae Min

    • Những vỡ lẽ của tuổi trẻ
    • Yêu lấy những điều không hoàn hảo.

    Ý nghĩa của cuốn sách: Bước chậm lại giữa thế gian vội vã

    Bạn muốn có được một chỗ bám trên xe buýt giờ đi làm, hay xe nhích nhau từng centimet giờ tan tầm, quay cuồng với đề thi cuối kỳ và tiến độ công việc lu bù. Hay cụ thể hơn chính là những mỗi quan hệ cá nhân giữa con người với con người.

    review sách bước chậm lại giữa thế gian vội vã

    Điều nhỏ nhặt trên có làm cho bạn cảm thấy không gian và thời gian dường như đang xoay chuyển quá vội vàng không?

    Xem thêm: Giá trị THẬT từ Chuyện con mèo dạy hải âu bay

    Cùng Kệ sách Online đọc review về cuốn sách – tản văn Bước chậm lại giữa thế gian vội vã này cùng một thành viên vô cùng thân thiết nhé!

    Cảm nhận cuốn sách: Bước chậm lại giữa thế gian vội vã do chính tác giả giới thiệu

    Mở đầu mỗi chương đều bắt đầu từ 1 đoạn với cách viết xuống dòng tách rời như 1 đoạn thơ tự do, nhưng chả có vần có điệu gì hết, cho nên mình đọc thấy khó chịu, khô khan. Sau “đoạn thơ” mới bắt đầu là thể loại tản văn như phần thể loại của quyển sách ghi. Thường là những câu chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt trong cuộc sống hằng ngày của tác giả hay qua những chuyến đi và sự kiện đặc biệt, từ đó thể hiện quan điểm, tư tưởng, cách nhìn, nội dung muốn truyền đạt của tác giả.

    Văn phong cực kỳ bình thường, nói thẳng ra với mình là dở (xét trong phạm vi tác phẩm chứ không dựa vào nghề nghiệp của người viết, tức Hae Min là nhà sư, không phải nhà văn nên thường sẽ viết ít kỹ năng hơn người theo đuổi nghiệp viết). Viết tùy hứng, không có sự chấm phá hay điểm mới nổi bật. Nội dung cũng vậy, không có gì mới mẻ. Toàn là những điều, những quan niệm mà mọi người nói chung và dân đọc sách nói riêng – nhất là người ưa tản văn – đều thuộc nằm lòng. Các triết lý Phật giáo hết sức bình thường và quen thuộc đến nỗi nhàm chán, có thể thấy đầy trên Facebook.

    review bước chậm lại giữa thế gian vội vã

    Nói chung cảm thấy thất vọng với cuốn này. Không hiểu tại sao nó lại được trao vương miện best-seller trong khi 1 tác phẩm cùng thể loại khác là “Trưởng thành sau ngàn lần tranh đấu” lại ít được biết đến hơn.

    Review by Tường Vân

    Theo: Kệ sách Online – Sách hay nên đọc

  • Mọi người đều nghĩ thất tình là chuyện rất to tác, “trái tim vụn vỡ”, bla bla. Nhưng đối với Nguyễn Ngọc Thạch thì “Thất tình không sao”. Riêng tôi chỉ cần thấy cái tên là muốn cầm đọc ngay cuốn sách này rồi đấy!

    Cuốn sách “Thất tình không sao” đánh dấu sự trở lại của tác giả Nguyễn Ngọc Thạch sau hai năm yên ắng vì nỗi đau “thất tình”. Có thể nói, tác phẩm này như một bước ngoặt lớn của Nguyễn Ngọc Thạch. Khác với văn phong trước đây của anh, “Thất tình không sao” như một sự lột xác, khoác lên mình chiếc áo của sự trưởng thành. Người đàn ông đã biết tập trung cho sự nghiệp, biết nhìn thẳng vào vấn đề, những điều tích để thay đổi bản thân mình.

    thất tình không sao - Nguyễn ngọc thạch

    Là thế đó, ai rồi cũng một lần vấp ngã, một lần đổ vỡ để rồi đứng dậy và bước đi đầy mạnh mẽ. Đón đọc tác phẩm này và cho Kệ sách Online những review sách tuyệt vời nhất nhé!

    Giới thiệu tác giả: Nguyễn Ngọc Thạch – Người viết tiểu thuyết “Thất tình không sao”

    • Nguyễn Ngọc Thạch – Bút danh Jade Vissel
    • Sinh ngày: 2/1/1988
    • Anh thường viết về những đề tài “nóng” của xã hội
    • Mỗi tác phẩm luôn để lại dấu ấn riêng trong lòng người đọc

    Lần này, bằng kinh nghiệm tình trường của mình, Nguyễn Ngọc Thạch đã viết ra một tác phẩm có thể gọi là “một cánh cửa mới” cho những ai đang thất tình. Mọi thứ sẽ không sao khi bạn biết suy nghĩ, nhìn nhận vào bản chất của sự việc, tình yêu của chính mình. Bởi không ai hết, trái tim bạn thì chỉ bạn hiểu rõ về nó hơn hết mà thôi.

    thất tình không sao

    Ý nghĩa của cuốn sách: Thất tình không sao

    Cho tôi hỏi bạn một câu, bạn đã bao giờ thất tình chưa? – (Câu hỏi này không dành cho người ế theo xu thế nha).

    Chắn chắn là không ít thì nhiều cũng đã có một người tình đi qua đời bạn rồi đúng không? Cảm giác bị thất tình, hay bị bỏ rơi lại phía sau thế nào? Bạn thấy “không sao” hay “gục ngã”? Rất khó để nhìn lại điều mình từng trải qua phải không.

    Nhưng có lẽ “Thất tính không sao” sẽ giúp bạn có một cái nhìn hoàn toàn khác. Bạn sẽ nhận ra sự đa sắc màu trong nỗi đau thất tình.

    Câu chuyện bắt đầu của cuốn sách chính là chuyện Hai mươi tuổi tự tử vì tình, tác giả đưa người đọc đến cái ranh giới mong manh nhất của sinh – tử. Cùng nhau trải qua mọi cung bậc cảm xúc để cuối con đường là trái tim tan vỡ của người đàn bà từng trải. Đâu đó, bạn sẽ nhận ra hình bóng của minh, luôn xứng đáng để có được bến bờ hạnh phúc.

    Hình ảnh chiếc Vespa cổ trên bìa cuốn sách mang ý nghĩa chính là con người luôn cần chạy nhanh khỏi cảm giác đó – thất tình – buồn bã,… Không đi bộ, không chạy xe đạp vì vượt qua cơn thất tình kiểu đó thì đến khi nào mới khỏi. Cũng chẳng phải đi xe hơi, vì ngồi trong đó đóng cửa kính, không thể hiểu được không khí và lòng người xung quanh.

    sách thất tình không sao - tác giả nguyễn ngọc thạch

    Vậy tại sao lại là Vespa Cổ? Bởi vì dù có đang ở trong trạng thái nào đi chăng nữa bạn cũng phải thật kiêu hãnh. Thứ tình cảm kia cũng đã trở thành hoài cổ, nhiều khi muốn cảm giác lại cái “đớn đau” đó mà không được đó chứ. Thế nên Nguyễn Ngọc Thạch trân trọng nó và ví như một chiếc xe máy cổ.

    Thất tình có phải là không sao?

    Thất tình là một cảm giác đáng sợ, nhưng đó là quy luật. Một món quà của tuổi trẻ để trái tim được trải nghiệm, học cách yêu và cách chịu đựng những tổn thương. Có như vậy mới trưởng thành và mạnh mẽ hơn.

    Cả cuốn sách Thất tình không sao sẽ dạy bạn cách tập trung vào cuộc sống của chính mình. Tích cực, lạc quan hơn, không để những suy nghĩ tiêu cực làm trái tim tổn thương. Cứ vượt qua rồi mạnh mẽ chạm tay đến hạnh phúc mới – hạnh phúc thật sự thuộc về bạn.

    “Thất nghiệp mới chết, Thất tình không sao…” – Nguyễn Ngọc Thạch

    review thất tình không sao

    Cảm nhận cuốn sách: Thất tình không sao do chính tác giả giới thiệu

    Đối với tôi, đọc xong cuốn sách này sẽ giúp bạn có thêm sức mạnh để vượt qua mọi nỗi đau trong tình cảm. Đồng thời, bạn sẽ bước tiếp đầy kiêu hãnh để tìm mảnh ghép đích thực của đời mình. Bởi đời còn dài, trai gái còn đầy, đừng vì một cành cây mà bỏ cả khu rừng xanh.

    Thất tình không sao” – cuốn sách dành cho những ai đã từng thất tình, đang thất tình và sẽ thất tình trong tương lai, nhưng được viết với tinh thần vô cùng lạc quan. Mỗi câu chuyện thất tình không ai giống ai, người cho nó bình thường nhưng cũng cho nó là mất tất cả. Nhưng chưa chắc họ đã thật sự đối mặt với nỗi đau muôn màu muôn vẻ ấy.

    Theo:  Kệ sách Online – Sách hay nên đọc. 

  • Theo Inamori Kazuo, dù trong thời nào, công ty dù nhỏ hay lớn, điều kiện tiên quyết của người làm lãnh đạo là “vô tư”.

    Thông qua cuốn sách Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế, tác giả Inamori Kazuo – Nhà sáng lập Hãng điện tử khổng lồ Kyocera, Hãng điện thoại KDDI, nguyên Chủ tịch Hãng Japan Airlines – mong muốn độc giả có thể tìm thấy con đường phải đi sau khi được tiếp xúc với những lời vàng ngọc của võ sĩ “samurai chân chính cuối cùng” Saigo Takamori.

    Về tác giả

    Review sách hay: con đường đến thành công bằng sự tử tế

    Inamori Kazuo tốt nghiệp ngành Kỹ sư Hóa học Ứng dụng Trường Đại học Kagoshima. Năm 1959, ông thành lập Công ty Kyoto Ceramic (Công ty Kyocera ngày nay) và đảm nhiệm chức Chủ tịch HĐQT, từ năm 1997 thì giữ chức Chủ tịch danh dự. Năm 1984, ông thành lập Công ty Daini Denden (Công ty KDDI ngày nay) và giữ chức Chủ tịch HĐQT, từ năm 2001 thì trở thành Cố vấn danh dự. Cũng trong năm 1984, ông thành lập quỹ Inamori, sáng lập giải thưởng Kyoto (vốn được xem là phiên bản Nhật của Giải thưởng Nobel) để biểu dương những người có thành tích cống hiến cho sự phát triển, tiến bộ xã hội của nhân loại. Ông còn là Hiệu trưởng Trường Seiwajyuku – nơi hội tụ các doanh nhân trẻ.

    Inamori Kazuo có nhiều đầu sách được dịch và xuất bản tại Việt Nam. Hầu hết sách của ông trình bày những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm kinh doanh và chia sẻ về những suy nghĩ làm người chân chính.

    Nội dung chính

    Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế chứa đựng nội dung “2 trong 1”: triết lý kinh doanh của nhà lãnh đạo tài ba hàng đầu Nhật Bản Inamori Kazuo, và tư tưởng làm người mẫu mực của võ sĩ samurai chân chính bậc nhất nước Nhật thời Minh Trị Duy Tân Saigo Takamori.

    Inamori Kazuo nhận định, di huấn của Saigo (được ghi chép lại trong cuốn Nanshu O I kun – quyển sách gối đầu giường của Inamori Kazuo) – chính là chân lý hướng dẫn con người đối đầu với những khổ đau, phiền muộn mà không né tránh, để rồi từ đó có cách ứng xử phù hợp, sống đúng đắn ở đời.

    Review sách hay: 10 điều tâm đắc nhất trong quyển con đường đến thành công bằng sự tử tế

    Chương 1: Vô tư

    Tôi gặp được di huấn của Saigo sau khi sáng lập Kyocera 10 năm. Công ty lúc ấy phát triển rất nhanh và lên sàn chứng khoán, nhưng trong lòng tôi đầy bất an, vì chỉ cần sai lầm trong một quyết định kinh doanh thì Công ty sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản, nhân viên và gia đình họ sẽ mất miếng cơm manh áo, ngoài ra còn có trách nhiệm với cổ đông. Đúng lúc đang mệt mỏi và đầy lo toan đó, tôi bị hút vào những lời răn dạy của Saigo.

    Tôi đã xúc động trước một Saigo phủ định tuyệt đối lợi ích cá nhân, rằng “người lãnh đạo không được chen tư tâm vụn vặt”. Nếu nghĩ đến vai trò nắm giữ cuộc sống của nhiều nhân viên thì người lãnh đạo phải chấp nhận đánh mất cá nhân mình mà làm việc, lao động thật nhiều với ý thức mình là người phục vụ công ty. Khi tư tâm của người đứng đầu xuất hiện cũng là lúc công ty gặp khó khăn.

    Nhờ lời răn của Saigo, tôi xác nhận được lòng tin với mình. Tôi thề sẽ không áp dụng chế độ “cha truyền con nối”, không để bà con ruột thịt kế tục, thậm chí không để họ hàng máu mủ đứng vào hàng ngũ lãnh đạo. Tư tưởng “vô tư” đó có thể bị cho là vô tình, lạnh lùng, nhưng để đứng đầu một tập thể thì đây là điều kiện bắt buộc.

    Saigo còn để lại lời dạy rằng, “không được mua ruộng đất tốt cho con cháu”. Những người chỉ chăm chăm làm tăng tài sản (gia sản cá nhân hay cho dòng tộc) sẽ không thể điều hành chính đạo một cách công bằng. Đây là bài học “vô tư” cụ thể nhất, để con cháu có cách sống đúng đắn. Tức cái “tư”, cái “riêng” phải hoàn toàn được đặt qua một bên. Điều này thật trái ngược với tình cảm tự nhiên của con người. Thế nhưng Saigo đã trải qua bao nhiêu gian khó nên đã cứng rắn, quyết không phản lại lời thề ấy. Người làm lãnh đạo phải có ý chí như Saigo.

