HR Law

Chia sẻ kiến thức pháp lý nhân sự

  • Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:

    1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành25/12/2023
    Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam18/09/2023
    Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành20/06/2023
    Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý20/10/2022
    Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động01/07/2022
    Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng17/01/2022
    Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành30/01/2022
    Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành01/09/2021
    Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam15/02/2021
    Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động01/02/2021
    Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu01/01/2021
    Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành01/01/2021
    Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành15/03/2021

    2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực

    Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.18/8/2023
    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao17/10/2018

    3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 201501/07/2016
    Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
    Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 201401/07/2015Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
    Luật Thuế thu nhập cá nhân 200701/01/2009Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
    Luật Việc làm năm 201301/01/2015Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
    Luật Công đoàn năm 201201/01/2013Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
    Luật Bảo hiểm xã hội năm 201401/01/2016Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 202001/01/2022Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật người khuyết tật 201001/01/2011Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
    Luật Trẻ em 201601/06/2017Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
    Bộ luật Tố tụng Dân sự 201501/07/2016Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
    Luật Bình đẳng giới 200601/07/2007Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
    Luật người cao tuổi năm 200901/07/2010Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
    Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên

    Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.

  • Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:

    – Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.

    – Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.

    2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.

    3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.

    Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.

    Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

    Xem văn bản

  • HRLegal tổng hợp các tài liệu, biểu mẫu các văn bản pháp lý trong công tác quản trị nhân sự bắt buộc phải có theo quy định pháp luật, gồm có:

    • Mẫu hợp đồng lao đồng
    • Mẫu Thỏa ước lao động tập thể
    • Mẫu Nội quy lao động
    • Mẫu Quy chế dân chủ và đối thoại tại nơi làm việc
    • Mẫu Quy chế đánh giá hoàn thành công việc
    • Mẫu sổ quản lý lao động

    Các bạn tải về tại link drive này nhé. Nếu bạn tư vấn soạn thảo các văn bản pháp lý nhân sự, vui lòng liên hệ HRLegal.vn để được giải đáp nhé

  • Theo thông báo đăng tải trên trang chủ ngày 22/01/2018, Microsoft chính thức bổ nhiệm ông Phạm Thế Trường vào vị trí Tổng Giám Đốc Việt Nam. Với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh phần mềm và từng tham gia công tác điều hành tại nhiều công ty công nghệ hàng đầu, Microsoft tin rằng sứ mệnh của tập đoàn sẽ sớm được hoàn thành tại Việt Nam với tân Tổng Giám Đốc.

    Trước khi gia nhập Microsoft, ông Phạm Thế Trường là Tổng Giám Đốc điều hành SAP Việt Nam từ năm 2012. Dưới sự điều hành của ông, SAP đã đạt được mức tăng trưởng ngoạn mục trong 5 năm qua. Ông đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nền tảng vững chắc cho cuộc hành trình chuyển đổi số của SAP.

    Trước SAP, ông Trường đảm nhiệm vị trí Giám đốc Bán hàng của Oracle Việt Nam. Ông đóng vai trò quan trọng, giúp mở rộng các công nghệ mới nhất của Oracle tại nhiều phân khúc thị trường khác nhau ở Việt Nam.

    Tại Microsoft, ông Trường sẽ chịu trách nhiệm quản lý sản phẩm, dịch vụ và hỗ trợ tại Việt Nam, và quan trọng hơn, góp phần giúp Microsoft tiến nhanh hơn trên hành trình trở thành tập đoàn dẫn đầu thế giới về nền tảng và hiệu năng.

    Chủ tịch Microsoft Châu Á Thái Bình Dương, Andrea Della Mattea bày tỏ: “Chúng tôi rất vui mừng khi ông Trường trở thành một thành viên của Microsoft. Ông là một người dẫn đầu đầy kinh nghiệm, với sự lãnh đạo tuyệt vời, hiểu biết sâu sắc và những thành công vô giá. Việt Nam đang có một quỹ đạo tăng trưởng đáng kinh ngạc và tôi chắc chắn rằng ông Trường sẽ có những đóng góp vô giá giúp khách hàng và đối tác của tập đoàn đẩy nhanh sự chuyển đổi số.

    Đáp lại kỳ vọng trên, Tân Tổng Giám Đốc cho biết: “Tôi rất vui được là một phần của Microsoft, một trong những tập đoàn công nghệ dẫn đầu thị trường. Trong vai trò mới này, tôi thấy một cơ hội tuyệt vời, cùng các đối tác, tôi tin rằng những công nghệ toàn diện của Microsoft sẽ trở thành động cơ chính, thúc đẩy khát vọng kỹ thuật số và sự phát triển của khách hàng.”

    Ông Phạm Thế Trường tốt nghiệp Thạc sỹ Quản Trị Kinh Doanh và Hệ Thống Thông Tin. Ông cũng là một thành viên tích cực trong cộng đồng CNTT tại Việt Nam, tham gia đóng góp trên nhiều phương diện cho nhiều hoạt động của cộng đồng.

    Link bài viết: https://news.microsoft.com/vi-vn/2018/01/22/microsoft-viet-nam-bo-nhiem-tan-tong-giam-doc/

  • Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ giữa con người với nhau và đối với xã hội. Đạo đức của nghề luật sư bao gồm các quy định chung về đạo đức của bản thân luật sư trong các mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng, với cơ quan nhà nước và với đồng nghiệp. Mỗi luật sư phải ý thức được sứ mệnh của mình, biết giữ gìn phẩm chất và danh dự nghề nghiệp. Tạo niềm tin và sự kính trọng từ khách hàng, từ đó tôn vinh nghề luật sư.

    Luật sư là người hành nghề liên quan đến lĩnh vực pháp luật, bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân, luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng cung cấp các dịch vụ pháp lý như: tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bảo vệ quyền lợi của thân chủ trước tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng. Người muốn hành nghề luật phải được công nhận là luật sư. Thông thường trên thế giới không đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn để trở thành luật sư. Tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là: công dân ở nước sở tại; có bằng cử nhân luật; có phẩm chất đạo đức tốt.

    Ở Việt Nam, Luật Luật sư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007 và thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 2001.

    Luật Luật sư ra đời đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế luật sư ở nước ta đồng thời tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của luật sư và nghề luật sư đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ mới. Theo Luật Luật sư, một người muốn trở thành luật sư phải hội đủ các tiêu chuẩn: “là công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư và có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư”. Cùng với quy định trên, để chuẩn hóa về mặt đạo đức của luật sư, ngày 20/7/2011 Hội đồng Luật sư toàn quốc đã ban hành Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ kèm theo bản quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Bản quy tắc trên đã đưa ra các chuẩn mực về đạo đức để luật sư phải khắc ghi trong suốt đời hành nghề của mình.

