Đề cương ôn Triết học lớp Luật

Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lê nin và rút ra ý nghĩa của nó?
1.1. Các quan niệm về vật chất trong triết học trước C. Mác
* Thời kì cổ đại
– Tương ứng với thời kì này là chế độ chiếm hữu nô lệ. Vào thời kì này, trình độ nhận thức của con người còn thấp, hiểu biết có hạn nên con người thường đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của nó.
– Trong triết học Ấn Độ, người ta đồng nghĩa vật chất với những gì họ cho là con người cần nhất, như: nước, lửa, khí, đất.
– Ở Trung Quốc, trường phái Âm dương cho rằng âm và dương là vật chất; còn trường phái Ngũ Hành cho rằng vật chất chính là 5 yếu tố: kim, thủy, mộc, hỏa, thổ.
– Ở Hy Lạp, Talet nói vật chất là nước, Hê ra clit nói vật chất là lửa. Và đỉnh cao của tư tưởng duy vật cổ đại về vật chất là thuyết nguyên tử của  Đê mô crit. Ông cho rằng vật chất là nguyên tử. Ông định nghĩa nguyên tử là đơn vị (hạt) nhỏ nhất, không thể xâm nhập được, không cảm giác được. Quan niệm vật chất là nguyên tử đã trở thành quan niệm truyền thống trong nhân loại.
* Thời kỳ trung đại
– Tương ứng với thời kỳ này là chế độ phong kiến.
– Ở thời kỳ này, quan niệm vật chất bị biến mất vì đây là thời kỳ của tôn giáo với những tư tưởng hoang đường về con người và thế giới. Thơi kỳ thần quyền thắng vương quyền. Triết học lúc này trỏe thành tôi tớ cho thần học (đêm trường trung cổ)
* Thế kỷ 17, 18
Loài người lúc này bước vào thời kỳ Phục Hưng, thời kỳ Ánh Sáng: khôi phục lại quan niệm duy vật thời cổ đại, mở ra thời kỳ ánh sáng của khoa học.
– Thời kỳ này, khoa học đã được trỗi dậy và đi sâu nghiên cứu thế giới vi mô, các ngành khoa học cụ thể được ra đời dẫn đến quan điểm siêu hình máy móc về vật chất. Loài người đã đồng nhất các thuộc tính của vật chất là vật chất.
– VD: người ta đồng nhất vật chất với khối lượng, trọng lượng, độ dài, tốc độ,….
* Cuối thể kỷ 19, đầu thế kỷ 20
– Trong vật lý học có những phát minh mang tính bước ngoặt.
+ 1895: phát hiện ra tia phóng xạ
+ 1896: phát hiện ra tia X (Rownghen)
+ 1897: phát hiện ra điện tử
+1901 phát hiện ra thể tích của điện tử tăng khi gia tốc tăng
– Những phát minh này đã phủ nhận quan niệm truyền thống xưa nay rằng vật chất là nguyên tử, bởi vì điện tử là một phần của nguyên tử.
– Lợi dụng điều này, chủ nghĩa duy tâm, nhà thờ, giáo hội đã tấn công chủ nghĩa duy vật. Vật chất không phải là nguyên tử nên cơ sở của chủ nghĩa duy vật bị phá vỡ. Vật lý học rơi vào tình trạng khủng hoảng về phương pháp luận. Các nhà triết học duy vật bị lung lay, thậm chí còn chuyển sang chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy vật rơi vào bế tắc, điều này dẫn đến sự bế tắc của khoa học.
– Đứng trước tình hình đó, V. I. Lê nin đã đưa ra định nghĩa về vật chất có tính kinh điển nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, chống chủ nghĩa duy tâm, mở đường cho khoa học phát triển.
1.2. Quan điểm của C. Mác về vật chất
Lê nin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ra chép lại, chụp lại. phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Trong định nghĩa này, Lê nin chỉ rõ:
+ “Vật chất là một phạm trù triết học”. Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày.
+ Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Đó chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”. “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (tính thứ hai). Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức.
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh”. Điều này nói lên “thực tại khách quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạng cụ thể, bằng “cảm giác” (ý thức) con người có thể nhận thức được. Và “thực tại khách quan” chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác”.
Định nghĩa của Lê nin về vật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.3. Ý nghĩa của định nghĩa
Định nghĩa vật chất của Lê nin có ý nghĩa:
– Khi khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, con người có khả năng nhận thức thế giới, định nghĩa đã giải quyết được một cách triệt để vấn đề cơ bản của triết học, qua đó chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất.
– Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học tư sản hiện đại, Do đó, định nghĩa này cũng giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.
– Khi chỉ ra thuộc tính cơ bản của vật chất là thực tại khách quan, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác, định nghĩa đã cung cấp một cơ sở khoa học để nhận thức vật chất trong thế giới tự nhiên và xã hội. Nó còn là cơ sở, là phương pháp luận để nghiên cứu vật chất trong lĩnh vực xã hội. Đó là tồn tại xã hội.
– Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng nên đã có rác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu ngheien cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại. Loài người sẽ tìm ra nhiều dạng lạ lùng khác nhau của vật chất nhưng định nghĩa về vật chất của Lê nin vẫn giữ nguyên giá trị.
– Định nghĩa về vật chất của Lê nin đã khẳng đinh: trong thế giới của chúng ta không có gì khác ngoài vật chất hoặc do vật chất sinh ra.

Câu 2: Trình bày nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức. Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn
2.1. Nguồn gốc của ý thức
Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của ý thức
– Quan điểm duy tâm cho rằng: Ý thức có nguồn gốc thần thánh (VD: Chúa được sinh ra vào thứ Bảy, được tạo ra từ đất sét)
– Ngày nay, khi khoa học phát triển, người ta cho rằng loài người là do người ngoài hành tinh sinh ra.
– Quan điểm của Mác – Lê nin khẳng định: ý thức gồm 2 nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
* Nguồn gốc tự nhiên
– Muốn hiểu được nguồn gốc tự nhiên của ý thức, chứng ta phải hiểu được thuộc tính phản ánh của vật chất.
+ Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện thuộc tính kết cấu vật chất này trong kết cấu vật chất khác khi hai kết cấu vật chất đó tương tác lẫn nhau.
VD: Khi cho 2 vật thể A, B va chạm với nhau thì cả hai đều sẽ bị tổn thương, biến dạng hoặc phân hủy ( cỏ may bám vào quần).
+ Cùng với sự tiến hóa của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh cũng có trình độ cao thấp khác nhau, kết cấu vật chất càng phát triển thì năng lực phản ánh càng cao. Trình đọ thấp nhất của phản ánh là ở giới thực vật. Đó là tính cảm ứng của thực vật.
VD: hoa hướng dương luôn xoay về hướng có ánh nắng mặt trơi, ngọn cây luôn vươn về nơi có ánh sáng.
Tính phản ứng ở động vật bậc thấp: khi môi trường tác động lên cơ thể động vật thì chúng phản ứng lại
VD: mùa đông chim bay về phương nam…
Trình độ phản ánh tâm lý ở động vật bậc cao (động vật đã có bán cầu đại não). Động vật này đã xuất hiện cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Trình độ phản ánh ý thức ở bộ não người. Đây là trình độ phản ánh cao nhất và chỉ có ở con người. Não người là cơ quan nhục thể, nơi sinh ra ý thức, là kết quả của quá trình phát triển hết sức lâu dài của vật chất. Não người có trọng lượng bằng 1/45 trọng lượng cơ thể. Nó có khoảng 14 – 17 tỉ tế bào thần kinh (tế bào thần kinh điều khiển mọi hoạt động của con người). Não bị tổn thương, hoạt động của ý thức sẽ bị hỗn loại. Số lượng tế bào thần kinh tham gia điều khiển hoạt động của cơ thể người là không đáng kế (khoảng 1000 tế bào). Muốn thông minh phải huy động được càng nhiều tế bào tham gia càng tốt.
– Nguồn gốc tự nhiên của ý thức bao gồm não người và sự phản ánh của thế giới xung quanh.
+ Bộ não người là cơ quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của cộ óc con người diễn ra trên cơ sở sinh lý thần kinh của bộ óc người. Nghĩa là ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não con người, do đó, khi bọ não bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc.
+ Thế giới khách quan: Ý thức được hình thành nhờ có sự tác động của thế giới khách quan lên bộ não người. Thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan, đã tác động lên bỗ não con người, hình thành nên ý thức.
* Nguồn gốc xã hội
Nếu chỉ có nguồn gốc tự nhiên thì ý thức chưa thể xuất hiện, vì các loài động vật cũng bị tác động bởi thế giới xung quanh như con ngời. Cùng với nguồn gốc tự nhiên, ý thức còn có nguồn gốc xã hội. Đó là lao động và ngôn ngữ.
– Lao động là hoạt động đặc thù của con ngwoif, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác.
+ Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ lao động và sử dụng những công cụ đó để tạo ra của cải, vật chất.
+ Lao động của con người là hành động có mục đích – tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thảo mãn nhu cầu của con người.
+ Trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trưu tượng của con người cũng ngày càng phát triển.
– Lao động sản xuất cong là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ:
+ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu vầu cần trao đổi kinh nghiệm. Từ đó, nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động.
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quá sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ. Chính vì vậy, Ăng ghen coi lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” biến bọ não con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý  thức.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp qan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và thực tiễn xã hội, Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não người, thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.

2.1. Bản chất của ý thức
CNDVBC cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất.
– Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm.
– Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan cũng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới, bởi
+ Phản ánh ý thức bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định, Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu được cái được phản ánh, Trên cơ sở đó, hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơ nhiện thực khách quan. Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh.
+ Phản ánh ý thức bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Là sản phẩ của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức có tính xã hội.
Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy tâm, coi ý thức, tư duy là cái có  trước, dinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự pahnr ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất.
2.3. Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn.
MB: CNDVBC khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất. Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức; song, ý thức có thể tác động ngược trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình.
– Phải xuất phát từ thực tế khách quan. Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải tôn trọng thực tiễn khách quan, tuân theo các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan để đề ra các chủ trương, đường lối. Đồng thời, phải dựa trên cơ sở thực tế khách quan để kiểm nghiệm, đánh giá các chủ trương, đường lối đó. Nói cách khác, chúng ta phải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
– Phát huy tính năng động chủ quan. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng và biết làm chủ tri thức khoa học, truyền bá tri thức đó vào trong quần chúng nhân dân để nó dẫn dắt quần chúng. Đồng thời, đòi hỏi mỗi người phải biết tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, cùng có nhân sinh quan tiến bộ và nâng cao ý chí, nghị lực trong hoạt động thực tiễn.
– Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy luật khách quan của đối tượng. Trên cơ sở ấy, con người xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp. Tiếp theo, con người vói ý thức của mình xác định các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt động thực tiễn. Cuối cùng, bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra.
– Nhận thức rõ vai trò tích cực của ý thức, của nhân tố chủ quan, Đảng ta đã xác định, trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay, phải “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, đồng thời phải “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài chí của người Việt Nam” (Văn kiện Đại hội Đảng VIII).
– Phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, tức là khắc phục tình trạng không tôn trọng quy luật khách quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy tình cảm làm điểm xuât phát cho chiến lược, sách lược, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách…
– Phải phòng, chống và khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thụ động và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường tri thức khoa học, coi thường lý luận trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

Câu 3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất – ý thức và ý nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay / bản thân mỗi người.
3.1. Trình bày vai trò của vật chất đối với ý thức
Giải quyết nguyên lý mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.
– Vật chất quyết định ý thức, điều đó được thể hiện ở chỗ:
+ Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất là nguồn gốc của ý thức, giữ vai trò quyết định đối với ý thức.
VD: Về thế giới quan cũng như trình tự về mặt thời gian, yếu tố vật chất xuất hiện trước yếu tố ý thức. Cụ thể, phải có yếu tố vật chất mới sinh ra loài người có ý thức.