    Sau khi khởi nghiệp, thu được thành công và lên sàn chứng khoán, các nhà lãnh đạo trẻ lập tức bán cổ phiếu của mình ra thị trường để thu lợi nhuận. Nếu may mắn, họ sở hữu hàng trăm triệu yen ở độ tuổi ba mươi. Nhưng chẳng biết lúc nào một người thành công như vậy sẽ tụt dốc, thất bại.

    Chúng ta đã chứng kiến nhiều trường hợp như vậy. Đó là vì thành công đã khơi dậy “tư tâm” và kéo theo sự tụt dốc không phanh. Phần lớn các nhà kinh doanh hễ lên sàn thì bán cổ phần cá nhân để thu được nguồn vốn lớn và xem như là chuyện thường tình. Kết quả là người lãnh đạo giàu có hơn nhưng nguồn tài chính của công ty chẳng những không giàu lên mà còn thiếu vốn đầu tư vào việc kinh doanh mới, từ đó đánh mất cơ hội tăng trưởng lần hai khi lên sàn.

    Năm 1971, khi Kyocera lên sàn, nhiều công ty chứng khoán mời chúng tôi tham gia giao dịch. Tôi có thể chọn 1 trong 2 cách: bán cổ phần người sáng lập sở hữu ra thị trường hoặc phát hành cổ phiếu mới bán ra thị trường. Cách thứ nhất mang lợi nhuận vào túi cá nhân người sáng lập, cách thứ hai mang lợi nhuận về công ty. Tôi đã chọn cách thứ hai để mọi tiền vốn thu được đều đổ vào công ty. Nhờ đó, Kyocera có điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh doanh ổn định, tổ chức đầu tư…

    Càng thành công, thăng tiến, chúng ta càng phải khiêm tốn, càng phải thu mình lại, hy sinh cái tôi. Nếu không có dũng khí chấp nhận vai trò thiệt thòi nhất thì không thể làm lãnh đạo. Người không có dũng khí hy sinh cái tôi mà đứng bên trên thì những người bên dưới không thể hạnh phúc. Đây là chân lý vượt thời đại, vượt tầm quy mô tổ chức. Dù trong thời nào, công ty dù nhỏ hay lớn, điều kiện tiên quyết của người làm lãnh đạo là “vô tư”.

    Chương 2: Thử thách

    Nghịch cảnh là cơ hội để chúng ta nhìn lại mình và giúp ta trưởng thành. Hãy xem nghịch cảnh là cơ hội tốt để lập chí mạnh mẽ, đối mặt với nó một cách dũng cảm. Chính nhờ thử thách mà quyết tâm được tựu thành.

    Thử thách không chỉ đơn thuần là khổ nạn. Thành công cũng chính là thử thách. Cho dù đạt được thành công và hạnh vận nhất thời, chúng ta cũng không được kiêu căng ngạo mạn, không đánh mất lòng khiêm tốn, tiếp tục nỗ lực không ngừng. Người lãnh đạo trở nên mất kiểm soát không phải lúc việc kinh doanh sa sút, mà là lúc kinh doanh thuận lợi. Thử thách dành cho người lãnh đạo là phải luôn thận trọng, hành xử đúng đắn, tránh xa hoa, không lãng phí, âm thầm lao động, chuyên tâm làm việc để làm gương. Nếu nhân viên không thấy cảm động trước thái độ làm việc của giám đốc thì mệnh lệnh ban ra khó được thi hành.

    Những lãnh đạo thông thường thường lui về phía sau, cân nhắc chiến lược, kế hoạch kinh doanh. Nhưng khi Kyocera còn là một công ty nhỏ, tôi đã nghĩ rằng nên tự mình xung phong ra phía trước, chỉ huy cấp dưới và dẫn dắt họ. Đương nhiên, đã là lãnh đạo thì cần phải nghĩ đến chiến lược, chiến thuật. Cho nên, khi thì ra “tiền tuyến” vui buồn cùng “chiến sĩ”, khi thì rút lui về “trận địa” phía sau để lên kế hoạch tác chiến, đi đi lại lại giữa “tiền tuyến” và “hậu phương”, toàn tâm chỉ huy “trận mạc” chẳng phải là người lãnh đạo tuyệt vời sao?

    Người đứng đầu công ty phải có được 2 mặt mâu thuẫn thật uyển chuyển: “độc đoán và hòa hợp”, “mạnh và yếu”, “lạnh lùng và nồng ấm”. Nếu chỉ có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, trở nên độc tài. Nếu chỉ có sự khiêm tốn, sẽ thiếu lực kéo để công ty phát triển lớn mạnh. Nếu mạnh mẽ quá sẽ gây phản ứng trong nhân viên, khiêm tốn quá lại khiến nhân viên xem thường. Điều hòa những mâu thuẫn đó và sử dụng nó như thế nào sẽ quyết định thành công hay thất bại của một đời người hay việc kinh doanh của một doanh nghiệp.

    Chương 3: Lợi tha

    Chỉ cần mỗi người gọt bớt lòng tham của mình, chịu tổn thất một chút, hay chỉ cần chúng ta dũng cảm nhường chút lợi của mình cho người khác, mọi việc sẽ suôn sẻ, trôi chảy. Tránh xa ham muốn, mài giũa lòng thành, cống hiến cho người. Đó chính là phương thuốc cho thời đại, là triết học để mọi người sống đúng đắn, là đạo đức chân chính.

    Chỉ cần thay đổi “lợi kỷ” (chỉ biết có mình) sang “lợi tha” (vì người khác, vì nhân viên, vì xã hội), ta sẽ có được sự tin tưởng và cộng tác từ những người xung quanh, lúc đó dù là công việc hay trong đời sống, mọi việc chắc chắn sẽ tốt đẹp.

    Chúng ta luôn nghĩ cách sao cho có lợi nhất đối với việc kiếm tiền của mình, nhưng thật ra không nên vậy. Như nhà tư tưởng, triết gia Ishida Baigan đã nói: “Người kinh doanh thực thụ phải nghĩ về khách hàng và nghĩ về mình”, tức là phải kiếm tiền thế nào mà khách hàng/đối tác cũng cảm thấy vui. Đây là lời giáo huấn sắc bén, đỉnh cao trong kinh doanh.

    Chương 4: Đại nghĩa

    Đại nghĩa của Kyocera được xác lập dựa trên nền tảng không vì tư lợi hay ham muốn cá nhân của một người lãnh đạo mà vì nhân viên, vì mọi người. Chính vì có đại nghĩa mang tên “quan niệm công ty” này, mọi người trong Kyocera cùng dốc sức, đoàn kết, sáng tạo, tạo nguồn động lực để phát triển.

    Tư tưởng của Saigo mà tôi luôn đề cập triệt để là “Kính Thiên Ái Nhân” (Kính trọng Trời Đất, yêu thương con người), và tôi lấy những lời này làm phương châm của Kyocera. “Kính trọng Trời Đất” là sống tốt, sống thật đúng với đạo lý tự nhiên, đạo lý làm người, có nghĩa là “thông suốt, quán triệt những điều đúng đắn với tư cách làm người”. Còn “yêu thương con người” là bỏ hết tâm tư, tư dục cá nhân, sống với trái tim biết nghĩ đến người khác, vì cái lợi cho người khác. Tôi theo phương châm này mà lèo lái công ty và chưa từng lầm đường lạc lối.

    Phần đông người ta thường thất bại trong việc dấn thân, thử thách, mở ra sự nghiệp mới, chỉ có một số ít trong khoảng chừng một nắm tay là thành công. Tôi tin rằng yếu tố quyết định thành bại là trái tim trong sáng, không tư lợi.

    Chương 5: Đại kế

    Người lãnh đạo hay giám đốc công ty phải tạo ra tầm nhìn rõ ràng trong 10 năm, 20 năm và chỉ ra cho nhân viên thấy. Ấy vậy mà nhiều người may mắn được lên chức giám đốc sau thời gian “sống lâu lên lão làng” chỉ muốn củng cố nhiệm kỳ 2 năm, 4 năm bằng cách “kế thừa phương châm của người tiền nhiệm”.

    Đương nhiên, việc kế thừa phương châm của người đi trước không có gì xấu, nếu đó là tầm nhìn tương lai rõ ràng. Nhưng nếu nó mang tính triển vọng hay mơ hồ thì việc đầu tiên phải làm trên cương vị giám đốc mới là trình bày phương châm của mình thật rõ ràng rằng “tôi muốn dẫn dắt công ty này theo hướng như vậy”. Bởi giám đốc thay đổi mà công ty không thay đổi thì thật kỳ cục. Nếu công ty không thay đổi gì so với thời người lãnh đạo ấy làm chuyên môn, trưởng phòng hay phó giám đốc thì việc người ấy trở thành giám đốc chẳng có ý nghĩa gì.

    Chương 6: Giác ngộ

    Trong điều di huấn thứ 30, Saigo có nói: “Đối xử với người không cần tính mạng, không cần danh vọng, không cần cả quan vị, tiền tài rất khó. Nếu không có những con người “lớn” như thế sẽ không đạt được thành công”. Bản thân ông là người vô tư, không cần tính mạng, danh vọng, quan vị, tiền tài, nghĩa là người đã xa rời lòng tham.

    Với người có lòng tham chỉ cần cho tiền, cho chức tước thì điều khiển họ rất dễ dàng, nhưng với những người không tham, không thể lay chuyển bằng những toan tính thiệt hơn thì rất khó điều khiển. Vậy ta sẽ lay chuyển những người như vậy bằng gì? Đó là “thành, nhân, nghĩa”. Nếu không phải là những người như vậy thì không thể cùng nhau chinh phục khó khăn.

    Từ thời trẻ, tôi đã rất thích quan điểm này của Saigo. Tự bản thân tôi không thành người như vậy được nhưng tôi thường tự nhắc mình và cố gắng đạt được như vậy. Và tôi cũng đã nghĩ cần phải có những người vĩ đại như vậy để cùng nhau làm nên sự nghiệp.

    Chương 7: Vương đạo

    Nội chính hay ngoại giao, căn bản là đi con đường đúng đắn. Nếu chúng ta dùng đối sách để đánh gục đối thủ, hẳn sẽ phải đón nhận đòn đau tương tự. Nếu dùng sức mạnh, sẽ bị người xa lánh. Nếu đối mặt mà dò hỏi thái độ, sắc mặt đối phương, sẽ không nhận được lòng tin. Nếu chúng ta cương quyết giữ vững lập trường đúng đắn, sẽ xây dựng được mối quan hệ tin cậy.

    “Chính đạo” mà Saigo nói không phải là con đường đúng đắn với riêng nước Nhật, với riêng cá nhân nào mà là con đường đúng đắn không hổ thẹn với Trời Đất và lương tâm làm người. Toàn thế giới với bao nhiêu điều khác biệt vẫn có những điểm chung. Đó là chính nghĩa, công minh, công bằng, bác ái, thành thật… tức những giá trị tinh thần của một con người, là đạo đức.

    Chương 8: Lòng thành

    Saigo luôn nghĩ trái tim chân thành của con người là thứ quan trọng nhất và ông tự mình mài giũa lòng thành để làm gương. Cho đến nay, những điều răn dạy đó vẫn còn nguyên vẹn giá trị. Tôi cực kỳ tin tưởng rằng trái tim trong sáng, không bị phụ thuộc vào những ham muốn, toan tính thiệt hơn là thứ mạnh mẽ nhất trong thời đại cạnh tranh gay gắt này.

    Tận cùng nguyên lý của những hành động của Saigo là một trái tim chí thành mọi lúc mọi nơi. Không phải sách lược, mưu kế mà chính lòng thành trong sáng đó đã lay động lòng người.

    Nếu chỉ tài năng, tri thức thì không thể khiến trái tim con người ta cùng chung nhịp đập. Con người ta không vì tiền, danh vọng hay quyền thế mà vì lòng thành thôi thúc nên có thể vượt qua gian khó, phát huy tối đa sức mạnh tinh thần.

    Có thể lấy ví dụ về các công ty mới trong ngành IT. Nhiều ngôi sao trẻ xuất hiện, sau vài năm khởi nghiệp đã tham gia sàn chứng khoán, thu được khoản lãi lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ yen, trở thành nhà lãnh đạo trẻ tuổi được yêu thích của thời đại. Nhưng số người biến mất khỏi vũ đài bởi sự cố cũng nối tiếp nhau không dứt.

    Rõ ràng, chỉ tài năng không thôi thì không tồn tại lâu dài. Sự nghiệp thiếu thành tâm sẽ không nhận được sự đồng cảm, hợp tác từ chính nhân viên, đối tác và xã hội. Người lãnh đạo không có lòng thành sẽ chạy theo những kế sách nhỏ nhen, khôn vặt để rồi lầm đường mà không duy trì thành công lâu dài được.

    Chương 9: Lòng tin

    Một lãnh đạo từng tâm sự với tôi rằng ông ấy từng rất cảm động khi nghe tôi nói cuộc đời mình là “những ngày không ngừng nâng cao tín niệm”. Ông ấy cảm động với suy nghĩ không ngừng nâng cao quan niệm kinh doanh, cách nghĩ, quan niệm triết học chứ không phải chỉ kỹ thuật kinh doanh của tôi.