    Luật sư là người hoạt động khoa học pháp lý ở vị trí người hướng dẫn pháp luật và đạo lý cho người khác, luôn luôn lấy việc bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải và công bằng xã hội làm mục tiêu cao quý. Trước khi là một luật sư thì chính bản thân phải rèn luyện được đức tính độc lập, trung thực, khách quan, nhiệt tình trong công việc, không ngại khó, ngại khổ, không dồn trách nhiệm cho đồng nghiệp, cho người khác. Luật sư phải độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, không vì lợi ích vật chất, tinh thần hoặc bất kỳ áp lực nào khác để làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Luật sư có nghĩa vụ phát huy truyền thống tốt đẹp của nghề luật sư, thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, giữ gìn phẩm chất và uy tín nghề nghiệp; thái độ ứng xử đúng mực, có văn hóa trong hành nghề và lối sống để xứng đáng với sự tin cậy, tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư.

    Là người thừa hành pháp luật, am tường các quy định của pháp luật, luật sư phải là người tuân thủ pháp luật, không được trực tiếp hay gián tiếp làm bất cứ những việc gì gây ảnh hưởng bất lợi hoặc khả năng làm ảnh hưởng bất lợi đến tính độc lập, liêm chính và uy tín của luật sư. Luật sư không được tư vấn hoặc giúp đỡ khách hàng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc gian trá. Thông thường luật sư phải từ chối hoặc rút lui khỏi một vụ việc nếu khách hàng yêu cầu luật sư làm một việc phạm pháp hoặc vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Để tạo vị thế của luật sư với xã hội và niềm tin với khách hàng, luật sư phải có nghĩa vụ tôn trọng sự lựa chọn luật sư của khách hàng. Luật sư chỉ nhận những vụ việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ việc theo phạm vi yêu cầu của khách hàng. Không được nhận việc nếu có xung đột hoặc có nguy cơ xung đột vì quyền lợi với khách hàng khác. Trong quan hệ với khách hàng luật sư không nên để áp lực tài chính ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng của mình nên tách bạch hai vấn đề thì việc luật sư cung cấp cho khách hàng những lời khuyên mới vô tư và trong sáng.

    Một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ luật sư với khách hàng là luật sư phải giữ bí mật thông tin liên quan đến việc đại diện cho khách hàng. Luật sư rất cần sự trung thực của khách hàng, bên cạnh đó khách hàng cũng cần luật sư biết giữ gìn bí mật cho mình. Đây là nghĩa vụ của luật sư điều này rất cần thiết nếu muốn ngày càng có nhiều khách hàng tìm đến yêu cầu luật sư bảo vệ mình.

    Đạo đức của mỗi luật sư thể hiện nhiều trong mối quan hệ giữa luật sư với những đồng nghiệp của mình. Đây là mối quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các luật sư nhằm nâng cao các hoạt động nghiệp vụ và phục vụ khách hàng được tốt hơn. Từ những lý do đó rất cần sự đoàn kết giữa các luật sư. Vì vậy, luật sư không được làm mất uy tín của nhau bằng việc tự đề cao mình và phải thận trọng trong việc phê phán hoặc chỉ trích luật sư khác. Quan hệ đồng nghiệp là lĩnh vực được điều chỉnh bởi quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư và nó thể hiện được tính tự quản trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư.

    Cùng với vai trò là người hướng dẫn pháp luật, vai trò của luật sư cũng không thể thiếu trong hoạt động phản biện. Sức mạnh của luật sư là những lý luận mang tính phản biện. Hoạt động của luật sư cần đảm bảo sao cho tính chất phản biện của mình có khoảng cách rõ nét không để lẫn lộn với ngụy biện. Đó cũng là nền tảng của đạo đức nghề nghiệp luật sư

    Ở Việt Nam hiện nay, nghề luật sư đang dần khẳng định được vai trò quan trọng, tuy nhiên trong các văn bản pháp lý cũng như quan niệm của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng và quan niệm của doanh nghiệp, người dân thì vai trò của luật sư chưa được coi trọng xứng với tầm thực tế của luật sư. Đó cũng là một trong những lý do ảnh hưởng đến đạo đức và văn hóa nghề nghiệp của luật sư Việt Nam.

    Để góp phần tạo nên một nét văn hóa riêng của nghề luật sư, mỗi luật sư phải có nhìn nhận đúng mực về nét văn hóa tư pháp nói chung và và phong cách văn hóa nói riêng của nghề luật sư. Muốn làm được điều này, những người trong nghề luật sư phải thực sự yêu nghề nghiệp mình đã chọn lựa. Mỗi luật sư ai cũng có trách nghiệm phát huy và duy trì những điểm sáng của nghề, phải có ý thức giữ gìn đạo đức, phẩm giá của mình, giữ mối quan hệ tốt với mọi người, với đồng nghiệp.

    Bên cạnh đó nhà nước cần quan tâm hơn nữa đối với nghề luật sư chẳng hạn như: Luật hóa văn hóa tư pháp nói chung văn hóa nghề nghiệp luật sư nói riêng nhằm nâng cao vị thế của luật sư trong xã hội. Trong các giải pháp hoàn thiện lực lượng bổ trợ tư pháp, việc đào tạo nghề luật sư cần được chú trọng, quan tâm hơn, cũng như nên bố trí thêm thời gian, nội dung để các học viên học về đạo đức và văn hóa của nghề nghiệp luật sư. Từ đó mới hình thành một đội ngũ luật sư thật sự có đạo đức, văn hóa và tài giỏi, đương đầu với những vi phạm, tranh chấp tiềm ẩn trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

    Nguồn bài viết: Bộ Tư pháp

  • CV (Curriculum Vitae) chính là phương tiện đầu tiên để bạn tiếp cận với nhà tuyển dụng, nó chính là công cụ quảng cáo hữu hiệu về trình độ, kỹ năng của bạn với nhà tuyển dụng, hãy để CV của bạn trở nên chuyên nghiệp và ấn tượng trong mắt nhà tuyển dụng.

    Với CV của một chuyên viên pháp chế, bạn hãy nhấn mạnh vào thành tích học tập, kinh nghiệm làm việc trong môi trường pháp lý của mình và với bất kỳ trong công việc nào, bạn hãy mô tả mình là người đáng tin cậy, có nguyên tắc và có kỹ năng tư duy phản biện.

    Hãy lưu ý 06 điều dưới đây để giúp CV của bạn trở lên chuyên nghiệp hơn trong mắt nhà tuyển dụng

    1. Hãy lập danh sách những công việc thể hiện trình độ, kỹ năng và kiến thức pháp lý của bạn

    Điều này có thể bao gồm: Quá trình thực tập và việc làm trước đó của bạn; những giải thưởng và danh hiệu bạn đã đạt được trong quá trình học tập và làm việc của mình; hoạt động vì cộng đồng chuyên môn như tình nguyện viên trong chương trình kỹ năng xử lý rủi ro pháp lý trong doanh nghiệp hay thành viên trong các tổ chức hoạt động về chuyên môn pháp lý; các bài viết đánh giá, nhận định pháp lý trong doanh nghiệp; học bổng hay thành tích học tập của bạn; hoặc các chương trình đào tạo/ khóa huấn luyện về chuyên môn pháp chế doanh nghiệp mà bạn đã tham gia.