+ Trong đời sống hiện thực, nhân tố vật chất có trước nhân tố tinh thần.
+ Trong đời sống xã hội của con người, kinh tế quyết định chính trị, đời sống vật chất quyết đinh đời sống tinh thần.
VD: các nước nhỏ, yếu về kinh tế rất sợ các cường quốc. Kinh tế Việt Nam có khởi sắc thì vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế mới được nâng cao.
“có thực mới vực được đạo”
– Ý thức có tính độc lập tương đối và có sự tác động ngược trở lại vật chất. Sự tác động này theo hai hướng: tích cực và tiêu cực. Có nghĩa, nếu ý thức năng động, sáng tạo, nhận thức đúng quy luật khách quan, hành động đúng thực tiễn thì sẽ thúc đẩy sự phát triển. Ngược lại, nếu không năng động sáng tạo, rơi vào tình trạng chủ quan duy ý chí sữ kìm hãm sự phát triển. Vì nói đến vai trò của ý thức đối với vật chất  là nói đến vai trò của con người trong nhận thức và trong thực tiễn. Điều đố lý giải vì sao, cùng một xuất phát điểm nhưng người tiến về phía trước, kẻ lại lùi lại phía sau.
VD: Sau năm 1975, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều bị tàn phá bởi chiến tranh và mới giành lại độc lập, nhưng hiện nay, kinh tế Việt Namthua xa Hàn Quốc.
Sau năm 1975, người dân Thái Lan rất ngưỡng mộ Sài Gòn – “hòn ngọc Viễn Đông”. Nhưng chỉ sau 10 năm, Việt Namsai lầm về đường lối kinh tế xã hội, còn Thái Lan nhanh chóng thể chế hóa theo đường lối kinh tế thị trường nên họ đã bứt lên nhanh chóng và vượt qua Việt Nam.
– Trong đời sống hiện thực, với những điều kiện cụ thể, không gian và thời gian xác định, nhân tố ý thức có thể là nhân tố quyết định chứ không phải là vật chất.
VD: Trong tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại tộc của dân tộc ta, chúng ta thường yếu hơn kẻ thù về tiềm năng vật chất, binh lực nhưng cuối cùng, chúng ta là người chiến thắng. Vì ta có sức mạnh tinh thần đoàn kết dân tộc, có lòng yêu nước nồng nàn và có nghệ thuật đánh giặc rất tài tình (lấy nhu thắng cương, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh).
– Tuy nhiên, ý thức chỉ giữ vai trò quyết định trong những điều kiện không gian, thời gian nhất định. Vượt ra khỏi giới hạn đó, vai trò của ý thức sẽ bị mất đi.
VD: người ta chỉ có thể chịu đựng hoàn cảnh khó khăn trong một thời gian nhất định, còn nếu hoàn cảnh khó khăn kéo dài thì sẽ không chịu được.
Trong một khu phố, nếu tất cả mọi người cùng nghèo, người ta vẫn sống vui vẻ được, nhưng nếu chỉ cần một nhà giàu lên, cả khu phố đó sẽ có sự đố kỵ và sẽ tan rã.
– Như vậy, ngay cả khi yếu tố ý thức trở thành yếu tố quyết định thì đã bị nhân tố vật chất quy định. Bởi tự bản thân ý thức không làm thay đổi được gì trong hiện thực nếu không có vật chất tác động, làm nền tảng
3.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
– Khi thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức thf trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan. Mọi hành động đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải căn cứ vào những điều kiện vật chất và năng lực vật chất hiện có khi đề ra các quyết sách; không được xuất phát từ ý chí, nguyện vọng cá nhân.
VD: Trước thời kỳ đổi mới, đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta đã không xuất phát từ thực tế khách quan, kết quả đưa đến tình trạng khủng hoảng về mọi mặt. Và hiện nay, căn bệnh đó vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn.
– Khi khẳng định ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất thì trong cuộc sống và trong kiến tạo các quyết định, thi hành các quyết định phải luôn luôn phát huy tính năng động của ý thức bằng cách không ngừng trau dồi nhận thức lý luận và chuyên môn, gắn bó với thực tiễn, luôn luôn năng động.
– Đối với nước ta: Nếu khi lien hệ với Việt Nam, trong mọi đường lối chính sách, Đảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn khách quan, tôn trọng các quy luật khách quan. Vì vậy, đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhất là trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, thời kỳ trước đổi mới, nước ta đã vấp phải những sai lầm chủ quan trong hoạch định chiến lược kinh tế – xã hội. Hạn chế đó đang đượ từng bước khắc phục. Đảng ta khẳng định: mọi đường lối, chủ trương phát triển đất nước đều lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng lý luận. Đồng thời, xuất phát từ hiện thực của đất nước, quốc tế và thời đại.

Câu 4. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
* Phép biện chứng là gì?
Phép biện chứng chẳng qua là khoa học về các quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng được thể hiện cô đọng trong hai nguyên lý. Đó là “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng” và “nguyên lý về sự phát triển”.
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
a, Nội dung của nguyên lý
– Các sự vật, hiện tượng trong thế giới có mối liên hệ với nhat không? Nếu có thì tính chất của các mối liên hệ đó như thế nào và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này như thế nào?
– Phép siêu hình cho rằng: các sự vật, hiện tượng trong TGKQ không có liên hệ gì với nhau, chúng tồn tại một cách biệt lập nhau. Do đó, không có sự tác động qua lại, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau. Đây là một quan niệm sai lầm, không phản ánh đúng bản chất của thế giới.
VD: Trong tự nhiên: Giới tự nhiên là một thể thống nhất, nó phụ thuộc lẫn nhau. Nếu một loài sinh vật tuyệt chủng thì mắt xích của sự sống trên thế giới sẽ bị tổn thương.
Trong xã hội, các sự kiện kinh tế – chính trị ở một quốc gia nào đó không chỉ ảnh hưởng đến quốc gia đó mà còn lan tỏa khắp thế giới.