    Thời trẻ, tôi luôn nhắc nhở mình phải đọc sách ít nhiều trước khi ngủ nên đầu giường chất hàng chục cuốn sách triết học và tôn giáo. Những hôm về trễ, tôi vẫn cố gắng đọc một, hai trang. Có lẽ nhờ những ngày trẻ như vậy mà tôi có thể đường đường tổng quát nửa đời mình như vậy.

    Tôi dùng câu “nâng cao tâm hồn, phát triển kinh doanh” để chỉ mối quan hệ song phương của nhân cách người lãnh đạo và thành tích công ty. Cũng có thể nói đây là bản chất của kinh doanh. Muốn phát triển kinh doanh thì trước tiên phải nâng cao tâm hồn bản thân người lãnh đạo, sau đó tự nhiên thành tích cũng sẽ đi theo.

    Tuy nhiên, Saigo cũng từng nói, cho dù đã tu thân, lập chí nhưng khi hữu sự mà không ứng phó được thì cũng chỉ như một hình nhân bằng gỗ. Nghĩa là phải luôn chuẩn bị để có thể ứng dụng, thực hành kiến thức có được. Dù có học bao nhiêu tri thức tinh thông của thánh hiền, có học lý luận kinh doanh, kỹ thuật bao nhiêu đi nữa mà không có dũng khí, không giữ cho mình một lòng tin mạnh mẽ, ý chí cao mà thực hành thì không thể nào khắc sâu, thu thập kiến thức vào người được, đến khi tiến hành thực tế thì không giúp ích gì.

    Điểm này, như Saigo khuyên, “lập chí, quyết tâm nỗ lực vượt qua khổ nạn, chịu đựng gian khó”. Trong quá trình khắc phục khó khăn, suy nghĩ, tư tưởng đó sẽ trở thành lòng tin của ta.

    Chương 10: Lập chí

    Saigo cho rằng những người đứng trơ như phỗng trước con đường đi đến mục tiêu dài dằng dặc và tự mình bỏ cuộc vì nghĩ “mình không thể làm gì được” là kẻ nhu nhược, yếu đuối, chỉ biết trốn tránh.

    Bất kỳ việc gì cũng bắt đầu từ tư duy một cách mạnh mẽ. Đặt ra mục tiêu thật cao và nghĩ “tôi muốn như thế”. Phải luôn giữ nguyện vọng mạnh mẽ như thể ý thức đắm chìm vào đó. Bắt đầu từ nghĩ mạnh mẽ, ngủ cũng như thức, không phút nào không nghĩ đến mục tiêu đó, từ đó thực hành lời dạy của bậc tiền nhân. Con đường đó có thể rất chông gai, có thể đầy rẫy những khó khăn, nhưng những người kiên định với ý chí mạnh mẽ sẽ không bao giờ biến mất khỏi con đường dẫn đến mục tiêu. Giả sử, dọc đường có gặp trắc trở, giậm chân tại chỗ hay vấp ngã, họ vẫn đứng dậy để tiến về phía trước. Ngược lại, những người không có chí sẽ chẳng có con đường nào mở ra.

    Lập chí và bước đi. Chuyện đó không dễ dàng gì. Nhưng Saigo nói hãy lấy khó khăn làm niềm vui.

    Xây dựng công ty như xây một bức tường thành, nếu muốn vững chãi, trước tiên phải chọn những tảng đá to chắc. Nhưng nếu chỉ với những tảng đá khổng lồ – những nhân tài ưu tú, thì không thể kết nối với nhau. Cần phải có những hòn đá nhỏ – những người cũ đã nỗ lực cống hiến cho công ty từ những ngày đầu – lấp vào những khoảng trống giữa các tảng đá lớn. Nếu không, bức tường thành sẽ lỏng lẻo, dễ sụp đổ. Saigo đã nhận ra vấn đề nhân sự cốt lõi này từ sự thông hiểu chân lý và sự kỳ diệu của con người.

    Xem thêm: Giá trị THẬT từ “Chuyện con mèo dạy hải âu bay”

    Chương 11: Tinh tiến

    Năm 1997, tôi được phép quy y cửa Phật. Phật giáo gọi việc con người ta mài giũa tinh thần, nâng cao tâm hồn và cuối cùng đạt đến cảnh giới là “ngộ” và thuyết giảng “Lục độ Ba la mật đa” như con đường tu hành dẫn đến “ngộ”. Trong 6 cứu cánh Ba la mật đa đó có “tinh tiến”.

    “Tinh tiến” là làm việc hết sức mình, chăm chỉ, cố gắng, ngôn ngữ hiện đại gọi là “làm việc”. Làm việc không đơn giản là cách để nhận công. “Làm việc” ở đây là hết lòng vào công việc, lao động hết sức mình với “nhất tâm bấn loạn” để xây dựng trái tim, linh hồn, nhân cách. Hễ còn sống thì không ngừng tinh tiến. Saigo đã nói phải liên tục nỗ lực hằng ngày với sự tập trung cao độ, không được lơ là. Nếu chỉ sống thờ ơ, gặp đâu hay đấy, không có cái nhìn xuyên suốt thì gặp sự cố không thể có phán đoán, hành xử đúng đắn. Đây là điểm rất quan trọng với những người đứng ở vị trí đưa ra quyết định như nhà lãnh đạo kinh doanh.

    Như kinh nghiệm thời trẻ của tôi. Có những lúc quá bận rộn mà tôi giải quyết công việc cho qua, hay xem thường những kế hoạch nhỏ nên không tự mình quyết định, giao hết cho cấp dưới. Về sau, chính những quyết định và những lúc lơ là đó đã dẫn đến những rắc rối to lớn. Sau nhiều lần như vậy, tôi tuyên bố dù bận rộn đến mấy vẫn phải dành thời gian và tạo ra nơi làm việc tập trung tinh thần, trao đổi nghiêm túc. Có thể chỉ với khoảng thời gian 10 phút nhưng đó là 10 phút thật sự tập trung suy nghĩ, đưa ra kết luận.

    Trên thực tế, cho đến lúc Kyocera phát triển thành một công ty có quy mô lớn, tôi luôn xem qua từng kế hoạch, hợp đồng của công ty và ra quyết định. Tôi không bao giờ giao phó cho cấp dưới giải quyết một việc nửa vời. Với những kế hoạch lớn, tôi luôn ra từng quyết định một và hầu như chưa mắc phải sai lầm nào.

    Có thể đó là do tôi đã tập thói quen tập trung từ thời trẻ nên năng lực phán đoán của tôi được mài giũa. Nhưng điều tốt nhất tôi làm được là nghĩ rằng tập trung tận lực là nhiệm vụ của người đứng đầu.

    Chương 12: Kỳ vọng

    Gia đình, sở làm, công ty, xã hội, quốc gia, tùy vào trái tim của những người cấu tạo nên mà những tập thể này khác nhau. Nếu người sống ở đó chỉ biết nghĩ đến mình thì tình hình nhiễu nhương, nếu họ có trái tim biết nghĩ đến người khác thì sẽ có một xã hội thịnh vượng. Từ đó, vấn đề được đặt ra là trái tim, tâm hồn của từng người cấu tạo nên tập thể phải như thế nào.

    Tình trạng xã hội là tấm gương phản chiếu trái tim con người. Sự phát triển bền vững của công ty, nền kinh tế hay tương lai tươi sáng, yên bình của một xã hội, quốc gia đều bắt đầu từ việc mài giũa tâm hồn của mỗi chúng ta.

    Theo http://tradecircle.vn/

  • Bạn đang thắc mắc nội dung của cuốn sách này là gì ư? Một cuốn truyện, chính xác hơn là một tự truyện thuộc thể loại hồi ký đã được biên chế, thêm thăt chi tiết cho nó kịch tính hơn.

    Và nhân vật chính, thằng Varun Agarwal cùng thằng bạn chí cốt Rohn Malhotra.

    Và tôi phát hiện ra, sự khác biệt và sự đặc biệt khi đó là “Tôi muốn cuộc đời như tôi muốn” chứ không phải là “Tôi cần…” Một từ thay đổi nhưng hoàn toàn khác nhau, mong muốn khát khao mãnh liệt làm điều mình muốn.

    Ờ trước khi bắt đầu, tôi nói cho các cậu hay, đây là cuốn sách kể lại hành trình trở thành doanh nhân của tôi. Được rồi, được rồi, có thể thi thoảng tôi hơi chém một tí, nhưng dù gì thì nó cũng là câu chuyện của tôi. Vì thế, các cậu nghe thì nghe, mà không nghe thì kệ, tôi cũng đếch quan tâm đâu.

    Tôi muốn cuộc đời như tôi muốn

    Cuốn sách này là tất cả những kinh nghiệm tôi có được khi vật lộn khởi nghiệp một công ty với thằng bạn chí cốt Rohn Malhotra.

    Và làm ơn đừng có đọc xong rồi đi rêu rao như mõ làng rằng: “Này chúng mày ơi, thằng này viết không ngửi được.” Tôi biết thừa đi ấy chứ. Tôi chỉ là một người kể chuyện chứ chẳng phải nhà văn quái gì, thế nên tốt hơn hết đừng mong đợi nhiều.

    Nói một cách ngắn gọn, câu chuyện là sự bứt phá vươn lên của một cậu trai thất nghiệp đến một doanh nhân trẻ, khi viết cuốn sách này cậu 23 tuổi.

    Cậu sinh viên tốt nghiệp đại học một cách làng nhàng, ko có gì nổi bật, là niềm thất vọng của ba mẹ vì ở Ấn Độ, không tốt nghiệp giỏi, không có bằng MBA thì không lấy được vợ, đồng nghĩa với việc không được tham gia vào phân chia của hồi môn sau này.

    Tôi muốn cuộc đời như tôi muốn

    Xem thêm: Review sách Thất tình không sao – Nguyễn Ngọc Thạch

    Mà ở thành phố Bangolare của cậu, không có nghề nào được tôn trọng ngoài kĩ sư công nghệ, vì thế “nếu lấy viên đá ném vào một người thì xác suất trúng vào kĩ sư công nghệ hoặc những người làm dịch vụ công nghệ là 99%”.

    Cuốn sách này không chỉ nói về việc khởi nghiệp của một người trẻ, nó còn nói về ý chí của Varun khi dám đứng độc lập, không đi theo những định kiến của xã hội và dám thay đổi nó. Mẹ là người cho cậu quyết tâm để làm mọi thứ. Mặc dù có khi bị lung lay bởi những bà dì luôn luôn “tiêm nhiễm” vào đầu mẹ cậu ta những suy nghĩ tiêu cực về doanh nhân, mẹ cậu ấy đã cho cậu ấy thấy bà rất tin tưởng và tự hào vì cậu ấy.

    Câu chuyện còn hướng dẫn rất nhiều cách thức và chìa khóa vàng mà đó là những kiến thức tích lũy kinh nghiệm từ lúc lập nghiệp đến nay

    Nguồn: https://reviewoftheword.wordpress.com/

  • Lấy cảm hứng từ một truyện ngụ ngôn đơn giản nhưng có tác động mạnh mẽ, cuốn sách hấp dẫn và tạo nhiều nội lực đòi hỏi người đọc có một nhãn quan mới mẽ để nhìn lại những lời biện bạch, những lý lẽ bào chữa, những nổi sợ hãi và những tín nhiệm hạn hẹp mà bạn đã có trong đầu một cách vô thức – đồng thời khuyến khích bạn phải có đầy đủ trách nhiệm đối với khả năng thật sự của mình và nắm bắt được nó.

    Tóm tắt chuyện ngụ ngôn ” Ngày xưa có một con bò…”

    Chuyện kể về một người thầy giáo khôn ngoan và giàu kinh nghiệm muốn truyền đạt lại  cho học trò của mình. Ông quyết định cùng học trò tìm đến căn lều nghèo nhất trong cùng và xin trọ lại. Gia đình nghèo này có tám người, tài sản duy nhất của họ là con bò sữa, gia đình họ sống nhờ vào việc chăm bò và bán sữa hàng ngày. Sáng hôm sau, hai thầy trò khởi hành sớm và giết đi con bò của gia đình nghèo đó.

    Một năm sau, hay thầy trò quyết định tìm lại ngôi nhà năm xưa mà họ xin trọ để  xem tình hình cuộc sống hiện tại của gia đình đó. Bất ngờ xảy ra, căn lều ngày xưa được thay bằng ngôi nhà mới xây khang trang, cuộc sống sung túc hơn rất nhiều. Con bò chính là sợi xích trói họ trong nghèo khổ.Ngày xưa có một con bò

    Khi bạn có một công việc mà bạn không thích, khi nó không đáp ứng nhu cầu tối thiểu thì việc từ bỏ là dễ dàng. Nhưng khi công việc đó giúp ta trả được nợ, sống sót và tận hưởng vài tiện nghi nho nhỏ thì ta dễ rơi vào bẫy hài lòng mà ta lại biện minh rằng việc đó khối người muốn mà không được. Cũng giống như một con bò, thái độ đó luôn kiềm hãm ta. Con bò đại diện cho thói quen xấu đó.

    Cũng như những thói quen xấu khác, những con bò luôn đồng hành chúng ta một các lặng lẽ. Không phải mọi con bò đều dễ nhận ra mà cứ âm thầm lặng lẽ mà ta không hay. Mỗi con bò đại diện cho một lời biện minh , một cái cớ, một sự bào chữa, một lời nói dối. Sự hợp lý hóa trói buộc chúng ta vào cuộc sống tầm thường và ngăn cản cuộc sống thật sự của chúng ta.

    + Biện bạch là những con bò phổ biến nhất, đó là cách dễ dàng bào chữa cho sự tầm thường thông qua qua đó lách được trách nhiệm cho những sự việc mà đáng ra thuộc về ta. Vì vậy, hãy chắc chắn rằng bạn không ôm lấy những con bò như thế. Sự sợ hãi là một trong những con bò tệ hại nhất, nó sẽ kiểm soát thần trí ta, làm tê liệt đầu óc và thân xác ta theo đúng nghĩa của nó.