    2. Nghiên cứu thật kỹ lĩnh vực hoạt động của công ty bạn ứng tuyển

    Bạn nên nghiên cứu kỹ hơn vào lĩnh vực hoạt động của công ty nơi mà bạn muốn ứng tuyển và bạn cần điều chỉnh CV của mình sao cho phù hợp với yêu cầu tuyển dụng của từng nhà tuyển dụng. Bạn có thể tạo cho mình CV theo nhiều mẫu khác nhau, nhưng hãy cụ thể từng lĩnh vực pháp lý cho từng nhà tuyển dụng. Ví dụ, một CV ứng tuyển vào vị trí chuyên viên pháp chế của công ty bất động sản sẽ khác với một CV ứng tuyển vào vị trí chuyên viên pháp chế công ty trong lĩnh vực dược phẩm.

    3. Chọn cách trình bày CV để thể hiện tốt nhất trình độ của bạn

    – Với lựa chọn trình bày CV theo thứ tự thời gian thì bạn có thể liệt kê quá trình học tập của mình trước, tiếp theo là kinh nghiệm làm việc của bạn, và nên bắt đầu kinh nghiệm làm việc của bạn với vị trí làm việc gần nhất của mình. Đối với mỗi mục, bạn hãy mô tả cụ thể cho từng quá trình học tập cũng như vị trí mà mình đã làm việc. Ở mỗi vị trí bạn đã đúc rút được những kinh nghiệm và bài học gì trong quá trình làm nghề của mình.

    – Với lựa chọn trình bày CV dựa trên kỹ năng pháp lý mà bạn có, thì bạn hãy bắt đầu bằng một phần tóm tắt kỹ năng của bạn, và hãy dành phần lớn CV để mô tả cách bạn đã sử dụng các kỹ năng này trong học tập và công việc như thế nào? Khi liệt kê kinh nghiệm làm việc, chỉ nên viết các vị trí công việc mà bạn đã đảm nhận, cũng như thời gian và địa điểm làm việc, bỏ qua các mô tả công việc dài dòng, không tập trung vào vị trí mà bạn đang ứng tuyển.

    Lưu ý: đối với cả hai lựa chọn trên thì bạn vẫn nên liệt kê trước tiên là tên nơi đào tạo bạn về ngành luật bao gồm trường đại học mà bạn học, ngành luật cụ thể bạn học, thời gian tốt nghiệp của bạn.

    4. Hãy trình bày cả những kinh nghiệm làm việc ngoài lĩnh vực pháp lý nhưng có liên quan đến công việc tại công ty tuyển dụng

    Nhà tuyển dụng luôn yêu cầu người đã có kinh nghiệm tối thiểu liên quan đến ngành luật. Nhưng đừng quá phóng đại những công việc trước đây bạn đã làm mà không liên quan đến ngành luật như thể bạn đã làm nghề luật nhiều năm. Dù trước đây bạn có làm nhân viên kinh doanh, nhân viên hành chính, không liên quan nhiều đến kiến thức pháp lý nhưng hãy thể hiện nó trung thực và cho nhà tuyển dụng thấy rằng giờ bạn thực sự nghiêm túc muốn trở thành một chuyên viên pháp chế doanh nghiệp, hãy cho họ thấy bạn nghiêm túc với mục tiêu trong tương lai của mình. Bạn cũng đừng quên những công việc tình nguyện, hoạt động xã hội liên quan đến ngành luật mà bạn đã làm trong trường học hoặc nơi bạn thực tập.

    5. Nếu bạn chưa có kinh nghiệm làm việc ngành luật thì hãy làm nổi bật lên các kỹ năng cần có của một người làm luật mà bạn đã tích lũy được

    Bất kỳ công việc nào cũng có thể minh họa rằng bạn có những kỹ năng của người làm trong ngành luật như tập trung vào các kỹ năng như soạn thảo văn bản, kỹ năng nói là nhiệm vụ trọng tâm của người đại diện xử lý các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp. Hay những kỹ năng quan trọng khác của nhân sự pháp chế ví dụ như có nguyên tắc trong công việc, chịu được áp lực và phối hợp tốt với những người/bộ phận liên quan để xử lý hiệu quả các công việc,…

    Hãy liệt kê những ví dụ từ kinh nghiệm làm việc của bạn để cho nhà tuyển dụng thấy được những kỹ năng mà bạn đáp ứng được cho công việc pháp chế mà họ đang tìm kiếm.

    6. Trình bày CV của bạn trong 1 – 2 trang giấy

    Nên trình bày mẫu CV xin việc dài trong 1, 2 hay 3 trang A4?

    CV của bạn có thể dài hơn nếu bạn có kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, nhưng đối với sinh viên thực tập hoặc sinh viên mới tốt nghiệp hãy cố gắng trình bày CV của bạn trong một trang giấy duy nhất (hoặc tối đa 2 trang). Điều này giúp CV của bạn dễ dàng tiếp cận hơn với nhà tuyển dụng khi họ lướt qua và chỉ tập trung vào trình độ của bạn, họ sẽ bỏ qua những chi tiết quan trọng trong CV nếu bạn cứ trình bày dài dòng vào những thứ không liên quan đến yêu cầu của họ.

    Hơn nữa, hãy chắc chắn rằng bạn đã ghi đầy đủ thông tin liên lạc ở ngay phần đầu tiên trên bản CV của mình.

    Bạn nhớ ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, nơi ở hiện tại, trường học của bạn và những thông tin khác để nhà tuyển dụng có thể liên lạc với bạn một cách dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện nhất. Lưu ý, hãy sử dụng một địa chỉ email chuyên nghiệp như hoten@domainname.com, tránh dùng những địa chỉ mail nickname, sáng tạo, khó đọc hoặc biệt danh.

    Chúc các bạn tuần mới thành công với mục tiêu của mình!

    Thái Hà Vũ – Phụ trách dự án LETOHr
    Nguồn bài viết: Tuyển dụng pháp chế
    Nguồn ảnh: Internet

  • Ngày 13/12/2019, Hội đồng Luật sư toàn quốc, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã ban hành Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ về Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

    Bộ quy tắc mới này được ban hành để thay thế cho bộ quy tắc cũ được Hội đồng Luật sư toàn quốc thông qua và ban hành ngày 20/07/2011 tại Quyết định 68/QĐ-HĐLSTQ.

    Bộ quy tắc mới gồm Lời nói đầu, 06 Chương với 32 quy tắc (thay vì 27 quy tắc trước đây). Trong đó, những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng bao gồm 10 hành vi (quy tắc cũ gồm 14 hành vi) sau:

    1. Nhận, chiếm giữ, sử dụng tiền, tài sản của khách hàng trái với thỏa thuận giữa luật sư và khách hàng.

    2. Gợi ý, đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản hoặc lợi ích khác cho luật sư hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em của luật sư.

    3. Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích nào khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện công việc gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.