Về tư duy, các truyền thống, phong tục tập quán ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong cộng đồng. Hay như ông cho có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
– Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như cá bộ phận của chúng không tồn tại biệt lập với nhau mà có sự liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù mối liên hệ phổ biến để khái quát thực trạng trên.
– Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới. Trên cơ sở đó, phép biện chứng duy vật xem xét thế giơi như một chỉnh thể. Theo đó, các sự vật, hiện tượng dù có phong phú, đa dạng thế nào thì cũng chỉ là những dạng cụ thể của một thế giới duy nhất và thống nhất – thế giới vật chất.
– Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bội phận, yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong những mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chủ yếu được bộc lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng. Để thấy rõ hơn nội dung này, hãy xem xét các khía cạnh sau:
– Về sự tồn tại của các mối liên hệ:
+ Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở ý thức, cảm giác của con người.
+ Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau.
+ Những người theo quan điểm biện chứng duy vật cho rằng:  các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định.
– Về vai trò của các mối liên hệ:
+ Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau.
+ Do sự tồn tại cũng như bản chất của sự vật hiện tượng cũng chỉ bộc lộ qua các mối quan hệ, cho nên, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thưc, chúng ta không được tuyệt đối hóa, hay xem nhẹ một mối quan hệ nào, cũng không nên tách rời các mối qaun hệ với nhau mà phải tính đến tổng thể các mối liên hệ trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
b,  Tính chất của mối liên hệ:
Gồm 3 tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.
– Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức con người.
– Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác.
– Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau. Phát triển có thể từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
VD: sự học tập phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; sự sống phát triển từ đơn giản (đơn bào) đến phức tạp (động vật)
2. Nguyên lý về sự phát triển
a. Nội dung nguyên lý:
Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như các bộ phận của chúng không tồn tại một cách tĩnh tại, bất biến mà luôn vận động, chuyển hóa lẫn nhau, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ. Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù phát triển để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng.
– Cơ sở của nguyên lý này là quan niệm về vật chất vận động, theo đó, vật chất luôn luôn vận động, không có vận động nào lại không phải là vận động của vật chất; vận động là thuộc tính của sự vật, là phương thức tồn tại của vật chất.
– Nội dung cơ bản của nguyên lý về sự phát triển được thể hiện ở những điểm sau:
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động, phát triển, trong đó phát triển được xem như trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, hoàn thiện hơn. Phương thức của sự phát triển là sự thay đổi về chất trên cơ sở những thay đổi về lượng. Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là những mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng, khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc”
– Để hiểu rõ nội dung này, chúng ta hãy xem xét cá khía cạnh sau:
+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới.
+ Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lập lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn.
+ Quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển, họ cho rằng mọi sự vật, hiện tượng từ lúc sinh ra cho đến lức mất đi không hề phát triển
b, Tính chất của sự phát triển :
Ba tính chất cơ bản : Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
– Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Bởi vì, theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn phát triển.
– Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan.
– Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú. Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau.
3. Ý nghĩa phương pháp luận :
– Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần có quan điểm toàn diện. Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thân sự vật với sự vật và hiện tượng khác.
Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động và phát triển của sự vật.
– Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong TGKQ là vận động đi lên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có những quan đểm phát triển. Quam điểm phát triển đòi hỏi: phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật.
Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao.

Câu 5. Nội dung và ý nghĩa của quy luật từ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại.
Sự vật nào cũng bao hàm hai mặt: chất và lượng. Hai mặt này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành quy luật phổ biến của sự phát triển. Đó là quy luật từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
1. Khái niệm chất và khái niệm lượng.
– Chất:
+ Là phạm trù dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vạt, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác.
+ Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác. Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật,…
VD: Nước nguyên chất là chất lỏng nên có khả năng hòa tan, ăn mòn kim loại, không dẫn điện, không màu, không mùi, không vị, nhiệt độ sôi là 1000C. Tập hợp tất cả những thuộc tính đó chính là nước nguyên chất.
Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó. Muốn nhận thức đúng đắn về những thuộc tính của sự vật, chúng ta phải thông qua sự tác động qua lại của sự vật đó với các sự vật khác.
+ Chất có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản. Thuộc tính cơ bản quyết định chất của sự vật. Do vậy, nếu thuộc tính cơ bản của sự vật còn tồn tại thì chất còn tồn tại; nếu thuộc tính cơ bản của sự vật không còn thì chất cũng không còn nữa.
VD: thuộc tính cơ bản của nước nguyên chất là không màu, không mùi, không vị dùng để phân biệt với các chất khác.
Tuy nhiên, ranh giới giữa thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ có tính tương đối. Bởi, cũng thuộc tính ấy trong quan hệ này là thuộc tính cơ bản nhưng trong quan hệ khác nó lại không phải là thuộc tính cơ bản.
VD: Cốc nước thủy tinh, trong quan hệ dùng để uống nước thì thuộc tính có đáy cốc là thuộc tính cơ bản, còn những thuộc tính khác như trọng lượng, chiều cao, màu sắc không phải là thuộc tính cơ bản. Nhưng khi dùng để chặn giấy thì thuộc tính trọng lượng lại là thuộc tính cơ bản.
Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính; mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của sự vật. Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất. Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau. Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật.
– Lượng:
+ Khái niệm: Lượng dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật.
Lượng là cái vốn có của sự vật, song lượng chưa làm cho sự vật là nó, chưa làm cho nó khác với những cái khác. Lượng tồn tại cùng với chất của sự vật và cũng có tính khách quan như chất của sự vật.
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp,… trong thực tế, lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể (vd: vận tốc ánh sáng là 300000km/s). Bên cạnh đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như ý thức trách nhiệm cao hay thấp,.. Khi đó, ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa.
– Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối. Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại (vd: số học sinh giỏi trong lớp- lượng- lại biểu thị chất lượng học tập của lớp đó-chất)
2. Quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất.
– Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất:
+ Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa mặt chất và mặt lượng. Chúng tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự vật, quy định về lượng không bao giờ tồn tại, nếu không có tính quy định về chất và ngược lại.