    + Con bò thứ hai mang tên “Trung Bình”. Khi nào chúng ta còn cảm thấy hài lòng với cái Tốt, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được sự Vĩ đại. Nếu bạn quyết định sống một cuộc đời Trung bình hay tầm thường, bạn cũng sẽ đạt được như vậy.

    + Con bò có tên “Tôi có sao đâu”. Mối nguy hiểm của con bò này là người ta nghĩ rằng họ không sao và hài lòng với cuộc sống mà không thấy lí do gì phải cải thiện.

    + Con bò mang tên “Đâu phải tại tôi”. Hầu hết những gì xảy ra cho bạn đều do chính bạn tạo ra, nếu bạn thật sự nghiêm túc với vấn đề đó và thành thật với chính mình.

    + Con bò mang tên “Niềm tin sai lầm”. Nó khiến chúng ta sống hoài cuộc đời tầm thường.

    + Con bò mang tên “Thật mà, đây không phải biện bạch”. Nếu chuyện đó nên làm thì ta nên làm ngay.

    Ngày xưa có một con bò

     + Con bò mang tên “Tôi cảm thấy bất lực”. Chúng ta tự giả định ngầm rằng chúng ta chẳng có tài cán gì. Muốn loại bỏ con bò này thì phải hành động thực tế, học hỏi rút tỉa kinh nghiệm.

    + Con bò mang tên “Triết gia”. Nó minh họa mức độ chúng ta sẽ đạt tới trong quá trình tìm kiếm những diễn giải đầy vẽ uyên thâm để bảo đảm cho những lời biện bạch của bạn không mang vẻ…biện bạch.

    + Con bò mang tên “Tự Huyễn Hoặc mình”.

    Trong thực tế, chúng ta đều có khả năng tốt hơn trong nhiều lĩnh vực hơn những gì chúng ta thừa nhận. Nếu bạn nghĩ mình thế nào thì mình sẽ như thế ấy.

    + Chúng ta thường hay để quá khứ quyết định tương lai.

    + Nếu bạn gieo những suy nghĩ tiêu cực, bạn sẽ gặt hái những thói quen xấu.

    + Trong cuộc đời, bạn có thể trở thành nạn nhân của nghịch cảnh, bạn có thể chịu đựng nó hoặc bất chấp nó và thành công. Xác định những niềm tin sai lầm đang kìm hãm mình, và thay thế nó với những tư tưởng và niềm tin có thể làm bạn mạnh mẽ và tự tin hơn.

    Giết bò bằng cách:

    1. Nhận dạng những con bò của mình.

    2. Xác định con bò nào đang lẫn trốn.

    3. Hãy nhớ, bạn trả giá đắt cho mỗi con bò mà bạn bao che.

    4. Lập một danh sách những kết quả tích cực mà bạn sẽ bắt đầu trải nghiệm như hiệu quả của việc bạn đã loại bỏ một con bò.

    5. Thiết lập những khuôn mẫu, hành vi mới.

    SG, 06/04/2017
    Ngô Hữu Phúc
    Đồng sáng lập thương hiệu mật ong PVHONEY

    Nguồn: http://www.ngohuuphuc.com

  • Bài viết là những lời khuyên, lưu ý tâm huyết cho các bạn sinh viên luật vẫn ngồi trên giảng đường để đỡ bỡ ngỡ, học tốt hơn và có sự chuẩn bị tốt hơn cho công việc sau này. Tất cả đều rút ra từ quãng thời gian 4 năm học tại Đại học Luật Hà Nội và những lần đi du học, trao đổi ở các nước khác, từ những quan sát, chuyện trò với bạn bè học luật khắp nơi, bởi vậy, hi vọng chúng sẽ thiết thực cho các bạn luật sư tương lai.

    1. Hãy luôn tự đặt câu hỏi và tự trả lời

    Tôi còn nhớ, hồi còn đi học tại Đại học Luật Hà Nội, nhất là năm đầu tiên, tôi đã rất hào hứng nghĩ câu hỏi khi đọc bài. Đọc sách đến đâu là dấu chấm hỏi chi chít lề đến đấy. Thầy cô luôn khuyến khích sinh viên không biết thì phải hỏi, không sợ sai. Thế là những bạn học nổi bật và đã chuẩn bị bài là những bạn trong giờ thầy cô giảng đến đâu là hỏi đến đấy.

    Luôn thắc mắc là một thói quen suy nghĩ rất tốt của sinh viên luật, nhưng đáng lí tôi nên cố gắng tự trả lời cho câu hỏi mình đặt ra trước khi hỏi ai khác. Nếu bạn để ý, thầy cô cũng hay hỏi sinh viên là “Thế theo em nghĩ câu trả lời là gì?” Tự đặt câu hỏi – tự trả lời mới là thói quen của người suy nghĩ độc lập. Chúng ta chỉ tham gia trao đổi, thảo luận hiệu quả nếu trong đầu đã có sẵn quan điểm của riêng mình.

    Luật sư là những người được trả tiền để tìm ra vấn đề (spotting issues) và quan trọng hơn là phân tích, giải quyết vấn đề (analyzing and resolving issues). Nhiều lúc tôi trộm nghĩ giờ thảo luận (seminar) dần bị biến thành “giờ chất vấn”, hoặc là thầy cô chăm chăm hỏi sinh viên, hoặc là sinh viên hào hứng thắc mắc và đợi thầy cô trả lời.

    2. Vững tâm học kiến thức cơ bản ở trường, kiểm chứng và cập nhật trong môi trường làm việc

    Đã có một thời gian dài tôi chán học, không chỉ vì lên lớp buồn ngủ, mà còn vì hoang mang thấy mọi người kháo nhau học trong trường một đằng ra làm lại một nẻo, đằng nào cũng phải đào tạo lại. Báo đài nói, thầy cô nhắc nhở, nhà tuyển dụng lên tiếng. Thế là hốt hoảng, không biết nên học hay buông. Đến bây giờ tôi có thể bảo bản thân rằng: Cứ tự tin mà học.

    Học cái gốc, cái nhìn toàn diện ở trong trường để khi ra đi làm có thể đi vào chi tiết mà không bị lạc hướng, biết được vấn đề nào do luật nào điều chỉnh. Học lấy cái phần thô để sau này mài giũa, cập nhật nó theo hướng phát triển nghề nghiệp của bạn. Học những thứ như lịch sử lập hiến, lập pháp, các nguyên tắc pháp luật để đi làm có thể giải thích hoặc cao hơn là dự báo được sự thay đổi của văn bản pháp luật. Luật hôn nhân và gia đình có thể sửa đổi cho phép hôn nhân đồng giới nhưng bản chất vẫn là để đảm bảo nguyên tắc tự do hôn nhân.

    Báo đài cứ kêu ra rả ấy vậy mà trường lớp vẫn đứng vững xưa nay thì hẳn phải có lí do của nó. Không ai bảo bạn ngừng học, chỉ là việc học cần chủ động và tỉnh táo thêm một chút thôi.

    3. Nếu bạn giỏi, hãy để người khác biết!

    Đi học đại học luật, ngoài tâm lí giấu dốt đã có từ trước, tôi còn thấy phổ biến hiện tượng “giấu giỏi”. Biết câu trả lời nhưng sợ bị nói là chơi trội, là “kinh”, nên dù thầy cô ra rả hỏi, sinh viên vẫn ngồi lặng thinh. Có những bạn học rất giỏi, điểm rất cao nhưng sau 4 năm trời ít người biết đến. Học bổng và cơ hội cũng không đến tay thì nghĩ là do con ông cháu chau hoặc thiên vị nên không đến lượt mình. Này các bạn, hãy công bằng một chút, người ta không biết bạn thì làm sao cử bạn đi đâu được đây? Hơn nữa, thẳng thắn mà nói, tiêu chí học bổng không chỉ có thành tích học tập mà còn cả sự đáng tin cậy và tính cách năng động nữa, nhất là những học bổng giao lưu khi bạn là bộ mặt của nhà trường/quốc gia.

    Học đại học là để sau này ra làm việc, vậy thì đáng lẽ bạn phải PR bản thân mình tối đa, không phải để khoe khoang, mà là để người khác biết bạn quan tâm và giỏi lĩnh vực luật gì. Nhiều bạn nghĩ PR thì chỉ khi nộp hồ sơ xin việc cho nhà tuyển dụng xem thôi. Thật ra thầy cô cũng chính là nhà tuyển dụng! Nhiều luật sư là học trò hoặc cộng tác cùng thầy cô trong dự án nào đó, khi cần tuyển thực tập hoặc sinh viên mới tốt nghiệp, họ sẽ nhờ thầy cô giới thiệu. Ngoài ra, sau này ra đi làm, việc hợp tác trong công việc rất quan trọng. Biết bạn bè ai giỏi lĩnh vực gì thì sau này dễ tìm đến đề nghị hợp tác, hay nói nôm na là kiếm tiền cho nhau.

    4. Hạn chế than vãn

    Trước đây đi học, có rất nhiều thứ để than vãn như trời nóng, trời lạnh, trời mưa, leo cầu thang mỏi chân, phải dậy sớm đi học, phải học ca đầu giờ chiều, giáo trình dài quá, giọng thầy cô buồn ngủ, ghế ở thư viện không thoải mái, chỗ ngồi vướng cột không thấy gì, trường không nhiều hoạt động mình thích, đăng kí tín chỉ bị nghẽn mạng,…

    Thực ra, nhiều vấn đề bản thân có thể tự giải quyết được, chẳng qua “làm nũng” chút thôi. Trời lạnh thì mặc ấm lên, buồn ngủ thì uống nước chè, rửa mặt cho tỉnh, giáo trình dài quá thì cố mà sắp xếp thời gian đọc, thầy cô dạy không hợp thì về nhà tự đọc sách hoặc đi ngồi ké lớp khác,… Cũng có nhiều vấn đề than thở không giúp giải quyết được gì. Cầu thang, ghế thư viện, hệ thống đăng kí tín chỉ,… đều không phải thứ bạn mua cho trường thì bạn làm sao thay đổi được. Đừng than vãn và lấy đó làm cái cớ để lười học, hãy phản ánh công khai và cố gắng khắc phục để giúp chính bản thân mình.

    Ngẫm lại thì tiền học đại học ở Việt Nam đã quá thấp so với tiền học ở các nước khác rồi. Học phí chúng ta đóng không đủ trả lương cho thầy cô. Thư viện, sách vở, hệ thống tin chỉ là do tiền ngân sách nhà nước và tiền dự án tài trợ. Nếu đã dùng đồ miễn phí, kể cả trong dịch vụ giáo dục, thì cũng chỉ nên kì vọng hợp lí thôi. Bạn nói có những trường khác làm tốt hơn? Tốt quá, chắc họ xin được nhiều tiền tài trợ hơn hoặc có nhiều tiền từ chương trình đào tạo liên kết để đổ về cho cơ sở vật chất. Ban nói có những nước sinh viên không phải đóng tiền đi học mà chất lượng toàn hàng đầu thế giới? Rất đúng, vì xã hội họ giàu, tiền thuế dồi dào, họ không cần sinh viên đóng nữa. Hồi còn đi học, mình ghét cay ghét đắng môn Luật Thuế, giờ mới thấy nó thần kì mức nào. Bạn nói mức học phí so với lương cơ bản ở Việt Nam là cao chứ thấp gì? Thực ra, học phí một kì bằng ba tháng lương cơ bản thì không coi là cao. Học đại học được coi là khoản đầu tư cho tương lai nên ở nhiều nước sinh viên phải vay nợ chính phủ và trả dần đến 50, 60 tuổi. Vậy nên thôi chúng ta than vãn làm gì, “con nhà nghèo” phải vượt khó thôi.

    Hơn nữa, là người học luật, bạn không nên có thói quen than vãn. Luật sư là gì? Nói đơn giản, luật sư là người bảo vệ. Là người mạnh mẽ, hiểu biết, chuyên nghiệp được thuê để tư vấn giải pháp cho khách hàng, chịu trách nhiệm bảo vệ họ trước pháp luật, đấu tranh cho lợi ích bị xâm phạm của họ. Bạn có muốn thuê một người chuyên than thở khi gặp khó khăn về bảo vệ mình không?

    5. Cố gắng đi thực tập và làm những công việc liên quan đến chuyên ngành luật

    Nên chọn nơi thực tập như thế nào? Nên đến công ty to hay nhỏ? Nếu mình không thích làm luật sư thì có nên đi thực tập ở văn phòng luật không? Nên đi từ mùa hè năm mấy? Thực tập không lương ở văn phòng luật hay đi làm thêm để có tiền? Nên chơi hay làm? Bao nhiêu đắn đo ngăn trở con đường thực tập.

    Câu trả lời là đi thực tập càng sớm càng tốt. Kể cả bạn không muốn làm luật sư sau này thì bạn cũng cần thu nhặt những kĩ năng thực hành luật. Thực tập không chỉ để quan sát môi trường làm việc tương lai, mà quan trọng hơn, là để rèn luyện các kĩ năng đó. Bởi vậy, công ty to hay nhỏ, làm ở viện nghiên cứu hay văn phòng thực hành luật, ở viện kiểm sát hay tòa án,… không quan trọng. Điều quan trọng là bạn phải tìm ra nơi cho bạn làm việc thực sự, được nghiên cứu luật, phân tích vụ việc, đưa ra giải pháp, tham gia soạn thảo các văn bản như di chúc, hợp đồng, thư tư vấn, quan sát luật sư làm việc với khách hàng. Có thể sản phẩm của các bạn không trực tiếp đến tay khách hàng, nhưng được giao việc và được hướng dẫn đã rất có ích cho bạn rồi. Tóm lại, đi thực tập thì nên làm thật và làm chuyên về luật. Nếu công ty chỉ cho bạn làm dọn dẹp pha nước, trực điện thoại, quản lí website,… thì theo tôi bạn chỉ nên làm nếu không còn chỗ nào khác. Sinh viên năm 1, năm 2 cũng có giá trị của riêng mình, có thể nghiên cứu pháp luật chung chung hoặc giúp công ty với các dự án không tính phí (non-billable work) nên các bạn không nên tự đánh giá thấp bản thân mình (cái này phải tự lượng sức mỗi người nữa nhé).