    4. Tạo ra hoặc lợi dụng các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, không đầy đủ hoặc bất lợi cho khách hàng để gây áp lực nhằm tăng mức thù lao đã thỏa thuận hoặc có được lợi ích khác từ khách hàng.

    5. Sử dụng thông tin biết được từ vụ việc mà luật sư đảm nhận để mưu cầu lợi ích không chính đáng.

    6. Thông tin trực tiếp cho khách hàng hoặc dùng lời lẽ, hành vi ám chỉ để khách hàng biết về mối quan hệ cá nhân của luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác nhằm mục đích gây niềm tin với khách hàng về hiệu quả công việc hoặc nhằm mục đích bất hợp pháp khác.

    7. Cố đưa những thông tin làm cho khách hàng nhầm lẫn về khả năng và trình độ chuyên môn của mình để tạo niềm tin cho khách hàng ký kết hợp đồng.

    8. Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc về những nội dung nằm ngoài khả năng, điều kiện thực hiện của luật sư.

    9. Lợi dụng nghề nghiệp để quan hệ tình cảm nam nữ bất chính với khách hàng.

    10. Lạm dụng các chức danh khác ngoài danh xưng luật sư trong hoạt động hành nghề để mưu cầu lợi ích trái pháp luật.

    Yến Châu
    Nguồn bài viết: Báo điện tử Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh

  • Làm thế nào để giàu có bằng nghề luật

    Luật sư được đánh giá là nghề đặc thù chuyên cứu người khi gặp các vấn đề về pháp lý và việc này phải do chính luật sư làm trên số thời gian có hạn của mình, nên thường thì khá khó khăn để tăng thu nhập. Tuy nhiên, đây chỉ là một khía cạnh của sự khó khăn, còn khá nhiều cách để Luật sư có thể làm giàu:

    Thứ nhất, giảm chi phí tiền lương

    Tiền lương luôn là chi phí lớn nhất trong các chi phí của một tổ chức hành nghề luật sư (TCHNLS). Bạn nên tăng cường việc thiết lập các quy trình làm việc hiệu quả trong nội bộ bằng việc xây dựng và thu thập các biểu mẫu tài liệu, giấy tờ trong công việc khách hàng và công việc hành chính nội bộ để tiết kiệm sử dụng nhân sự.

    Ngoài ra bạn cũng có thể tìm các công việc pháp lý có tính chất ổn định, dễ dàng, không mất nhiều chất xám để làm (ví dụ như thu hồi công nợ, công chứng hợp đồng bất động sản, giải chấp tài sản…).

    Thứ hai, giảm chi phí thuê văn phòng

    Để tiết kiết chi phí này, chúng ta nên đầu tư mua căn hộ theo mô hình Officetel rồi cho tổ chức hành nghề luật sư của chúng ta thuê lại để làm văn phòng. Mô hình này cho phép vừa kết hợp căn hộ để ở và văn phòng làm việc 2 trong 1. Sẽ giúp bạn tiết kiệm chi phí thuê văn phòng và tiết kiệm thời gian di chuyển từ nhà đến chỗ làm.

    Thứ ba, cân nhắc việc nhận thù lao

    Trong hạn mục pháp luật cho phép bạn cũng nên cân nhắc chấp nhận việc nhận thù lao của luật sư bằng các dịch vụ, hàng hóa, cổ phiếu, phần vốn góp của công ty, doanh nghiệp của khách hàng thay vì trả bằng tiền.

    Ngoài ra trong một số trường hợp (được pháp luật cho phép cách tính thù lao như vậy) luật sư có thể chấp nhận đề nghị của khách hàng về việc trả thù lao cho luật sư theo kết quả vụ việc và theo tỷ lệ phần trăm giá trị tài sản tranh chấp nếu công việc may mắn thành công như khách hàng mong đợi thì bạn sẽ có một khoản thu nhập khá lớn trong một khoảng thời gian ngắn

    Thứ tư, đầu tư bất động sản

    Khi đã có một thu nhập cao và ổn định chúng ta dễ dàng vay thêm một nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại. Nếu bạn sử dụng đòn bẩy tài chính này hiệu quả và lựa chọn được các bất động sản đáng tin cậy và có khả năng sinh lời. Việc đầu tư vào bất động sản phù hợp với nghề Luật sư bận rộn của bạn vì bạn đã nắm được nhiều kiến thức cứng về lĩnh vực này.

    Thứ năm, đầu tư bằng việc gửi tiết kiệm.

    Bạn cũng có thể trích một phần trong thu nhập của mình để gửi tiết kiệm kỳ hạn dài tại các ngân hàng thương mại. Việc đầu tư qua gửi tiết kiệm có thể đạt được hai mục đích vừa hưởng lãi suất tiền gửi và luôn có tiền thanh khoản để có thể sử dụng ngay khi có nhu cầu khác cần đến.

    Mặc dù những điều trên là không dễ để chạm tới, nhưng hãy cùng nhau cố gắng làm giàu nào. Chúc mọi người sống tốt với nghề Luật.

    Nguồn bài viết: Thư viện Pháp luật

  • Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng.
    Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định.
    Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hoá cũng là một đại lượng không cố định. Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hoá tùy thuộc vào những nhân tố sau:


    Năng suất lao động

    Khái niệm: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
    Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội nhưng chỉ có năng suất lao động xã hội có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa vì trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt mà theo giá trị xã hội.

    Năng suất lao động lại tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên.
    Ảnh hưởng của năng suất lao động tới lượng giá trị của hàng hóa: năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược lại năng suất lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội. Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hoá xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội.

    Mức độ phức tạp của lao động

    Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hoá. Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp.
    Lao động giản đơn là sự hao phí lao động một cách giản đơn mà bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động lành nghề. Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn.

    Trong nền sản xuất hàng hóa, hoạt động trao đổi diễn ra liên tục, phức tạp, để thuận tiện cho trao đổi, người ta lấy lao động giản đơn trung bình làm đơn vị trao đổi và quy tất cả lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.

    Như vậy, lượng giá trị của hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình.

  • Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, buôn bán.

    Hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị và giá trị sử dụng

    Giá trị sử dụng (GTSD) là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. GTSD của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định, như vậy, GTSD là 1 phạm trù vĩnh viễn. Ví dụ, GTSD của gạo là có thể dùng nấu cơm, nhưng gạo cũng có thể dùng làm nguyên liệu trong ngành rượu bia,…

    Giá trị (GT) của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. GT hàng hóa là biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. GT là 1 phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Nếu GTSD là thuộc tính tự nhiên, thì GT là thuộc tính xã hội của hàng hóa. Ví dụ, trao đổi 1 mét vải = 10 kg thóc.

    Hàng hóa là sự thống nhất của 2 thuộc tính GTSD và GT, nhưng đây là sự thống nhất của 2 mặt đối lập.

  • Việc học giỏi tiếng Anh có thể là điều tốt nhất bạn nên làm để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.