+ Sự thay đổi về lượng và về chất của sự vật diễn ra cùng với sự vận động và phát triển của sự vật. Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất và ngược lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng với thay đổi về lượng của nó.
Để thấy rõ phương thức thay đổi này, chúng ta cần làm rõ quan hệ biện chững giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất qua các phạm trù: độ, điểm nút, bước nhảy.
+ Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy. Độ là mối liên hệ giữa lượng và chất của sự vật, ở đó thể hiện sự thống nhất giữa lượng và chất của sự vật.
VD: chỉ khi bản án, quyết định của TA có hiệu lực thi hành thì một người mới được coi là tội phạm.
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật. Sự tích lũy đủ về lượng sẽ tạo ra bước nhảy, chất mới ra đời.
VD: nhiệt độ sôi của nước là ở 99,99oC = 100oC. đây chính là điểm nút
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên. Bước nhảy là sự kết thúc quá trình biến đổi của lượng cũ, chất cũ; chúng sẽ mất đi và chất mới ra đời, thay thế sự vật cũ.
VD: Cách mạng tháng 8 năm 1945 là bước nhảy về chất, nó đã kết thúc hàng nghìn năm chế độ phong kiến, hàng trăm năm chế độ thực dân, chuyển nước ta sang một giai đoạn mới của sự độc lập, hòa bình và phát triển.
– Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng:
Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật. Sự tác động ấy thể hiện: chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật. Như vậy, không chỉ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất mà những thay đổi về chất cũng đã dẫn đến những thay đổi về lượng.
VD: khi đun nước đạt đến 100oC, nước sẽ bốc hơi, thể tích sẽ lớn hơn, tốc độ hoạt động cảu các phân tử nước nhanh hơn, khả năng dẫn nhiệt kém hơn.
– Trong tính đa dạng của những hình thức thay đổi về chất, chúng ta lưu ý tới một số loại bước nhảy cơ bản sau đây:
Bước nhảy để chuyển hóa về chất của sự vật hết sức đa dạng và phong phú với những hình thức rất khác nhau.
Dựa theo nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật có thể phân chia thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần. Bước nhảy đột biếnlà bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật. Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi.
Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật có bước nhảy toàn bộ  và bước nhảy cục bộ. Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật. Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự vật.
=>  Nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa chất và lượng, chúng ta có thể phát biểu nội dung của quy luật này như sau: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới lại có chất mới cao hơn… Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi và phát triển.(quy luật này đôi khi được gọi vắn tắt là quy luật lượng, chất hoặc quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại) .

c. Ý nghĩa phương pháp luận:
– Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất. Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật. Trong hoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắc như “tích tiểu thành đại”, “năng nhặt chặt bị”, “góp gió thành bão”… Những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình thường của con người đó. Phương pháp này giúp chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, đốt cháy giai đoạn muốn thực hiện bước nhảy liên tục.
– Quy luật của tự nhiên và quy luật của xã hội đều có tính khách quan. Song quy luật của tự nhiên diễn ra một cách tự phát, còn quy luật của xã hội chỉ được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Do đó, khi đã tích lũy đủ về số lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải kịp thời chuyển những sự thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính chất cách mạng.
– Trong hoạt động con người còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy.
– Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy để trong những điều kiện cụ thể, chúng ta có thể lựa chọn bước nhảy để trong những điều kiện cụ thể, chúng ta có thể lựa chọn bước nhảy phù hợp đem lại hiệu quả cao nhất.

Câu 6. nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
1. Các khái niệm cơ bản:
–  Mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau.
VD: điện tích âm và điện tích dương, quá trình đồng hóa và dị hóa, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị,…
– Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn là sự tác động qua lại giữa cá mặt đối lập bên trong của sự vật hoặc giữa các sự vật đối lập với nhau. Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau.
– Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.
VD: không có quá trình đồng hóa thì không có quá trình dị hóa và ngược lại.
– Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau.
– Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn luôn “đấu tranh” với nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau.
VD: giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân ở nước ta luôn có khuynh hướng phủ định, bài trừ, tieu diệt nhau.
Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, vào mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tùy điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển:
– Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy mâu thuẫn biện chứng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống nhất cũng được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế. Lênin viết :”Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”, tuy nhiên không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra nội dung của quy luật này như sau: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, khuynh hướng đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng trong bản thân nó, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay thế cái cũ. Chúng ta cũng có thể diễn đạt ngắn gọn: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
– Phân loại mâu thuẫn:
Từ nội dung khái quát trên, để hiểu sâu hơn về quy luật này, cần tìm hiểu cụ thể hơn về các loại mâu thuẫn.
+ Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật.
VD: Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ trong xã hội Việt Namtrước cách mạng tháng 8
Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác.
VD: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, mâu thuận giữa quốc gia này với quốc gia khác.
+ Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật.
VD: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay là mâu thuẫn cơ bản, còn những mâu thuẫn khác trong thời đại ngày nay là những mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật.
+ Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành  mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu.
Mâu thuẫn chủ  yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó.
VD: Ở nước ta hiện nay, vấn đề tham nhũng là mâu thuẫn chủ yếu; còn các mâu thuẫn khác giữa các giai cấp, các thành phần kinh tế là mâu thuẫn thứ yếu
Mâu thuẫn thứ  yếu là những mâu thuẫn ra đời, tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối.
+ Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau.
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời.
VD: mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân trước cách mạng tháng 8 ở Việt Nam là mâu thuẫn đối kháng; còn mâu thuẫn giữa các giai cấp khác trong xã hội là mâu thuẫn không đối kháng.
Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập. Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn. Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hóa lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
3. Ý nghĩa phương pháp luận        :
– Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật. Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó.
– Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng.
– Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn. Phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.

Câu 7. Trình bày nội dung và ý nghĩa của quy luật phủ định của phủ định
1. Các khái niệm phủ định, phủ định biện chứng
–  Phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác.
VD: đốt cháy cây, quả trứng nở thành con gà, chế độ tư bản chủ nghĩa được thay thế bằng chế độ xã hội chủ nghĩa
– Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân vừa có kế thừa và có đổi mới, phát triển, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn cái cũ.