    Thực ra, khi còn đi học, chuyện các bạn kiếm ra thêm hay bớt một chút tiền không quan trọng lắm. Nhiều bạn nghĩ nên đi làm thêm để có tiền thay vì thực tập không lương. Nhưng đó lại là những đồng tiền ngắn hạn. Thực tập không lương nhưng sẽ cho bạn kĩ năng để đầu tư cho sự nghiệp sau này. Vì vậy, nên ưu tiên cho công việc thực tập chuyên ngành, nếu còn thời gian mới tính đến các việc tay trái. Những công việc này sẽ chứng tỏ sự năng động, hiểu biết đa dạng của bạn, nhưng khi xin việc trong ngành luật, chỉ kinh nghiệm liên quan đến luật mới được coi trọng nhất mà thôi.

    6. Ngoài chém gió ra, nên nghiêm túc rèn luyện kĩ năng viết

    Nhiều người đinh ninh luật sư là những người cãi giỏi. Không hẳn. Cách giáo dục luật (không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước phát triển, nơi tôi theo học là Mỹ cũng vậy) vô hình chung tôn vinh những người “ăn to nói lớn”, khiến những người viết tốt bị lép vế. Nhưng sự thật lại khác hoàn toàn. Khi đi làm, luật sư trước hết phải biết giao tiếp tốt bằng văn bản. Hầu hết các hoạt động trong dịch vụ pháp lý đều thông qua văn bản. Xin việc thì phải viết CV và thư xin việc. Vào làm rồi thì nghiên cứu vấn đề xong phải trình bày rõ ràng ra thư tư vấn khách hàng, báo cáo, đơn khởi kiện, bản bào chữa,…

    Viết tốt không phải là viết hay. Viết tốt là viết rõ ràng, rành mạch các vấn đề, các ý, kín kẽ, không lạm dụng các thuật ngữ pháp lý, biến phức tạp thành dễ hiểu.

    Nói tốt là để trao đổi cùng đồng nghiệp, đàm phán với đối tác, thuyết phục khách hàng, và trình bày trước cơ quan giải quyết tranh chấp. Trước khi bạn tiếp cận được với mọi người để nói thì bạn phải giao tiếp với họ thông qua email, đơn xin việc, các bài báo, tạp chí,… Như vậy, xét cho cùng, luật sư giỏi trước tiên nên là người viết tốt.

    7. Nên hiểu bản chất học ngoại ngữ thực ra để làm gì

    Thời gian gần đây rất nhiều bạn học khối D chọn học luật. Những bạn đang học luật mà chưa giỏi ngoại ngữ thì cũng tranh thủ đi học nhưng trong lòng vẫn mông lung. Học cái gì bây giờ? Giao tiếp hay dịch thuật? Cơ bản hay chuyên ngành luôn? IELTS hay TOEFL? Học bao lâu thì được? Đừng nghe câu trả lời từ các trung tâm ngoại ngữ. Thứ nhất vì bạn là sinh viên luật, không tin khi nghe từ một phía. Thứ hai vì dĩ nhiên họ muốn bạn học cái họ dạy, càng đắt càng tốt. Thứ ba vì ngành luật có đặc thù riêng, không nhiều trung tâm có kinh nghiệm đối với ngành luật để khuyên bạn nên học cái gì. Tốt nhất là hãy tự hỏi chính mình! Mình học ngoại ngữ để làm gì?

    Thực chất, ngoại ngữ chỉ là công cụ, vì vậy mỗi ngành nghề lại đòi hỏi khả năng ngoại ngữ khác nhau. Đối với ngành luật, phải đọc nhiều, nghiên cứu nhiều, yêu cầu sự chính xác cao. Các bạn nên tập trung rèn luyện để đọc và nghe tốt là trước tiên. Đây là 2 kĩ năng bị động, dùng để thu nạp kiến thức. Thường các bạn chỉ cần đọc tài liệu nước ngoài để phục vụ cho việc viết tiếng Việt. Khi nào các bạn đọc và nghe được tài liệu tiếng nước ngoài (giáo trình, vụ việc, bài viết tạp chí, tin tức,…) mà chắt lọc được thông tin các bạn cần thì là ổn. Quan trọng tiếp theo mới đến kĩ năng viết là nói, vì đây là 2 kĩ năng chủ động, giúp phản ánh kiến thức bạn đã thu nạp được.

    Học tiếng Anh pháp lý không cần học quá nhiều quá rộng, mà nên coi trọng sự chuẩn xác, hiểu rõ các thuật ngữ để dùng cho đúng. Giao tiếp tiếng Anh pháp lý không cần bắn như gió, biết từ lóng, mà chỉ cần tốc độ vừa phải, từ ngữ chính xác. Viết hay nói tiếng Anh pháp lý đều yêu cầu logic, ngắn gọn và rõ ràng.

    Một lưu ý nhỏ là ngoài tiếng Anh, các bạn cũng nên cân nhắc học các ngoại ngữ khác nhau như Trung Quốc, Nhật, Đức,… tùy vào lĩnh vực pháp lý bạn muốn theo đuổi sau này và tình hình hợp tác kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam với nước ngoài. Nếu có thời gian, bản thân tôi sẽ học tiếng Trung Quốc hoặc thậm chí sang đó học tiếp thạc sĩ, vì bất cứ nơi nào tôi đã đi qua đều có rất đông người Trung Quốc và thị trường pháp lý cũng từ đó mà ăn theo. Ví dụ như ở Mỹ, nói là đi Mỹ học mà hơn nửa số sinh viên trong lớp tôi là người Trung Quốc. Thành phố nào cũng có China town. Dịch vụ luật cư trú (immigration law) cho người Trung Quốc vì thế phát triển theo. Người Trung Quốc cũng là khách hàng sộp thời gian gần đây, sẵn sàng đổ nửa triệu đô la đầu tư vào Mỹ để có thẻ xanh. Ngoài ra, do thị trường rộng lớn, các doanh nghiệp Mỹ làm ăn tại Trung Quốc rất nhiều. Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng người nói tiếng Trung Quốc cũng cao.

    IELTS, TOEFL, TOEIC thực ra chỉ là cái vỏ, mỗi kì thi coi trọng một mục đích đánh giá khác nhau, nhưng chung quy lại, phần lõi vẫn là độ vững về kiến thức và kĩ năng tiếng của bạn.

    Khi bạn đã hiểu được những điều trên thì bạn sẽ tự đánh giá được mình nên học cái gì và học bao lâu dựa trên năng lực hiện tại và kế hoạch tương lai của riêng bạn.

    8. Nên xây dựng thương hiệu của bản thân ngay khi đi học

    Thương hiệu cá nhân là điều ít sinh viên luật để ý đến. Chúng ta hay cho rằng “hữu xạ tự nhiên hương”, nhưng hương thơm tự nhiên mà không được chắt lọc thì sao thành nước hoa đứng xa tít vẫn thấy được. Thời gian gần đây, các công ty luật có xu hướng tiếp cận ứng viên và tuyển dụng sinh viên khi chưa tốt nghiệp thông qua tài trợ và làm giám khảo các cuộc thi, tổ chức khóa đào tạo, cho học bổng,… Như vậy, bạn nên nghĩ tới chuyện xin việc ngay từ cuối năm 2 chứ không nên đợi tới sau khi cầm bằng tốt nghiệp.

    Có một số việc bạn có thể làm ngay để xây dựng thương hiệu cá nhân khi còn đi học như sau:

    (a) Tạo LinkedIn Profile và kết nối với các bạn bè học luật, luật sư. LinkedIn là mạng xã hội chuyên nghiệp của người đi làm. Người dùng phải đăng tên thật, thông tin thật. Mà thực ra ai cũng muốn liệt kê chi tiết học vấn, kinh nghiệm làm việc của bản thân. LinkedIn Profile giống như online CV của bạn vậy. Nó vừa giúp bạn sắp xếp, cập nhật thông tin trong hồ sơ xin việc, vừa giúp người khác (các nhà tuyển dụng tiềm năng) tìm kiếm bạn dễ dàng. Ở Việt Nam, LinkedIn chưa phổ biến lắm, nhưng ở nước ngoài, LinkedIn thậm chí được đưa vào resume xin việc và chữ kí điện tử ở email. Những “headhunters” cũng hay dạo trên LinkedIn để tìm ứng viên phù hợp.

    (b) Tạo chữ ký điện tử ở email của bạn. Một chi tiết rất nhỏ nhưng chứng tỏ được sự chuyên nghiệp của bạn. Một chữ ký điện tử ví dụ như:

    Trần Văn X
    Sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội (2014-18)
    SDT: 1234567
    E-mail: xtran@hlu.edu.vn
    LinkedIn link:…

    Nếu LinkedIn Profile giống online CV thì chữ ký điện tử trên email giống cardvisit. Nếu các bạn chỉnh chu chi tiết này thì những người hay giao tiếp qua email với bạn sẽ thấy ấn tượng và rất hài lòng.

    (c) Chăm sóc ngoại hình. Khi tôi sang Mỹ học thạc sĩ luật, bài học đầu tiên thầy dạy là về tác phong chuyên nghiệp của sinh viên luật: “Stay clean, smell good, dress properly” (sạch sẽ, thơm tho, ăn mặc phù hợp). Chăm sóc ngoại hình không có nghĩa phải đầu tư nhiều tiền của, đầu tóc quần áo là lượt, mặc hàng hiệu. Nó chỉ đơn giản là lịch sự, gọn gàng, sạch sẽ. Khi ngoại hình trông chuyên nghiệp thì bản thân bạn tự khắc cũng có cảm giác mình chuyên nghiệp lên.

    (d) Giữ cử chỉ và lời nói đúng mực. Phát biểu rõ ràng, có quan điểm cá nhân, tôn trọng người khác, giữ vệ sinh phòng học và thư viện, giữ trật tư, và xung phong lau bảng đầu giờ. Luôn nhớ, bạn là sinh viên luật.

    (e) Tham gia các hoạt động mang tính học thuật như giao lưu, tọa đàm, các cuộc thi. Tham gia những sự kiện, tổ chức mà bạn có thể tiếp xúc với những người đi trước để học hỏi và tạo ấn tượng với họ ngay bây giờ.

    9. Nên tìm hiểu về lịch sử, thị trường, kinh tế, tài chính và xã hội

    Khi tôi đi thực tập ở công ty luật, bác luật sư đã hỏi tôi rằng: “Do you know the difference between a legal technician and a lawyer?” (Cháu biết sự khác nhau giữa một kĩ sư pháp lý và một luật sư là gì không?)

    Kĩ sư pháp lý nôm na là người làm việc như một cái máy, nhận câu hỏi, nghiên cứu luật, đưa ra câu trả lời. Luật sư, trước tiên cũng phải như kĩ sư luật, nhưng hơn thế, phải là người có cái nhìn toàn diện, hiểu biết về quá trình lập pháp, thị trường, đặc điểm khách hàng,… để dự trù được những rủi ro cho khách hàng và biết tìm kiếm khách hàng mới. Đôi khi, không hiểu sao tôi thấy luật sư cũng giống doanh nhân.

    Bác luật sư nói trên dặn tôi rằng, nếu tôi muốn làm luật sư, thì có 5 thứ tôi phải biết ngoài việc đọc luật: “Industry, Business, Finance, History, and Risk profiles of clients” (thị trường, việc kinh doanh, tài chính, lịch sử, và hồ sơ rủi ro của khách hàng).

    Luật sư thực chất là người cung cấp dịch vụ pháp lý, nên khách hàng thay đổi thế nào thì dịch vụ phải thích ứng thế đấy. Pháp luật không tự nó sửa đổi mà là để điều chỉnh sự thay đổi trong kinh tế xã hội. Nhất là ở Mỹ, các đạo luật thường được thông qua để phản ứng lại một sự kiện kinh tế nào đó. Nhớ lại hồi học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, thầy dạy đại khái là pháp luật là kiến trúc thượng tầng được quyết định bởi cơ sở hạ tầng chính là nền kinh tế, giờ thấy thật đúng.

    Tôi còn nhớ những buổi phòng vấn đi học hay đi làm của mình, tôi thường bị hỏi: em quan tâm đến lĩnh vực nào? Em có biết sự kiện nào trong lĩnh vực ấy xảy ra gần đây không? Theo em tại sao sự kiện đó xảy ra và Việt Nam có thể làm gì để khắc phục? Toàn những câu hỏi thực tiễn, hóc búa mà nếu không theo dõi tin tức thường xuyên thì khó trả lời thấu đáo được.

    Như vậy, ngoài thời gian học luật, các bạn sinh viên nên dành khoảng nửa tiếng mỗi ngày cập nhật tin tức, không phải các tin lá cải ngôi sao, vụ án cướp giết hiếp (trừ các bạn theo luật hình sự nhé… mà nên chia tin tức thành các mục như lời khuyên trên. Cẩn thận hơn, bạn có thể tóm tắt vài ba dòng và đính kèm link bài viết, lưu trữ trong file word.