    Điều đó hoàn toàn đúng. Bạn có nghĩ rằng sẽ rất vui khi có thể truy cập những thông tin mà những người khác không thể? Nói chuyện và viết thư tới những người thú vị mà những người khác không thể giao tiếp? Gây ấn tượng với mọi người xung quanh bất cứ khi nào bạn cất tiếng nói? Tạo ra bước nhảy lớn trong sự nghiệp, bỏ xa những người phía sau đến hàng dặm?Vì sao nên học tiếng anh (xem thêm…)

  • Bài tập Luật học tham khảo của môn Quản trị Doanh nghiệp “Sự ra đời của cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 – cơ hội và thách thức đối với các doanh nghệp Việt Nam”

    Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một trong 3 trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN (Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội), được kỳ vọng hình thành vào năm 2015, mở ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…, tận dụng được cơ hội do quá trình hội nhập quốc tế mang lại nhưng cũng có những thách thức không nhỏ mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt khi tham gia AEC. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ hình thành vào cuối năm 2015, dự kiến sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng GDP thêm 14,5% và tăng trưởng việc làm thêm 10,5%.

    Tuy nhiên, đi kèm với những cơ hội thì AEC cũng đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi Việt Nam phải có chiến lược điều chỉnh kịp thời và hiệu quả. Để hiểu rõ hơn về những cơ hội và thách thức đó em xin lựa chọn “Sự ra đời của cộng đồng kinh tế ASEAN 2015- cơ hội và thách thức đối với các doanh nghệp Việt Nam” làm đề tài cho bài tập học kì của mình.

    NỘI DUNG

    I. Cơ sở lý thuyết

    1.Khái niệm doanh nghiệp

    Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội và thông qua hoạt động hữu ích đố để kiếm lời.

    Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Kết hợp điều 4 luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn địn, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

    2. Vai trò của doanh nghiệp nước ta hiện nay

    Trong sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh CNH-HĐH thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các doanh nghiệp (DN) có vị trí , vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân . Nó góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành và của cả nền kinh tế; tạo thêm hàng hoá dịch vụ; tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động ; tăng thu nhập và nâng cao đời sống; tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước và đặc biệt được coi là “chiếc đệm giảm sóc” của thị trường .

    Các DN có những đóng góp quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như tạo nhiều việc làm cho người lao động,có thể sử dụng lao động tại nhà, lao động thường xuyên và lao động thời vụ;hạn chế tệ nạn ,tiêu cực (Do không có việc làm); tăng thu nhập ,nâng cao chất lượng đời sống ;tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước; thu hút nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư; khai thác được tiềm năng sẵn có.

    Xu hướng thanh lọc diễn ra mạnh mẽ từ năm 2013 đến nay đã sàng lọc lại những DN thực sự có chất lượng, không chỉ linh hoạt để tồn tại qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn tìm kiếm thêm cơ hội kinh doanh mới để mở rộng quy mô hoạt động. Mặc dù vẫn chưa thực sự thoát khỏi bối cảnh khó khăn nhưng xét trên khía cạnh quy mô vốn, doanh nghiệp đã tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Điều đó cho thấy môi trường kinh doanh đã được cải thiện, tạo niềm tin cho cộng đồng DN vào môi trường kinh doanh. Đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập khối kinh tế ASEAN đã mở ra cho các doanh nghiệp nước ta những cơ hội lớn lao để phát triển, nhưng bên cạnh đó cũng kéo theo nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết và vượt qua để đạt những lợi ích lớn nhất.

    3. Việt Nam trong tiến trình gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN

    Theo dự định của các nhà lãnh đạo ASEAN, AEC sẽ được thành lập vào năm 2015. Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II nhấn mạnh: Cộng đồng Kinh tế ASEAN là việc thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong “Tầm nhìn ASEAN 2020”, nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lêch kinh tế-xã hội được giảm bớt vào năm 2020. Kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (2004-2010)

    Là thành viên tích cực của ASEAN, Việt Nam đã và đang nỗ lực chuẩn bị gia nhập AEC. Theo cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam trong CEPT-ATIGA, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế về 0% cho tất cả các mặt hàng trao đổi trong ASEAN (ngoại trừ các mặt hàng trong Danh mục loại trừ chung) với lộ trình cho hầu hết các dòng thuế là cho tới năm 2015 và 7% dòng thuế còn lại cho tới năm 2018. Hải quan điện tử là một nội dung quan trọng đang được thực hiện nhằm các mục tiêu trên. Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam về cơ bản đã đạt được các mục tiêu như rút ngắn thời gian thông quan, và giảm các yêu cầu về các giấy tờ kê khai. Việt Nam cũng đang xây dựng chương trình Một cửa quốc gia (Vietnam’s National Single Window – VNSW) nhằm tạo thuận lợi tối đa cho thương mại.

    Bên cạnh các nội dung trên, Việt Nam cũng đang nỗ lực đơn giản hoá hệ thống các giấy phép, giấy chứng nhận bao gồm giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), giấy chứng nhận vệ sinh kiểm dịch, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm. Các nỗ lực này thể hiện qua hệ thống eCoSys (hệ thống xin cấp C/O qua mạng) cũng như việc cấp phép nhập khẩu tự động. Hướng tới tự do hóa dịch vụ, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số Luật liên quan như Luật đầu tư, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp và ban hành nhiều Nghị định, văn bản hướng dẫn các Luật này.

    Để thực hiện trụ cột 2 của AEC, Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới các chính sách để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ thể, điển hình là trong các ngành dịch vụ phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông để phù hợp với các cam kết trong hiệp định khung ASEAN về dịch vụ(AFAS) cũng như GATS. Đối với các ngành ưu tiên gồm y tế, du lịch, logistics, e-ASEAN và hàng không, Việt Nam cũng đã tuân thủ nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia vào các hiệp định liên quan. Hiện tại, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có Luật cạnh tranh khá toàn diện áp dụng cho cả nền kinh tế và có các cơ quan giám sát thực hiện luật này cùng với Indonesia, Singapore và Thái Lan…

    II. Những cơ hội và thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam

    1 Những cơ hội

    Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội lớn trong việc mở rộng thị trường bởi môi trường thương mại hiệu quả, minh bạch và dễ dự đoán, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục hải quan, loại bỏ các rào cản thương mại và dịch vụ. Quy tắc xuất xứ linh hoạt, hiện đại,tính minh bạch hóa cao là một số trong nhiều yếu tố thuận lợi hóa. Ví dụ như, trong ASEAN có chứng nhận xuất xứ hàng hóa, với 60% sản phẩm được sản xuất từ ASEAN thì được chứng nhận là sản phẩm trong ASEAN, do đó sẽ được hưởng lợi thế trong các hiệp định thương mại tự do trong ASEAN, nhất là trong ASEAN với bên ngoài. Đối với Việt Nam, ASEAN là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu về thương mại và đầu tư. ASEAN hiện là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam và là đối tác thương mại cung cấp nguồn hàng hoá lớn thứ 2 cho các doanh nghiệp Việt Nam. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước ASEAN năm 2013 đạt 40,1 tỷ USD(Tổng cục thống kê, 2014). Không những thế, các doanh nghiệp Việt Nam còn có cơ hội tiếp
    cận với thị trường rộng lớn hơn là những đối tác của ASEAN, vì ASEAN có một số hiệp định thương mại tự do với các đối tác như Úc – New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác thông qua các thỏa thuận Thương mại tự do (FTAs) riêng rẽ. Từ đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu.