Như vậy, phủ định biện chứng là quá trình vừa mang tính khách quan vừa mang tính kế thừa. Tính khách quan thể hiện ở chỗ nguyên nhân của sự phủ dịnh nằm ngay trong bản thân sự vật, do kết quả giải quyết các mâu thuẫn bên trong sự vật quyết định. Hơn nữa, phương thức phủ định sự vật cũng không tùy thuộc ý muốn của con người. Mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng tùy thuộc vào tính chất mâu thuẫn và phương thức giải quyết mâu thuẫn của bản thân sự vật. Như vậy là phủ định biện chứng được thực hiện nhờ việc giải quyết cá mâu thuẫn bên trong sự vật. Chính điều này mà phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan của sự vận động và phát triển.
–  Phủ định biện chứng không phải là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái bị phủ định. Trái lại, để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong đó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái bị phủ định. Phủ định biện chứng do vật là sự phủ định mang tính kế thừa.
2. Phủ định của phủ định – khuynh hướng của sự phát triển
– Phủ định của phủ định là dùng để chỉ một vòng khâu của sự phát triển, trong đó diễn ra hai lần phủ định biện chứng, sự vật dường như quay lại cái cũ nhưng ở trên một trình độ cao hơn.
`- Sự phủ định lần thứ nhất được thực hiện một cách căn bản sẽ làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập của mình. Sự phủ định lần thứ hai sẽ ra đời một sự vật mới mang nhiều đặc trưng giống như cái ban đầu, song thực chất, không phải giống như cái cũ, mà dường như lặp lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn. Chỉ có thông qua phủ định của phủ định mới dẫn tới việc ra đời một sự vật mới, trong đó có sự lặp lại một số đặc trưng cơ bản của cái xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở cao hơn.
VD: hạt lúa – cây lúa – bông lúa
– Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển. Sự phát triển đi lên đó không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường “xoáy trôn ốc”. Nó nói lên tính kế thừa của quy luật này.
Từ sự phân tích trên, có thể phát biểu quy luật này như sau: “Mọi sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển của mình đều phải trải qua một chuỗi các phủ định biện chứng, phủ định của phủ định nói lên một chu kỳ của sự phát triển, theo đó sự vật mới dường như quay trở lại cái cũ nhưng trên cơ sở ca hơn về chất, sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”
3. Ý nghĩa phương pháp luận.
-Quy luật này giúp chúng ta nhận thức đúng về xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự phát triển không bao giờ diễn ra theo đường thẳng, mà quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định. Vì vậy, tránh thái độ phiến diện, đơn giản trong nhận thức đối tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội. Trong sự phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn hiện nay của thời đại, chủ nghĩa xã hội với tính cách một chế độ xã hội là cái mới. Sự khủng hoảng thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện nay chỉ là một trạng thái tạm thời. Chúng ta có đủ căn cứ để khẳng định rằng sớm hay muộn, chủ nghĩa xã hội sẽ được khôi phục, được phát triển, và cuối cùng, sẽ thay thế hoàn toàn chủ nghĩa tư bản. Những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới ở nước ta, những vấn đề phát sinh trong chủ nghĩa tư bản hiện đại và tính bất lực của nó trong việc giải quyết các vấn đề đó là cơ sở cho niềm tin đó.
– Trong quá trình phát triển luôn xuất hiện cái mới thay thế cho cái cũ, cái tiến bộ thay thế cho cái lạc hậu, vì vậy phải có thái độ ủng hộ cái mới, tạo điều kiện cho cái mới, cái tiến bộ ra đời. Trong công tác chúng ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, mặc dù lúc đầu nó còn yếu ớt, ít ỏi; phải ra sức bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ.
– Chúng ta không  được phép có thái độ phủ định sạch trơn mà phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của cái cũ. Bên cạnh việc chống thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn qua khứ, chúng ta cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại cả những gì đã lỗi thời cản trở bước tiến của lịch sử. Quan điểm biện chứng duy vật về sự phát triển đòi hỏi trong hoạt động lý luận và thực tiễn, chúng ta phải biết kế thừa có phê phán, có chọn lọc những nhân tố tích cực của tư tưởng trước, của giai đoạn phát triển trước, của cái bị phủ định nói chung, sử dụng như là tiền đề cho sự ra đời của cái mới.

Câu 8. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
1. Bản chất của nhận thức
C. Mác và Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết về nhận thức dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
– Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con người.
– Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người. Coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể. Không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được.
– Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
– Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
Dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:
Về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.
2. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
– Khái niệm:
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
– Khác với hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn, là hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo những mục đích của mình. Những hoạt động ấy là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển bởi con người qua các thời kì lịch sử. Chính vì vậy mà thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất có mục đích và mang tính lịch sử – xã hội.
– Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản là:
+ Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hoạt động thực tiễn nguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật.
+ Ngoài ra, còn có hoạt động chính trị- xã hội nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội.
+ Bên cạnh đó, với sự ra đời và phát triển khoa học, cũng đã xuất hiện thêm hoạt động thực nghiệm khoa học.
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau. Song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác.
– Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
+ Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện trước hết ở chỗ: thực tiễn là cơ sở của nhận thức, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
Sở dĩ như vậy bởi vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức. Nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tất yếu, khách quan là giải thích và cải tạo thế giới mà buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó mà hình thành nên các lý thuyết khoa học. Có thể nói, suy cho cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn. Do đó, nếu thoát ly thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát triển của mình.
Ngoài ra, vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới.
+Thực tiễn còn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Có nghĩa là: thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức. Mác đã viết: “vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phati là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”.
=> Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình. Lênin đã viết: “quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.

Câu 9. Biện chứng của quá trình nhận thức
– Nhận thức là quá trình diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu khác nhau song đây là quá trình biện chứng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ duy trừu tượng đến thực tiễn.
1. Trực quan sinh động
Trực quan sinh động còn được gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính; đây là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật nhằm nắm bắt các sự vật ấy. Trực quan sinh động bao gồm 3 hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
+ Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hóa những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức. Chính vì thế mà Lênin đã viết “cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
+ Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự tổng hợp của nhiều cảm giác. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật.
+ Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh động. Đó là hình ảnh có tính đặc trưng và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc con người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan. Biểu tượng được hình thành nhờ sự phối hợp, bổ sung lẫn cho nhau của các giác quan nhưng đã có sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp và ít nhiều mang tính chất trừu tượng hóa.
2. Tư duy trừu tượng
Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính): Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng. Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật hiện tượng. Nhận thức lý tính được thể hiện với 3 hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý.
+ Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật. Vì vậy, khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển. Nó chẳng những rất linh động, mềm dẻo, năng động mà còn là “điểm nút” của quá trình tư duy trừu tượng, là cơ sở để hình thành phán đoán.
+ Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng.
+ Suy lý là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri thức mới bằng phán đoán mới. Ví dụ, nếu liên kết phán đoán “kim loại thì dẫn điện” với phán đoán “đồng là kim loại” ta rút ra được một phán đoán mới là: “đồng dẫn điện”.
Tùy theo sự kết hợp các phán đoán theo trật tự nào (từ phán đoán đơn nhất qua phán đoán đặc thù, rồi tới phán đoán phổ biến hoặc ngược lại) mà người ta có được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch.
3 Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính với thực tiễn
+ Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức. Trên thực tế, chúng thường diễn ra đan xen vào nhau trong một quá trình nhận thức; song chúng có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau. Nếu nhận thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm tính, là cơ sở cho nhận thức lý tính thì nhận thức lý tính, nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu biết được bản chất, quy luật vận động và phát triển sinh động của sự vật; giúp cho nhận thức cảm tính có định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn.
+ Tuy nhiên, nếu dừng lại ở nhận thức lý tính thì con người mới chỉ có được những tri thức đối tượng, còn bản thân những tri thức ấy có chân thực hay không thì con người chưa biết được. Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải xác định xem những tri thức ấy có chân thực hay không. Để thực hiện điều đó, nhận thức nhất thiết phải trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn, làm thước đo tính chân thực của những tri thức đã đạt được trong quá trình nhận thức.

Câu 10.Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
1. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
*  Khái niệm:
Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định.
– Phương thức sản xuất: là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
VD: phương thức sản xuất thời nguyên thủy là săn bắt, hái lượm; thời nô lệ, phong kiến là phương thức thủ công; thời tư bản đến nay là phương thức sản xuất bằng máy móc, công nghệ
– Lực lượng sản xuất: biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, con người kết hợp sức lao động của mình với tư liệu sản xuất tạo thành sức mạnh khai thác giới tự nhiên, tạo ra sản phẩm cần thiết cho đời sống. Như vậy, lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình.
+ Lực lượng sản xuất gồm 3 yếu tố: TLSX, người lao động và khoa học công nghệ. Trong tư liệu sản xuất thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất, nó biểu hiện cho trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Trong 3 yếu tố của lực lượng sản xuất thì người lao động giữ vai trò quan trọng nhất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” – Lênin. Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất.
Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, được con người cải tiến và hoàn thiện không ngừng. Chính điều đó đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất mà xét đến cùng nó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
Ngày nay, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn trong sự phát triển của LLSX, nó gắn liền và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Có thể nói, khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho LLSX hiện đại.
+ Quan hệ sản xuất: là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất; giữa 3 mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.
Trong 3 mặt này, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho QHSX trong từng xã hội. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là sự phân chia tư liệu sản xuất như thế nào. Nó quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ xã hội khác. Trong lịch sử có 2 loại hình sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất là: sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng (thời nguyên thủy). Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất tập trung vào trong tay một số ít người, còn đại đa số không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất (từ thời nô lệ đến nay). Tính chất của tư liệu sản xuất sẽ quyết định tính chất của quan hệ xã hội.
+ Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất.
+ Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người, nên nó tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển.
Ba mặt trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết đinh. Bản chất của bất cứ kiểu quan hệ sản xuất nào trước hết do quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất quyết định
* Quan hệ biện chứng: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
LLSX và quan hệ sx là hai mặt của phương thức sx, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX- quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển xã hội.
– Sự vận động, phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với nó:
+ Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.
– QHSX cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của LLSX.
Vì QHSX quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ,… do đó tác động đến sự phát triển của LLSX.
+ Do đó QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là động lực thúc đẩyLLSX phát triển.
+ Ngược lại, QHSX lỗi thời, hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX. Tuy nhiên việc giải quyết mâu thuẫn này ko phải đơn giản. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người, trong xã hội có giai cấp thì phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.
2. Vận dụng vào điều kiện ở nước ta hiện nay:
– Sau thời kỳ đổi mới, trên cơ sở xác định rõ trình độ của LLSX ở nước ta, Đảng ta đã chủ trương thiết lập một QHSX phù hợp với LLSX, đó là:
+ Về quan hệ sở hữu: phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
+ Về tổ chức, quản lý sản xuất: thực hiện việc quản lý, điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Đây là QHSX phù hợp với lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay vốn còn nhiều yếu kém có sự phát triển không đồng đều, đan xen nhiều trình độ (thủ công, cơ khí, hiện đại), do vậy nó có tác dụng giải phóng, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất.
– Hiện nay, hai nhiệm vụ quan trọng nhất có tính quyết định đối với sự phát triển của xã hội ta:
+ Thứ nhất, đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một trong những mục tiêu cơ bản của quá trình đó là xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại (đặc biệt là tư liệu sản xuất và con  người).
+ Thứ hai, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó cần đổi mới về quan hệ sản xuất, tạo sự phù hợp của nó với lực lượng sản xuất nhằm khai thác mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước tham gia vào phát triển lực lượng sản xuất.
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
–  Phải thấy được tầm quan trọng của quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất trong quan hệ sản xuất, nhưng không được tuyệt đối hóa nó. Một khi quan hệ sản xuất được thiết lập thì cần phải quan tâm thực sự đến việc củng cố, hoàn thiện quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất, phải tìm ra những hình thức quản lý đa dạng để có thể sử dụng có hiệu quả sức lao động, tư liệu sản xuất, nguồn vốn đất đai, tài nguyên.