    Đọc được đến đây, thật muốn hụt hơi, chắc các bạn nghĩ phải là siêu nhân mới làm được hết các điều này, thôi thì mình làm người bình thường cho… khỏe. Nhưng thực ra, quan trọng là bạn luôn tâm niệm những điều này trong đầu, tự nhắc nhở bản thân. “Mỗi thay đổi đều bắt đầu từ một thói quen. Mỗi thói quen đều bắt đầu từ một hành động”. Hãy tự tạo cho mình những lợi thế cạnh tranh khi xin việc, xin học bổng để có thể thành công mà không phải nhờ đến “phao cứu sinh” của bố mẹ các bạn nhé./.

    Marchle
    Nguồn bài viết: Nghề Luật sư

  • Kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập quốc tế, nhu cầu về dịch vụ pháp lý, thuê luật sư có sự khởi sắc một cách rõ rệt. Cùng với điều này là sự thay đổi rất lớn trong nhận thức của người dân, Doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý. Nhiều khách hàng không đợi đến lúc bị đối tác “lừa” hoặc rơi vào vòng lao lý mới tìm đến luật sư, mà họ đã chủ động sử dụng dịch vụ pháp lý như một “lá chắn” để ngăn ngừa rủi ro và bảo vệ họ khi cần thiết. Đó chính là cơ hội cho sự ra đời của ngày càng nhiều tổ chức hành nghề Luật sư trên cả nước. Tuy nhiên, có một thực tế là trong khi nhiều hãng luật đã nhanh chóng vươn lên khẳng định vị thế của mình và không ngừng phát triển, thì cũng có không ít những tổ chức hành nghề vẫn đang loay hoay tìm hướng đi để tồn tại.

    Nguyên nhân khiến các tổ chức hành nghề luật sư không thể “lớn” được thì có rất nhiều. Nhưng nguyên nhân lớn nhất bắt nguồn từ công tác quản trị. Quản trị một doanh nghiệp thông thường vốn đã khó. Quản trị một tổ chức hành nghề luật sư càng khó khăn hơn nhiều do tính chất đặc thù của lĩnh vực nghề nghiệp. Trong khi các điều kiện để thành lập và đăng ký một tổ chức hành nghề luật sư được coi là khá thông thoáng, thì ngay các Luật sư là chủ sở hữu hoặc thành viên sáng lập của tổ chức đó đôi khi lại rất thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản trị. Công tác đào tạo về quản trị và các chính sách, giải pháp hỗ trợ về công tác quản trị của các tổ chức hành nghề luật sư lại hoàn toàn thiếu vắng. Ngay cả các mô hình tổ chức, quản trị mẫu của các tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam hiện tại cũng chưa được định hình.

    Qua nghiên cứu mô hình của một số hãng luật được coi là thành công trong thời gian qua, bài viết này sẽ chia sẻ một số kinh nghiệm và kỹ năng trong công tác quản trị các tổ chức hành nghề luật sư hiện nay.

    Thứ nhất, cần đặt con người ở vị trí trung tâm.

    Mối quan hệ giữa các Luật sư sáng lập trong một Công ty luật chủ yếu mang tính chất đối nhân. Sự đóng góp của các Luật sư sáng lập trong một tổ chức hành nghề chủ yếu là bằng danh tiếng cá nhân, kinh nghiệm và uy tín nghề nghiệp. Một công ty Luật danh tiếng trước hết cần phải có những luật sư danh tiếng làm nòng cốt. Bên cạnh đó cần có đội ngũ cộng sự mạnh, có trí tuệ, năng lực, kinh nghiệm và kiến thức chuyên biệt hoặc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để có thể cung cấp dịch vụ pháp lý đa dạng, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Chính sự chuyên nghiệp và gắn kết của Luật sư thành viên sẽ tạo nên sức mạnh của tổ chức hành nghề luật sư. Vì vậy, ngoài kỹ năng quản trị của một doanh nhân, người quản trị tổ chức hành nghề Luật sư cần điều hành tổ chức của mình trên nguyên tắc tôn trọng sự công bằng, khách quan, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp đồng thời phải khơi gợi, gắn kết và phát huy được sức mạnh tập thể của mọi thành viên trong tổ chức.

    Thứ hai, kiên định mục tiêu và kiên quyết loại bỏ cái tôi, lợi ích cá nhân.

    Luật sư thường là những người có cá tính mạnh và tính độc lập cao trong công việc. Họ cũng là những người am hiểu luật pháp, có tinh thần tranh đấu và luôn nhìn nhận các vấn đề trong quản trị Công ty một cách đa diện, có phản biện. Vì vậy, các vấn đề nội bộ, nguyên tắc hợp tác và quản trị Công ty luôn cần đạt được sự thống nhất và cần được xem đó là luật cơ bản để duy trì sự hợp tác, phát triển lâu dài của Công ty. Nhưng đó cũng chính là thử thách rất lớn đối vơi các Luật sư sáng lập và quản lý các hãng luật. Mô hình nào cũng chỉ đưa lại thành công khi người quản lý kiên định với những mục tiêu, chiến lược đã đề ra. Đồng thời các Luật sư sáng lập và quản lý phải biết đặt lợi ích phát triển của tổ chức lên trên tham vọng và lợi ích cá nhân của mình. Loại bỏ được cái “tôi” của các Luật sư sáng lập cũng là cách để theo đuổi nguyên tắc quản trị “lấy con người làm trung tâm” và vì mục tiêu phát triển lâu dài của tổ chức hành nghề Luật sư.

    Thứ ba, chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp để tăng cường sự gắn kết giữa các thành viên trong tổ chức.

    Văn hóa doanh nghiệp là tổng hòa của những triết lý kinh doanh, phương thức quản lý, tiêu chuẩn đạo đức, quy chuẩn hành vi ứng xử trong nội bộ và ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức đối với khách hàng. Đối với các tổ chức hành nghề Luật sư, văn hóa doanh nghiệp được xem là những giá trị cốt lõi, những nét đặc sắc riêng biệt tạo nên bản sắc riêng có của tổ chức đó. Văn hóa doanh nghiệp tạo nên đặc trưng riêng của tổ chức hành nghề luật sư, đặt mỗi cá nhân trong tổ chức đó trước những tiêu chuẩn, quy chuẩn khắt khe về tác phong làm việc, sinh hoạt và ứng xử hàng ngày. Đó chính là chất keo gắn kết mọi người và góp phần tạo dựng hình ảnh của tổ chức trong mắt khách hàng, công chúng.

    Xây dựng văn hóa doanh nghiệp là cả một quá trình bền bỉ, lâu dài và phải tuân thủ các bước sau:

    • Tạo dựng những giá trị cốt lõi của tổ chức hành nghề, đồng thời truyền bá và tạo niềm tin cho mọi thành viên trong tổ chức về những giá trị đó;
    • Tuyển chọn nhân sự phù hợp với văn hóa doanh nghiệp, môi trường công việc và các tiêu chuẩn đặc định của tổ chức;
    • Đào tạo nhân sự để trở thành những người tiếp tục truyền cảm hứng và tôn vinh những trị cốt lõi của tổ chức;
    • Xây dựng những tấm gương sáng; hình tượng điển hình trong tổ chức;
    • Xác lập quy chế khen thưởng nhằm khích lệ nhân sự có nỗ lực hoàn thành công việc, gắn bó lâu dài với tổ chức, đồng thời, việc xử phạt cho những hành vi vi phạm cũng cần thật chính xác, kịp thời và nghiêm minh.

    Thứ tư, chuyên biệt hóa trách nhiệm của từng thành viên quản trị.

    Trên một diễn đàn những người hành nghề luật, câu hỏi “hãy kể tên những Luật sư vừa giỏi nghề vừa giỏi kinh doanh” đã không nhận được nhiều câu trả lời nêu đích danh Luật sư “giỏi” đồng thời trong cả 2 lĩnh vực đó. Có nhiều Luật sư, khi làm nghề, họ rất xuất sắc, tuy nhiên khi chuyển sang là người quản trị công ty luật, họ nhận thấy mình không còn đủ sự tĩnh tâm để suy nghĩ thấu đáo về mặt chuyên môn. Tâm trí họ bị sao lãng bởi những công việc mang tính chất xúc tiến, cho những cuộc gặp, những trao đổi mang tính chất dealing/ thỏa thuận về giá của dịch vụ pháp lý. Trên thực tế, trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhiều công ty luật đã có sự phân công trách nhiệm quản lý như Luật sư chuyên phụ trách về xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh công ty; Luật sư chuyên về quản trị nội bộ và Luật sư chuyên sâu trong từng lĩnh vực/ dịch vụ pháp lý cụ thể. Việc phân chia rõ ràng này đã tạo điều kiện để hoạt động của công ty được ổn định hơn. Sự phân công này cũng tối ưu hóa được năng lực của từng nhân sự quản lý và gia tăng sự hài lòng của Khách hàng khi sử dụng dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề Luật sư.

    Thứ năm, liên kết lại và nhìn xa hơn.

    Tại các nước phát triển trên thế giới đều có các hãng luật đa quốc gia, họ hoạt động như một tập đoàn đa quốc gia thực thụ với hàng nghìn Luật sư và đội ngũ nhân viên hỗ trợ như kế toán, thư ký, lễ tân, trợ lý Luật sư. Các hãng luật này cung cấp gần như tất cả các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp cho khách hàng pháp nhân và thể nhân mà không giới hạn ở không gian địa lý nào. Các công ty thành viên của những hãng luật này có thể không cùng chủ sở hữu mà họ có thể liên kết trên cơ sở của một thỏa thuận hợp tác, theo những thời hạn nhất định hoặc có thể là đối tác của nhau theo từng loại việc cụ thể.

    Tại Việt Nam, sự kết hợp giữa các tổ chức hành nghề Luật sư phần lớn chỉ mang tính vụ việc, nghĩa là hãng luật này chuyển giao một phần hoặc toàn bộ một vụ việc của khách hàng sang cho hãng luật khác. Việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài/ “outsource” này mang tính đơn lẻ, riêng rẽ và không thường xuyên. Khi còn mang tâm lý sợ mất Khách hàng, cạnh tranh để có được Khách hàng thì Luật sư quản trị sẽ không thấy được lợi ích của sự hợp tác giữa các hãng luật khác nhau với những ưu thế và sự chuyên sâu về một hoặc một số dịch vụ pháp lý. Sự hợp tác này cần được nhìn nhận như một mối quan hệ cộng sinh, được xây dựng trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của Khách hàng cũng như góp phần đem lại lợi nhuận lớn hơn trong kinh doanh cho tổ chức hành nghề Luật sư.

    Thứ sáu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của tổ chức.

    Trong bối cảnh bùng nổ về công nghệ thông tin trên phạm vi toàn cầu, các tổ chức hành nghề luật sư cũng cần chú trọng ứng dụng những công nghệ mới hoạt động tư vấn và công việc hành chính hàng ngày. Việc thiết lập hệ thống hoá đơn điện tử (e-billing), hệ thống quản lý văn bản, lưu giữ thông tin, phần mềm quản lý Khách hàng…là những công việc cần thiết được triển khai ngay với những ứng dụng công nghệ mới nhất. Những tiện ích của các phần mềm/ chương trình công nghệ sẽ góp phần nâng cao tính hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý, mặt khác sẽ giảm thiểu chi phí cho Khách hàng. Nhiều công ty luật sau khi ứng dụng thành công những tiện ích về công nghệ đã không những gia tăng uy tín dịch vụ của mình mà còn giảm được chi phí quản lý, thuê nhân viên hỗ trợ.

    Một cách tổng quát, các công ty luật và các luật sư thành viên cần phải tự rà soát, đánh giá lại chiến lược phát triển của mình một cách thường xuyên, đặc biệt là chiến lược về quản trị để kịp thời đưa ra những điều chỉnh và quyết sách hợp lý. Một hãng luật mạnh cần phải có chiến lược quản trị tốt. Chiến lược quản trị tốt không thể là sự áp dụng sao chép hoặc du nhập từ bên ngoài, mà phải do chính những người sáng lập và quản lý tổ chức xây dựng nên. Không ai có thể làm thay và làm tốt hơn họ công việc này. Đó cũng chính là bí quyết đơn giản để có được ngày càng nhiều hãng luật thành công và uy tín tại Việt Nam./.

    Luật sư Trần Thị Ngân
    Trưởng phòng tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Vietthink

  • Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

    Nguồn Án lệ số 20/2018/AL:

    Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/LĐ-GĐT ngày 09-8-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án lao động “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” tại tỉnh Bình Thuận giữa nguyên đơn là ông Trần Công T với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn L (đại diện theo pháp luật là ông H).

    Vị trí nội dung Án lệ số 20/2018/AL:

    Đoạn 2, 3 phần “Nhận định của Toà án”.

    Khái quát nội dung của Án lệ số 20/2018/AL:

    – Tình huống Án lệ số 20/2018/AL:

    Người sử dụng lao động có thư mời làm việc với nội dung xác định loại hợp đồng lao động và thời gian thử việc. Người lao động đã thử việc theo đúng thời gian thử việc trong thư mời làm việc.

    Hết thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động và người lao động không có thoả thuận nào khác.

    – Giải pháp pháp lý:

    Trường hợp này, phải xác định người lao động và người sử dụng lao động đã xác lập quan hệ hợp đồng lao động.

    Quy định của pháp luật liên quan đến Án lệ số 20/2018/AL:

    Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 29 của Bộ luật Lao động năm 2012.

    Từ khóa của Án lệ số 20/2018/AL:

    “Thử việc”; “Thời gian thử việc”; “Thư mời làm việc”; “Không ký hợp đồng lao động khi hết thời gian thử việc”; “Hợp đồng lao động”.