    Thứ hai, Việt Nam có cơ hội xây dựng được hệ thống doanh nghiệp vững mạnh. Dưới sức ép cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay cũng như tiến trình xây dựng AEC, các quốc gia ASEAN cũng như Việt Nam cần thiết phải có lộ trình và chiến lược phát triển hệ thống doanh nghiệp của mình, đủ sức cạnh tranh tại thị trường trong và ngoài nước.

    Một trong các đặc trưng của AEC là xây dựng một khu vực có sự phát triển kinh tế cân bằng với hai yếu tố: Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và Sáng kiến hội nhập ASEAN nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển ở cấp độ SME cũng như thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam), để cho phép tất cả các quốc gia thành viên phát triển theo một định hướng thống nhất và tăng cường khả năng cạnh tranh của cả khu vực, giúp các nước tận dụng được cơ hội do quá trình hội nhập AEC mang lại. AEC khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) phát triển, và dành nhiều ưu đãi, hỗ trợ cho khu vực này. AEC xác định vai trò của khu vực tư nhân là một bên liên quan trong tiến trình hội nhập ASEAN; coi phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) là trọng tâm, là xương sống của các nền kinh tế ASEAN, đã và đang thiết kế một chương trình trước và sau 2015 nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp các SME hưởng lợi nhiều hơn từ hội nhập ASEAN, trong đó tập trung vào thiết lập môi trường chính sách năng động, khả năng tiếp cận nguồn lực từ tài chính, dịch vụ hỗ trợ…được cải thiện.

    Thứ ba, doanh nghiệp Việt với sức ép hội nhập với cộng động doanh nghiệp ASEAN năng động, hiện đại, phải thích ứng và đẩy mạnh ứng dụng các phương thức quản lý và kinh doanh hiện đại, như thương mại điện tử và Hải quan điện tử (một trong các ưu tiên của AEC) sẽ ngày một năng động hơn, năng lực cạnh tranh và năng suất sẽ được nâng lên. Từ thực tiễn phát triển cho thấy ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) giúp các doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh về chi phí nhân công thấp và tài nguyên thiên nhiên sang cạnh tranh về lợi thế so sánh của hàng hoá và dịch vụ dựa trên giá trị tri thức, có giá trị gia tăng cao. Tham gia AEC cũng sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, tiếp cận với phương thức kinh doanh mới, giúp mở rộng thị trường, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm cung ứng khu vực và toàn cầu; nâng cao năng lực lãnh đạo doanh nghiệp.

    Thứ tư, cắt giảm thuế quan là một thuận lợi giúp nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trong hiệp định ASEAN, các nước cùng xây dựng hải quan một cửa đồng nghĩa với việc sản phẩm của một công ty sản xuất của Việt Nam có thể bán tại Singapore, Thái Lan mà không phải chịu thuế. Cắt giảm thuế quan là một thuận lợi giúp nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam.Thuế suất trong các hiệp định như các hiệp định ASEAN, thuế suất sẽ về từ 0% – 5% đến năm 2018; nếu sản xuất để xuất khẩu thì sẽ không phải chịu thuế suất hoặc thuế suất thấp. Ví dụ thuế suất trong ASEAN sẽ về 0% -5% vào 2015, nếu sản xuất để xuất khẩu thì sẽ không phải chịu thuế suất. Đồng thời, nhập khẩu máy móc cũng không phải chịu thuế suất, điều này sẽ tạo điều kiện cho việc hạ giá thành và tăng chất lượng của sản phẩm cũng như tăng tính cạnh tranh của hàng hóa. Theo Bộ Công Thương (2014), tính đến tháng 8-2014, AEC đã ghi nhận kết quả tích cực về tự do hóa thuế quan mà các nước ASEAN đạt được, quan trọng nhất là việc xóa bỏ thuế nhập khẩu với mức bình quân 89% biểu thuế về mức 0%.

    Thứ năm, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tạo ra nhiều việc làm hơn, thông qua thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh,là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC nhằm thúc đẩy ASEAN thành một khu vực thu hút đầu tư toàn diện và hướng tới tự do hơn trong môi trường đầu tư. Có thể thấy trong những năm qua, vốn FDI vẫn tăng mạnh vào ASEAN, năm 2013 đạt 122,4 tỷ USD trong đó EU và Nhật Bản dẫn đầu, đầu tư nội khối chiếm 17,4% và Trung Quốc chiếm vị trí thứ 4 khoảng 7,02% với giá trị là 8,6 tỷ USD và rõ ràng đối với các nước CLMV có những dấu hiệu tích cực đối với tăng trưởng của các ngành dịch vụ (theo UBQG về hợp tác kinh tế quốc tế, 2014).

    2. Những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam

    2.1 Thể chế thị trường còn nhiều khiếm khuyết là nguyên nhân cản trở sự lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nước

    Việt Nam là nước hội nhập muộn, vẫn là một nền kinh tế chuyển đổi, trình độ phát triển thấp, năng lực thực tế của Việt Nam còn ở mức thấp, khả năng hoạch định và thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, nhiều chính sách được ban hành chưa tuân thủ theo cơ chế thị trường, hiện tượng đầu cơ trục lợi phổ biến dẫn đến sự méo mó của thị trường, khó khăn trong hoạt động quản lý nhà nước và phát triển của doanh nghiệp. Tư duy quản lý và năng lực quản lý còn nhiều hạn chế, tư duy về kinh tế thị trường còn nhiều khiếm khuyết…là cản trở lớn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp.

    Các cơ hội và thách thức luôn chuyển hoá cho nhau, do đó nếu Việt Nam không cải cách mạnh mẽ bên trong cả về Nhà nước, doanh nghiệp và người dân thì khi hội nhập có thể phải gánh chịu những rủi ro rất lớn. Điều này thể hiện rõ sau hơn 7 năm gia nhập WTO, nhập siêu tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các doanh nghiệp trong nước ngày càng yếu thế ngay tại thị trường nội địa.

    2.2. Năng lực cạnh tranh và hội nhập của doanh nghiệp còn yếu

    Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam yếu. Các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đầu tàu cho hệ thống doanh nghiệp cả nước, khu vực kinh tế tư nhân còn bị phân biệt đối xử, chưa đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp các nước trong khu vực. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ được tham gia thị trường thương mại có quy mô lớn, được hưởng nhiều ưu đãi, nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, nếu không khai thác tốt, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mất cơ hội chiếm lĩnh thị trường khu vực, mà ngay thị trường nội địa cũng khó có thể giữ vững. Ví dụ,từ nhiều năm nay, hàng hoá của các nước trong khối ASEAN đã tràn ngập thị trường Việt Nam, như sản phẩm dao gọt trái cây, hay nước tăng lực của Thái Lan…., và sẽ còn tràn vào thị trường Việt Nam nhiều hơn nữa trong thời gian tới. Các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử Việt Nam đối mặt với nguy cơ bị đẩy ra khỏi ngành do hàng hóa nhập khẩu từ Thái Lan và Singapore.Tập đoàn Berli Jucker (BJC) của Thái Lan vừa đạt được thỏa thuận mua lại lĩnh vực kinh doanh sỉ của 5 METRO tại Việt Nam là điển hình của các doanh nghiệp ASEAN chuẩn bị làm ăn lâu dài tại Việt Nam khi AEC chính thức vào 2015.