    NỘI DUNG VỤ ÁN:

    Ông Trần Công T làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn L – Siêu thị L – Chi nhánh B từ ngày 09-9-2013 theo Thư mời làm việc ngày 20-8-2013 của Công ty trách nhiệm hữu hạn L. Theo nội dung thư mời làm việc, ông T làm việc với vị trí Trưởng bộ phận phi thực phẩm, loại hợp đồng lao động: Xác định thời hạn (12 tháng hoặc hơn), thời gian thử việc: 02 tháng, tổng lương gộp trong thời gian thử việc: 15.300.000 VNĐ, mức lương chính hàng tháng: 12.600.000 VNĐ, phụ cấp hàng tháng là 5.400.000 VNĐ.

    Ông T bắt đầu làm việc từ ngày 09-9-2013. Hết thời gian thử việc 02 tháng (từ ngày 09-9-2013 đến ngày 09-11-2013), ông T vẫn tiếp tục làm việc. Ngày 19-12-2013, ông T nghỉ việc. Ngày 28-12-2013, Phòng Nhân sự Công ty trách nhiệm hữu hạn L có giấy mời ông T đến Công ty họp và lập “Biên bản thỏa thuận V/v: Kết thúc hợp đồng lao động trước thời hạn”. Ông T ghi ý kiến vào biên bản nội dung: Không đồng ý việc giải quyết chấm dứt hợp đồng lao động. Ngày 29-12-2013, Công ty trách nhiệm hữu hạn L ra Quyết định số 15/QĐKL- 2013 với nội dung đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Trần Công T, với lý do: Thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng; thời hạn chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 28-12-2013. Ngày 06-01-2014, ông T nhận được Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động nói trên.

    Ngày 24-02-2014, ông Trần Công T có đơn khởi kiện về việc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, với các yêu cầu:

    1. Hủy Quyết định số 15/QĐKL-2013 ngày 29-12-2013 của Công ty trách nhiệm hữu hạn L về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông.

    2. Yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn L phải thanh toán các khoản tiền sau:

    – Tiền vi phạm thời hạn báo trước 45 ngày, số tiền 27.000.000 đồng.

    – Bồi thường 02 tháng lương do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 36.000.000 đồng, Công ty đã chi trả 19.466.000 đồng, nay Công ty còn phải trả 16.534.000 đồng.

    – Trả tiền công làm thêm giờ trong 45 ngày, số tiền 48.150.000 đồng.

    – Trả tiền công của những ngày đã làm việc chưa được nghỉ phép năm là 11 ngày, số tiền là 6.600.000 đồng.

    – Thanh toán tiền công những ngày đã làm việc nhưng chưa được nghỉ bù là 11 ngày, số tiền là 6.600.000 đồng.

    – Thanh toán tiền lương còn thiếu của tháng 11 và tháng 12, theo mức lương 18.000.000 đồng/tháng, số tiền 5.400.000 đồng.

    – Trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tổng cộng là 24.696.000 đồng.

    -Tiền bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo Điều 42 Bộ luật Lao động, tính từ tháng 01-2014 đến ngày xét xử, mỗi tháng 18.000.000 đồng. Tạm tính là 07 tháng, số tiền là 126.000.000 đồng.

    – Bồi thường tổn thất tinh thần do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

    Người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn L cho rằng: Lý do Công ty trách nhiệm hữu hạn L chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông T là do ông T thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng; cụ thể là: Sau thời gian thử việc 02 tháng, theo Bản kế hoạch và đánh giá thành tích ngày 10-11-2013, nhận thấy ông T chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc với nhiệm vụ là Trưởng bộ phận ngành phi thực phẩm nên Giám đốc siêu thị L- Chi nhánh B đã quyết định cho ông T thử việc thêm 01 tháng để tạo điều kiện cho ông T hoàn thành nhiệm vụ và để có thêm thời gian đánh giá năng lực của ông T. Việc kéo dài thời gian thử việc vì lý do: Đến ngày 05-12-2013, Siêu thị L – Chi nhánh B mới chính thức khai trương. Tuy nhiên, qua thời gian thử việc thêm 01 tháng, ngày 12-12-2013, Trưởng bộ phận giám sát bán hàng Siêu thị L – chi nhánh B đánh giá ông T không đạt yêu cầu, đề nghị có kế hoạch thay ông T.

    Ngày 24-12-2013, tại Biên bản cuộc họp số 10 về việc họp đánh giá hiệu quả công việc ngành hàng phi thực phẩm do ông T phụ trách, Giám đốc Siêu thị L – Chi nhánh B đã: “Đề xuất Ban Giám đốc thay thế ông T bằng một người có kinh nghiệm trong việc quản lý ngành hàng phi thực phẩm ”.

    Ngày 28-12-2013, Công ty có thư mời ông T đến tham dự cuộc họp bàn về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Tại Biên bản họp về việc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn, Công ty đánh giá ông T như sau: “Xét quá trình làm việc của ông T từ ngày 9-9-2013 – 19-12-2013 (kể cả thời gian thử việc 02 tháng), Công ty đánh giá ông T không phù hợp với vị trí công việc hiện đang làm (kèm bảng đánh giá của Giám đốc Siêu thị L – Chi nhánh B ), nay Công ty thỏa thuận chấm đứt hợp đồng và thực hiện việc thanh toán ngày công, ngày nghỉ nếu có và bồi thường 01 tháng tiền lương cho thời gian báo trước”, ông T không đồng ý với đánh giá của Công ty.

    Cùng ngày 28-12-2013, Công ty trách nhiệm hữu hạn L lập biên bản thỏa thuận về việc kết thúc hợp đồng lao động trước thời hạn đối với ông T. Công ty thông báo ông T sẽ chấm dứt làm việc tại Công ty bắt đầu kể từ ngày 28-12-2013; Công ty sẽ thanh toán tất cả các khoản lương, tiền phép và chi trả 01 tháng lương thay cho thời gian báo trước. Ông T không đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.

    Phía công ty cho rằng quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông T là đúng quy định của Bộ luật Lao động. Công ty đã chi trả cho ông T 01 tháng lương cho thời gian báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông T, Công ty đồng ý trả cho ông T tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp mà Công ty phải đóng trong 02 tháng (sau khi hết thời gian thử việc), với số tiền là 5.292.000 đồng và 11 ngày ông T làm việc chưa được nghỉ bù là 6.600.000 đồng. Các yêu cầu bồi thường khác của ông T, Công ty không đồng ý.

    Tại Bản án lao động sơ thẩm số 01/2014/LĐ-ST ngày 12-8-2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

    Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Công T đối với yêu cầu hủy quyết định số 15/QĐKL-2013 ngày 29-12-2013 của Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn L, về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông T.

    Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Công T đối với yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn L phải bồi thường và thanh toán các khoản tiền lương; tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian ông T không được làm việc tại Siêu thị L – Chi nhánh B.

    Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty trách nhiệm hữu hạn L về việc: Công ty trách nhiệm hữu hạn L chi trả và hỗ trợ cho ông T khoản tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp trong 02 tháng (tháng 11 và tháng 12), với số tiền là 5.292.000 đồng; khoản tiền của 11 ngày ông T làm việc chưa được nghỉ bù là 6.600.000 đồng. Tổng cộng 02 khoản trên, Công ty trách nhiệm hữu hạn L phải chi trả cho ông T với số tiền là: 11.892.000 đồng.

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

    Ngày 26-8-2014, ông Trần Công T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

    Tại Bản án lao động phúc thẩm số 01/2015/LĐ-PT ngày 13-4-2015, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

    Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.

    Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

    Ngày 07-4-2016, ông Trần Công T có đơn đề nghị xem xét lại Bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

    Tại Quyết định số 04/2016/KN-LĐ ngày 26-12-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án lao động phúc thẩm số 01/2015/LĐ-PT ngày 13-4-2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án lao động phúc thẩm số 01/2015/LĐPT ngày 13-4-2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án lao động sơ thẩm số 01/2014/LĐ-ST ngày 12-8-2014 cùa Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

    Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

    LIÊN HỆ TƯ VẤN PHÁP LÝ NHÂN SỰ

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

    [1] Theo quy định tại Điều 34, Điều 35, Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa nguyên đơn là ông Trần Công T với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn L thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là không đúng quy định của pháp luật.

    Về xác định quan hệ lao động:

    [2] Ông Trần Công T vào làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn L theo Thư mời nhận việc ngày 20-8-2013 với nội dung: “Loại hợp đồng lao động: Xác định thời hạn (12 tháng hoặc hơn). Thời gian thử việc: 02 tháng. Hết thời gian thử việc (từ ngày 09-9-2013 đến ngày 09-11-2013), ông T không nhận được thông báo kết quả thử việc nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Công ty trách nhiệm hữu hạn L cho rằng sau 02 tháng thử việc, ông T không đáp ứng được yêu cầu của công việc, nên Công ty đã quyết định cho ông T thử việc thêm 01 tháng để tạo điều kiện cho ông T hoàn thành nhiệm vụ và để có thêm thời gian đánh giá năng lực của ông T. Tuy nhiên, không có tài liệu nào thể hiện giữa ông T và Công ty trách nhiệm hữu hạn L đã có thỏa thuận với nhau về việc kéo dài thời gian thử việc.

    [3] Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Lao động quy định thời gian thử việc “Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên”. Tại Bản tự khai ngày 14-6-2014, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn L trình bày: “Công ty hiểu rõ rằng, sau khi kết thúc thời gian thử việc (60 ngày) nếu chưa ký HĐLĐ thì người lao động được làm việc chính thức theo loại hợp đồng xác định thời hạn 12 tháng”. Như vậy, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn L thừa nhận rằng sau khi hết thời gian thử việc, ông T đã trở thành người lao động chính thức theo hợp đồng lao động có thời hạn là 12 tháng. Trên thực tế, Công ty trách nhiệm hữu hạn L đã thương lượng với ông T về việc chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 28-12-2013; khi thương lượng không có kết quả, ngày 29-12-2013 Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn L ra Quyết định số 15/QĐKL-2013 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông T. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định quan hệ giữa ông T với Công ty trách nhiệm hữu hạn L sau khi hết thời gian thử việc là quan hệ hợp đồng lao động.

    Về tính hợp pháp của việc chấm dứt hợp đồng lao động:

    [4] Công ty trách nhiệm hữu hạn L đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Trần Công T ngày 29-12-2013; lý do chấm dứt hợp đồng lao động là “Thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động”, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012. Tại thời điểm Công ty trách nhiệm hữu hạn L đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông T, pháp luật lao động không có quy định nào được áp dụng làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

    [5] Trước khi Bộ luật Lao động năm 2012 có hiệu lực, căn cứ để xác định người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, như sau:

    “1. Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục.

    Mức độ không hoàn thành công việc được ghi trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động của đơn vị.”

    Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 của Chính phủ đã hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2013. Tuy nhiên, quy định tại khoản 1 Điều 12 nêu trên không trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Lao động nên được áp dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.

    [6] Công ty trách nhiệm hữu hạn L xuất trình bản Mô tả công việc, Thông báo nhắc nhở vi phạm ngày 06-12-2013 và Thông báo nhắc nhở vi phạm ngày 16-12-2013, Bảng kế hoạch và đánh giá thành tích ngày 12-12-2013 và căn cứ vào các tài liệu này để cho rằng ông T không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Ông T cho rằng ông không được giao bản mô tả công việc, không nhận được 02 thông báo nhắc nhở của Công ty. Phía Công ty trách nhiệm hữu hạn L không cung cấp được chứng cứ chứng minh là ông T đã được Công ty giao bản mô tả công việc và thư nhắc nhở vi phạm. Như vậy, chứng cứ do Công ty trách nhiệm hữu hạn L cung cấp chưa đủ cơ sở để xác định ông Trần Công T thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 44/2003/ND-CP ngày 09-5-2003 của Chính phủ.

    [7] Sau khi hết thời gian thử việc, Công ty trách nhiệm hữu hạn L chưa ký kết hợp đồng lao động với ông Trần Công T; Công ty cũng chưa có thỏa ước lao động tập thể, chưa có nội quy lao động. Do đó, không có căn cứ để đánh giá mức độ không hoàn thành công việc của người lao động. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết luận ông Trần Công T thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là không có căn cứ.

    Vì các lẽ trên;

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ vào khoản 3 Điều 343, khoản 1, khoản 2 Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự;

    Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2016/KN-LĐ ngày 26-12-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; huỷ toàn bộ Bản án lao động phúc thẩm số 01/2015/LĐ-PT ngày 13-4-2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án lao động sơ thẩm số 01/2014/LĐ-ST ngày 12-8-2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về vụ án tranh chấp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa nguyên đơn là ông Trần Công T và bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn L.

    Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

    NỘI DUNG ÁN LỆ SỐ 20/2018/AL:

    “[2] Ông Trần Công T vào làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn L theo Thư mời nhận việc ngày 20-8-2013 với nội dung: “Loại hợp đồng lao động: Xác định thời hạn (12 tháng hoặc hơn). Thời gian thử việc: 02 tháng. Hết thời gian thử việc (từ ngày 09-9-2013 đến ngày 09-11-2013), ông T không nhận được thông báo kết quả thử việc nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Công ty trách nhiệm hữu hạn L cho rằng sau 02 tháng thử việc, ông T không đáp ứng được yêu cầu của công việc, nên Công ty đã quyết định cho ông T thử việc thêm 01 tháng để tạo điều kiện cho ông T hoàn thành nhiệm vụ và để có thêm thời gian đánh giá năng lực của ông T. Tuy nhiên, không có tài liệu nào thể hiện giữa ông T và Công ty trách nhiệm hữu hạn L đã có thỏa thuận với nhau về việc kéo dài thời gian thử việc.

    [3] Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Lao động quy định thời gian thử việc “Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên”. Tại Bản tự khai ngày 14-6-2014, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn L trình bày: “Công ty hiểu rõ rằng, sau khi kết thúc thời gian thử việc (60 ngày) nếu chưa ký HĐLĐ thì người lao động được làm việc chính thức theo loại hợp đồng xác định thời hạn 12 tháng”. Như vậy, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn L thừa nhận rằng sau khi hết thời gian thử việc, ông T đã trở thành người lao động chính thức theo hợp đồng lao động có thời hạn là 12 tháng. Trên thực tế, Công ty trách nhiệm hữu hạn L đã thương lượng với ông T về việc chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 28-12-2013; khi thương lượng không có kết quả, ngày 29-12-2013 Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn L ra Quyết định số 15/QĐKL-2013 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông T. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định quan hệ giữa ông T với Công ty trách nhiệm hữu hạn L sau khi hết thời gian thử việc là quan hệ hợp đồng lao động.”

    Tải Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc.

    Trên đây là toàn văn Án lệ số 20/2018/AL. Mọi vướng mắc pháp lý nhân sự, Quý vị vui lòng liên hệ với PhaplyNhansu.com để được giải đáp chi tiết và nhận tư vấn pháp luật lao động miễn phí, thủ tục xin cấp giấy phép lao động.

    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc
  • Dưới đây là chia sẻ về một số lỗi hay mắc phải khi đi phỏng vấn nghề luật và cách khắc phục chúng:

    1. Bạn đến muộn

    Cách để không bị trễ giờ phỏng vấn

    Tất cả chúng ta đều hiểu rằng ấn tượng ban đầu thường rất quan trọng trong cuộc phỏng vấn để có một việc làm tốt. Nhưng bạn có cho rằng bạn có thể tạo ra một ấn tượng ban đầu không tốt với nhà tuyển dụng ngay trước khi bạn tham gia phỏng vấn? Và đến muộn chính là yếu tố làm bạn mất điểm trước nhà tuyển dụng.

    Các nhà tuyển dụng không bao giờ muốn nghe những lý do mà bạn biện minh cho việc đến muộn của mình như: “Tôi bị hỏng xe”, “Tôi bị tắc đường”, “Tôi không tìm được địa chỉ công ty” hay đơn giản là “Tôi bị lạc”… Cho dù là lý do gì đi nữa, thì mấu chốt của việc bạn đi muộn là bạn đã không chuẩn bị kỹ cho buổi phỏng vấn này. vấn đề vẫn là bạn không chuẩn bị đủ thời gian. Vì vậy, dãy dự trù một khoảng thời gian thừa để bạn không tới muộn, tới đúng giờ hoặc thậm chí tới sớm hơn thời gian yêu cầu. Quỹ thời gian bạn dự tính cần sớm hơn khoảng từ 5 tới 10 phút. Theo đó, nếu như có một sự việc ngoài dự tính bất ngờ xảy trên đường bạn tới phỏng vấn thì bạn sẽ vẫn có đủ thời gian.

    2. Trang phục không phù hợp

    Bạn sẽ tạo ấn tượng mạnh và tích cực của nhà tuyển dụng ngay cái nhìn đầu tiên nếu bạn mặc bộ quần áo lịch sự có màu sắc nhã nhặn, với đôi giày sạch bóng, tóc tai gọn gàng và một chút nước hoa thoang thoảng. Trông bạn thật chuyên nghiệp và thu hút.

    Việc ăn mặc gọn gàng tới phỏng vấn rất quan trọng vì nó không tùy thuộc vào công ty mà bạn tham gia phỏng vấn, mà phụ thuộc vào việc bạn đi phỏng vấn với tư thế như thế nào. Đừng biến mình thành người thua cuộc trong vòng phỏng vấn chỉ vì không đi giày, mặc váy xẻ quá cao hoặc một áo sơ mi nhàu nát với cái cổ bẩn, hoặc mặc quần jeans bụi bặm, áo thun cộc tay với những móng tay dài ngoằng, cáu bẩn, tóc tai bờm xờm và hơi thở thì nồng nặc mùi khó chịu. Như thế trông rất phản diện và thể hiện rõ bạn là người không chuyên nghiệp.

    Để khắc phục lỗi trang phục, bạn nên chuẩn bị mọi thứ vào buổi tối hôm trước, và kiểm tra lại trước khi đi phỏng vấn.

    3. Không tìm hiểu về công ty tuyển dụng

    Nếu như bạn không thể trả lời được câu hỏi “Bạn biết gì về công ty này” thì cơ hội tìm kiếm việc làm, thậm chí là cơ hội tiếp tục với nhà tuyển dụng của bạn coi như kết thúc. Các thông tin căn bản về công ty như lịch sử phát triển, dịch vụ và sản phẩm của công ty, doanh số hàng năm, cơ cấu tổ chức, vị trí, các phòng ban, triết lý kinh doanh… là các thông tin sẵn có trong mục “Giới thiệu” trên website của công ty. Hãy xem các thông tin này, in ra và đọc nó trước khi bạn tới phỏng vấn để ghi nhớ các thông tin ấy. Đồng thời bạn có thể kiểm tra các thông tin trên trang LinkedIn, Facebook nếu như công ty đó có.

    4. Kỹ năng giao tiếp kém

    Việc giao tiếp với mọi người mà bạn gặp trong quá trình tìm kiếm việc làm là rất quan trọng. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là bạn có thể giao tiếp tích cực với người sẽ tuyển dụng bạn. Bắt tay, nhìn vào mắt, thể hiện sự tự tin, giữ lời hứa với người mà bạn nói chuyện… là những việc làm cho người phỏng vấn thấy rằng bạn là một ứng cử viên thông minh cho vị trí họ đang tìm kiếm, ngay cả khi bạn chưa trả lời các câu hỏi phỏng vấn.

    Một điểm nữa khiến bạn dù tin hay không, sẽ không thể có được công việc mong muốn nếu bạn vì việc không ngần ngại trả lời điện thoại khi đang phỏng vấn. Hãy tắt điện thoại hoặc để ở chế độ im lặng trước khi bạn bước vào phỏng vấn. Hãy bỏ qua cuộc hẹn gặp ở quán café, ăn tối hoặc các cuộc hẹn khác vì những việc này không hề liên quan tới cuộc phỏng vấn hiện tại của bạn.

    5. Tìm kiếm về công ty chứ không phải tìm kiếm về bản thân bạn

    Các ứng viên thường chuẩn bị một cách thông minh bằng việc tìm kiếm các thông tin về công ty. Hầu hết những người tìm việc đều không quan tâm tới các thông tin về bản thân mình bằng cách liệt kê cho mọi người thấy kinh nghiệm, học vấn và kỹ năng của bản thân. Vì vậy, việc cần làm trước khi phỏng vấn là bạn hãy xây dựng một danh sách các câu trả lời cho câu hỏi phỏng vấn về bản thân bạn như học vấn, kinh nghiệm, kỹ năng… Điều này giúp bạn có thể kết nối kinh nghiệm, tài năng, thế mạnh của mình với vị trí công việc đang ứng tuyển và ghi điểm với nhà tuyển dụng.

    6. Không đặt câu hỏi cho nhà tuyển dụng

    Không đặt câu hỏi cho nhà tuyển dụng

    Hầu hết các cuộc phỏng vấn đều bao gồm thời gian dành cho các ứng viên đưa ra các câu hỏi cho nhà tuyển dụng. Việc bạn không có câu hỏi nào cho thấy rằng bạn không hứng thú với công việc hoặc không chuẩn bị tốt.

    Do đó, đừng bỏ lỡ cơ hội thể hiện sự nhiệt tình và quan tâm của mình tới công ty và công việc bằng cách đặt ra những câu hỏi thích hợp. Thực tế một câu hỏi thông minh khiến người phỏng vấn hứng thú có giá trị hơn nhiều những gì có trong hồ sơ của bạn. Đây chính là lợi thế mà bạn có thể tạo ra và khẳng định với nhà tuyển dụng bạn là ứng viên khác biệt hơn các ứng viên khác.

    Vì vậy, trước khi tới phỏng vấn, hãy đưa ra ít nhất năm câu hỏi bạn có thể hỏi nhà tuyển dụng. Hãy sử dụng những điều bạn tìm hiểu được để đưa ra danh sách các câu hỏi giúp bạn có được những thông tin chính xác về vị trí của mình, và xác định liệu công việc này hoặc công ty này có phù hợp với bạn hay không?

    7. Nói quá nhiều hoặc nói quá ít

    Không có điều gì có thể tồi tệ hơn việc nhà tuyển dụng gặp phải một ứng viên nói không biết ngừng. Vẫn biết rằng phỏng vấn là cơ hội để bạn giới thiệu về bản thân nhưng không nên nói quá nhiều, vì nhà tuyển dụng thực sự không cần biết tất cả câu chuyện về cuộc đời bạn. Nói lan man, thao thao bất tuyệt về bản thân, cướp lời người phỏng vấn… tất cả những điều đó có thể tránh được nếu bạn để ý và luyện tập. Hãy trả lời các câu hỏi một cách đơn giản và câu trả lời tốt là câu trả lời súc tích, ngắn gọn, đúng trọng tâm và mạch lạch.

    Rất khó có thể giao tiếp với một ai đó chỉ trả lời câu hỏi cộc lốc với một hoặc hai từ, mà không cung cấp thêm thông tin cho nhà tuyển dụng. Điều này khiến người phỏng vấn cảm thấy không thể nói gì khi nghe các câu trả lời của bạn. Việc này không hề dễ chịu chút nào. Vì thế cho dù bạn là một người ít nói thì hãy cố gắng đưa ra các câu trả lời tích cực và đầy đủ nhất trong khả năng của bạn.

    8. Kể ra các điểm yếu một cách tích cực

    Nhà tuyển dụng thường hỏi các ứng viên câu hỏi “Hãy cho tôi biết điểm yếu của bạn là gì?”. Với kinh nghiệm trước đây thì một số ứng viên thông minh thường đưa ra và nhấn mạnh điểm yếu của bản thân kiểu như “tôi là một người cầu toàn” và biến nó thành một điểm tích cực. Nhưng nhà tuyển dụng sẽ không bị ấn tượng với điều này nữa bởi vì họ đã quá quen thuộc với điều này từ hàng trăm các ứng viên khác rồi.

    Nếu như bạn được hỏi câu hỏi này thì bạn hãy nhấn mạnh vào kỹ năng mà bạn muốn có cơ hội được cải thiện và mô tả về việc bạn sẽ làm gì để nâng cao kỹ năng đó. Nhà tuyển dụng không quan tâm chi tiết tới điểm yếu của bạn là gì mà thực sự họ muốn biết bạn sẽ xử lý như thế nào với câu hỏi đó. Và câu trả lời của bạn sẽ cho họ thấy bạn là người như thế nào.

    9. Trả lời sai câu hỏi

    Tự tin khi đi phỏng vấn

    Hãy luôn chắc chắn rằng bạn nghe rõ câu hỏi đưa ra và dành một chút thời gian để chắt lọc thông tin, chuẩn bị câu trả lời trước khi nói với nhà tuyển dụng. Giống như các ứng viên tiếp theo, bạn sẽ đánh mất cơ hội tuyển dụng nếu như bạn đưa ra một câu trả lời sai.

    Thí dụ, nhà tuyển dụng mô tả công việc của một nhân viên chăm sóc khách hàng cho bạn, vị trí mà bạn đang ứng tuyển, và nhấn mạnh rằng kỹ năng tạo các cuộc gọi tới khách hàng khó tính và tiềm năng là kỹ năng quan trọng nhất cho vị trí này. Nếu bạn trả lời rằng “Tôi không thích gọi điện tới các khách hàng khó tính, tôi không giỏi việc đó.” thì một điều chắc chắn rằng bạn sẽ không thể có được công việc này.

    10. Phê phán quản lý ở công ty cũ

    Quản lý ở công ty của bạn là một người ngốc nghếch? Tất cả nhân viên khác ở công ty đó đều ngớ ngẩn? Bạn chán ghét công việc đó và không thể kiên nhẫn chịu đựng nên mới phải thôi việc. Cho dù điều này có đúng đi nữa thì đừng bao giờ nói ra điều đó trước mặt nhà tuyển dụng. Vì không nhà tuyển dụng nào muốn thuê một người chỉ biết phàn nàn, nói xấu người khác và có thể người bị nói xấu tiếp theo sẽ chính là nhà tuyển dụng khi bạn ra đi.

    Tôi đã thực sự bất ngờ khi nghe thấy một nhân viên nói xấu không ngừng về công ty mà cô ấy đã từng làm việc. Công ty ấy thực tế là một khách hàng rất lớn của công ty tôi. Và do đó tôi đã không thể tuyển dụng người nào có cách nói chuyện về công ty và đồng nghiệp cũ như vậy cả.

    Thế giới đôi khi nhỏ bé hơn bạn tưởng và bạn không thể biết rằng người phỏng vấn tuyển dụng bạn là người chủ bạn cho là ngốc nghếch. Cách tốt nhất là bạn không nên để người phỏng vấn bạn nghĩ rằng bạn có thể nói như vậy về công ty/ anh chị ta khi bạn rời công ty.

    Vì vậy, nếu nhà tuyển dụng hỏi bạn về lý do xin nghỉ, bạn có thể trình bày một điều thuyết phục hơn như bạn quan tâm tới những nhiệm vụ mới, thách thức mới, hoặc đơn giản chỉ vì công việc đang cần tuyển hấp dẫn đến nỗi bạn không thể không thử vận may.

    Nguồn bài viết: Nhân lực Ngành Luật
    Nguồn ảnh: Internet