    Việt Nam chưa có nhiều các doanh nghiệp mang tầm quốc tế và khu vực. Năng lực hội nhập và mở rộng thị trường nước ngoài còn yếu, còn nhiều thụ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa thực sự chủ động chuyển mình theo yêu cầu đòi hỏi của hội nhập kinh tế, đây sẽ là bất lợi rất lớn trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các nhiều các tập đoàn lớn trên thế giới đầu tư vào Việt Nam. Nếu không có chiến lược phát triển hệ thống doanh nghiệp từ cả phía chính phủ và doanh nghiệp, chiến lược tìm hiểu và mở rộng thị trường nước ngoài bài bản thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn sẽ chỉ là doanh nghiệp đi gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài, phụ thuộc nhiều vào biến động của kinh tế thế giới và trong nước.

    2.3. Chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong nước còn thấp

    Khi AEC trở thành hiện thực vào 2015, sẽ cho phép tự do di chuyển lao động có tay nghề, tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia và lao động có tay nghề của ASEAN tham gia vào hoạt động liên quan đến thương mại và đầu tư qua biên giới. Tám ngành nghề lao động dự kiến trong AEC được tự do di chuyển qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương, gồm: kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, điều dưỡng, kỹ sư, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch. Điều này cho thấy yêu cầu về chất lượng nhân lực cao, nhân lực phải được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.

    Sự chênh lệch về thu nhập lớn giữa các quốc gia ASEAN sẽ là nguyên nhân tạo nên sự di chuyển lao động giữa các quốc gia giàu, nghèo khi AEC trở thành hiện thực vào 2015. Do đó đây sẽ là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nếu không có chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lựctrong bối cảnh các nước ASEAN đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam càng tăng. Đồng thời các doanh nghiệp Việt Nam cũng đầu tư vào các nước ASEAN trong thời gian tới sẽ là áp lực đối với lực lượng lao động của các doanh nghiệp Việt Nam, với thực trạng hiện tại là thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động có tay nghề và kỹ năng, năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khi tham gia AEC, sẽ có hiện tượng chảy máu chất xám, tự do di chuyển lao động. Do đó, ngoài việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải đi kèm các giải pháp tránh chảy máu chất xám, chính sách lao động – việc làm và đãi ngộ hợp lý là nội dung trọng tâm các doanh nghiệp Việt Nam cần tính đến thời gian tới.

    2.4 Các doanh nghiệp nhỏ và nhiều ngành của nền kinh tế sẽ chịu tác động xấu

    Tham gia AEC sẽ tạo ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam hưởng lợi ích từ việc áp dụng các thuận lợi hóa thương mại tự do. Tuy nhiên, hiện đang có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển của các nước Campuchia – Lào – Myanmar – Việt Nam (CLMV) so với các nước ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), thể hiện ở cả quy mô vốn của nền kinh tế, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề lao động… Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, sản phẩm, dịch vụ, đầu tư của các doanh nghiệp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm lâu năm và có ưu thế về dịch vụ trên phạm vi thế giới tại các nước ASEAN khác, như Singapore, Malaysia, Indonesia…

    Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chưa có nhiều mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn. Các mặt hàng nông, lâm, thủy sản là thế mạnh của Việt Nam nhưng đang gặp phải những khó khăn về diện tích canh tác ngày càng thu hẹp do xu hướng đô thị hóa, khả năng khai thác, đánh bắt, tiếp thu công nghệ tiên tiến, hiện đại đáp ứng yêu cầu chất lượng của thế giới còn rất hạn chế. Những lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng chế biến như tỷ lệ sử dụng lao động cao, giá lao động rẻ đang phải đối mặt sự cạnh tranh gay gắt từ các nước trong khu vực. Việc phát triển các mặt hàng mới còn gặp nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ. Nếu không nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh có thể khiến cho doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng bị đào thải dưới áp lực cạnh tranh thế giới, các hiệp định Việt Nam ký kết có thể đem lại lợi ích chủ yếu cho doanh nghiệp nước ngoài thay vì doanh nghiệp trong nước.

    Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn bộc lộ rất nhiều hạn chế. Các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như da giày, may mặc dường như được lợi thế về giá nhưng thực chất các sản phẩm đầu vào như sợi, cúc áo… lại nhập từ các quốc gia khác như Trung Quốc, Hàn Quốc. Nguyên nhân do các sản phẩm hỗ trợ của Việt Nam nhìn chung còn nghèo nàn về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đơn điệu, giá lại cao hơn nhiều sản phẩm cùng loại nhập khẩu. Trong khi đó, các sản phẩm hỗ trợ của Thái Lan, Malaixia… tuy chất lượng cũng không phải là cao hơn sản phẩm cùng loại của Việt Nam, nhưng hàng của họ giá rất rẻ, nhiều chủng loại, mẫu mã đa dạng; thêm vào đó, các quốc gia này chiến lược mở rộng thị trường bài bản, chuyên nghiệp hơn rất nhiều so với Việt Nam, đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam thời gian tới.

    Các doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với thách thức không nhỏ khi AEC có hiệu lực. Trong đó đáng chú ý là sức ép từ hàng hóa nhập khẩu, cạnh tranh về dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN,một số ngành sau có thể chịu chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực trong thời gian tới, như:

    Ngành công nghiệp ô- tô Các doanh nghiệp ngành này chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài khi Việt Nam mở cửa thị trường. Hơn nữa, công nghiệp phụ trợ đối với ngành công nghiệp ô tô hiện nay ở Việt Nam rất kém, qui mô thị trường nhỏ là những điểm bất lợi trong thu hút đầu tư vào ngành này. Thời gian tới khi thuế suất nhập khẩu ô tô có xuất xứ từ ASEAN ngày càng giảm, ngành ô tô trong nước sẽ còn khó khăn hơn nữa nếu ngành sản xuất ô tô của Việt Nam không tạo được sự khác biệt.

    Các sản phẩm nông nghiệp,chăn nuôi

    Giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước vào Việt Nam gia tăng, với giá cả cạnh tranh hơn, hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóa liên quan tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn. Hiện tại, thức ăn chăn nuôi và sản phẩm đầu ra chủ yếu bị khống chế bởi các doanh nghiệp nươc ngoài, trong đó có doanh nghiệp các nước ASEAN; thời gian tới sẽ báo động là giai đoạn hết sức khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong ngành này. Theo (Rau quả Thái Lan đánh bật Trung Quốc, 2014)cho biết với mặt hàng rau quả, kim ngạch nhập khẩu rau quả từ Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2014 đạt gần 106 triệu USD, chiếm 34,2% thị phần. Trong khi đó, Trung Quốc chỉ chiếm được 23,1%. Như vậy, kim ngạch nhập khẩu rau quả từ Thái Lan lần đầu tiên đã vượt Trung Quốc và trở thành nước dẫn đầu trong việc xuất khẩu rau quả vào Việt Nam ….cho thấy đây sẽ là lĩnh vực rất khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai, không chỉ từ Thái Lan mà còn từ các nước ASEAN khác.

    Ngành dịch vụ tài chính – ngân hàng Sẽ có thách thức rất lớn đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng của Việt Nam. Các nước có hệ thống tài chính – ngân hàng phát triển như ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan)đều mạnh hơn Việt Nam về mọi mặt. Hơn nữa, thời gian qua, các ngân hàng của Singapore và Malaysia đang đầu tư rất lớn để có thể đi trước các đối thủ cạnh tranh khác và chuẩn bị tốt hơn cho AEC. Việt Nam không những chịu sức ép của AEC trong ngành tài chính- ngân hàng mà còn chịu nhiều sức ép hơn nữa từ TPP và các FTA đã ký kết và đang đàm phán. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ rất khó khăn nếu không tái cấu trúc, nâng cao khả năng cạnh tranh càng sớm càng tốt.

    2.5 Các doanh nghiệp chưa chủ động phối hợp với Chính phủ hoạch định chính sách thương mại quốc tế, nắm bắt lộ trình gia nhập AEC còn thấp

    Hoạch định chính sách thương mại quốc tế nói chung và gia nhập AEC nói riêng gắn liền với quyền lợi của các doanh nghiệp trong nước và tiên quyết các doanh nghiệp cần phối kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạch định chính sách, phù hợp với thực trạng, mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai nhằm thu được kết quả tốt đẹp do hội nhập kinh tế mang lại.

    Tuy nhiên, thời gian qua đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp trong hoạt động này còn hạn chế,Các doanh nghiệp còn thụ động trong việc tìm hiểu, tiếp cận các thông tin mở cửa thị trường, các cam kết của Việt Nam với đối tác thương mại. Cụ thể như các doanh nghiệp chưa hiểu hoặc chưa quan tâm đến các ưu đãi thuế quan, dẫn đến tự đánh mất lợi thế cạnh tranh về thuế và làm giảm khả năng cạnh tranh hàng hóa trên thị trường quốc tế; một số doanh nghiệp dù có hiểu biết về quy tắc xuất xứ nhưng khi áp dụng vào thực tế còn yếu, doanh nghiệp cũng chưa cập nhật đầy đủ về cam kết cắt giảm thuế hàng năm của WTO của các hiệp định thương mại tự do (FTA) và Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA).

    KẾT LUẬN

    Có thể nói AEC đến và đặt Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á khác trước những cơ hội, thách thức to lớn. Thực tế này đang đòi hỏi chính phủ, doanh nghiệp và người dân Việt Nam phải có sự quan tâm, chuẩn bị kỹ lưỡng để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong quá trình tham gia AEC. Trong đó, các yếu tố then chốt mà Việt Nam không thể bỏ qua là cải cách thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam cần thiết kế một kế hoạch tổng thể hội nhập để cam kết, lộ trình làm sao cho hài hòa.

    Quan trọng hơn, cộng đồng DN phải có lộ trình để thích nghi, thay đổi phù hợp bởi nếu rào cản thuế quan được gỡ bỏ hoàn toàn và mang lại lợi ích kinh tế lớn thì quy tắc xuất xứ nổi lên như một rào cản mới. Để được hưởng các ưu đãi trên thì hàng hóa các nước trong khối ASEAN phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ theo tỷ lệ được quy định với từng mặt hàng. Để có thể thích nghi được vào “sân chơi chung” AEC, Việt Nam sẽ còn rất nhiều việc phải làm ngay từ những tháng đầu năm 2015.

    Việt Nam cần đẩy mạnh tuyên truyền để DN và người lao động tích cực hơn trong việc chuẩn bị hội nhập AEC, ngoài ra nâng cao năng suất lao động cũng là một yêu cầu cần phải chuẩn bị để hội nhập hiệu quả AEC. Để tồn tại, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải liên kết với nhau, tạo những cơ hội đầu tư để cùng vượt qua thử thách cho tất cả doanh nghiệp trong nước nhằm tăng sức mạnh cạnh tranh.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Quản trị doanh nghiệp – PGS.TS Ngô Kim Thanh chủ biên- nxb ĐH Kinh tế quốc dân- năm 2013

    2. Ban Thư ký ASEAN (2012), “Cộng đồng kinh tế ASEAN: Sổ tay thông tin cho doanh nghiệp”, Hà Nội.

    3. Bộ Công Thương (2014), Báo cáo kết quả Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 46, Hà Nội.

    4. Bộ Công Thương (2013), Phổ biến các Hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam tham gia, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội ngày 4/9/2013.

    5. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2010), Lộ trình xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN 2009-2015, Hà Nội.

    6. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2014), Tạp chí hội nhập, số tháng 7+8, Hà Nội.

    7. Trang wep http://cafef.vn/nong-thuy-san/rau-qua-thai-lan-danh-bat-trung-quoc

    8. Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005

    Nguồn bài viết: http://www.dhluathn.com/2016/01/su-ra-oi-cua-cong-ong-kinh-te-asean.html

  • Trước khi tham khảo bài viết bên dưới bạn nên xem thêm Phiếu điều tra (Tìm hiểu quan điểm của sinh viên k38 Đại học Luật Hà Nội về vấn đề hôn nhân đồng giới ở nước ta hiện nay) để hiểu rõ hơn.

    I.PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do lựa chọn đề tài

    Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật không thừa nhận cũng như không cho phép có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lý do giới tính hay xu hướng tình dục của cá nhân. Tuy nhiên, với sự ra đời của Luật hôn nhân gia đình năm 2000, pháp luật nước ta chỉ thừa nhận mối quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ mà không thừa nhận quyền kết hôn của người đồng tính (hôn nhân đồng giới). Song thực trạng mối quan hệ đồng giới ở nước ta cho thấy, kết hôn là một nhu cầu có thật và hoàn toàn chính đáng của những người đồng tính. Mặc dù không được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế nhiều người đồng tính vẫn đang chung sống với nhau như một gia đình, từ đó phát sinh các quan hệ về nhân thân, tài sản nhưng chưa có cơ chế pháp lý để điều chỉnh. Chính vì vậy, nhóm 1 xin lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu quan điểm của sinh viên k38 Đại học Luật Hà Nội về vấn đề hôn nhân đồng giới ở nước ta hiện nay

    hôn nhân đồng tính (xem thêm…)