– Khi tiến hành hoạt động sản xuất, cùng với việc coi trọng quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất, không thể không tính đến quan hệ phân phối sản phẩm, tức là phải quan tâm thỏa đáng đến những nhu cầu, lợi ích đa dạng và cụ thể của người lao động. Phải thực hiện quan hệ phân phối công bằng, đủ sức kích thích, tạo động lực cho người lao động tích cực sản xuất, kinh doanh.
– Trong giai đoạn cuối mỗi phương thức sản xuất, khi lực lượng sản xuất đã thay đổi về chất, mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất, thì cần phải tiến hành cách mạng xã hội để thiết lập một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
– Trong quá trình xây dựng xã hội mới, vì lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất; do vậy, muốn phát triển kinh tế – xã hội thì trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối, tác động mạnh mẽ trở lại lực lượng sản xuất, nên cần thiết phải kịp thời phát hiện và điều chỉnh những yếu tố không phù hợp trong quan hệ sản xuất theo nguyên tắc: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Câu 11. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Trên cơ sở quan hệ sản xuất hình thành nên các quan hệ về kinh tế và chính trị của xã hội. Hai mặt đó của đời sống xã hội được khái quát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
– Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định
+ Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm QHSX thống trị, QHSX tàn dư của xã hội cũ và QHSX mầm mống của xã hội tương lai. Đặ trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng do quan hệ sản xuất thống trị
+ Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì tính chất của sự đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ trong cơ sở hạ tầng.
– Kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,…cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
+ Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng, phảnh ánh cơ sở hạ tầng. Trong đó, Nhà nước là bộ phận có quyền lực mạnh mẽ nhất của kiến trúc thượng tầng. Chính nhờ có Nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xã hội.
+ Kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp đối kháng bao gồm hệ tư tưởng và thể chế của giai cấp thống trị tàn dư của các quan điểm của xã hội trước, các quan điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời, quan điểm tư tưởng của các tầng lớp trung gian. Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của kiến trúc thượng tầng trong một hình thái xã hội nhất định. Tính chất đối kháng về quan điểm tư tưởng và cuộc đấu tranh tư tưởng của các giai cấp đối kháng phản ánh tính chất đối kháng của cơ sở hạ tầng
2.  Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
– Cơ sở hạ tầng quyết định đối với kiến trúc thượng tầng:
+ Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội.
+ Cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo. Tuy sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng cũng gắn với sự phát triển của LLSX nhưng LLSX không trực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng mà nó làm thay đổi QHSX, tức là trực tiếp thay đổi cơ sở hạ tầng và thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng.
+ Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế – xã hội.
– Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
+ Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện trước hết ở chức năng chính trị – xã hội của kiến trúc thượng tầng nhằm bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ.
+ Các bộ phận khác nhay của kiến trúc thượng tầng đều tác động dến cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong đó Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng có tác động to lớn nhất và trực tiếp đối với cơ sở hạ tầng.
+ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều:
Nếu kiên trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển;
Ngược lại, nếu tác động không phù hợp với quy luật vận động của cơ sở hạ tầng, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội.
3.  Liên hệ với Việt Nam:
– Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam bao gồm các kiểu quan hệ sản xuất tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập nhau, cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ các kỳ Đại hội IX, X và XI, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội.
– Về xây dựng kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Các tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị nhằm phục vụ con người, thực hiện lợi ích và quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể của nhân dân. Trong đó, Đảng đóng vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Để thiết lập một kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng, Đảng ta chủ trương không ngừng đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
– Trong quá trình đổi mới, chúng ta đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
– Trong nhận thức và hành động, phải thấy được vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, của kinh tế đối với chính trị. Những thay đổi trong kinh tế là cơ sở của những thay đổi trong chính trị. Tuy nhiên, không được tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế, vì nếu tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế sẽ rơi vào chủ nghĩa duy kinh tế – chủ nghĩa duy vật tầm thường, coi kinh tế là tất cả, chính trị là số không (như phái kinh tế ở Nga cuối thế kỷ XIX).
– Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần phải nhận thức rõ vai trò to lớn của chính trị với kinh tế, song không thể tuyệt đối vai trò của chính trị với kinh tế, nếu tuyệt đối hóa sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí.

Câu 12. Trình bày phạm trù hình thái kinh tế – xã hội của CNDVBC và sự vận dụng của Đảng đối với nước ta hiện nay
1. Khái niệm và cấu trúc của hình thái kinh tế – xã hội
* Khái niệm hình thái kinh tế – xã hội
Hình thái kinh tế- xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của LLSX và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những QHSX ấy.
* Kết cấu
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là LLSX, QHSX và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
– Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế – xã hội. Hình thái kinh tế- xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội.
–  Các quan hệ sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái kinh tế – xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho nó. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.
– Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.
Suy đến cùng, sự phát triển của LLSX quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội.
– Ngoài các mặt cơ bản đã nêu trên, các hình thái kinh tế – xã hội còn có quan hệ về gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi của quan hệ sản xuất.
2. Sự vận dụng của Đảng đối với nước ta hiện nay
– Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hôi, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật của cách mạng VN: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
– Quá độ ở nước ta là kiểu quá độ gián tiếp: quá độ lên CNXH từ một nước tiền tư bản, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.
– Quá trình đi lên CNXH ở nước ta có điểm xuất phát thấp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ phù hợp. Việc thiết lập các yếu tố cơ bản của hình thái kinh tế – xã hội mới được Đảng ta xác định:
+ Về lực lượng sx: do trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp kém, cho nên, để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH,  Đảng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
+ Về quan hệ sx: do lực lượng sản xuất nước ta còn thấp kém, có nhiều trình độ đan xen, nên Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở đa dạng hóa các loại hình sở hữu, vận hành cơ chế thị trường, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
+ Về KTTT: Tương ứng với cơ sở hạ tầng là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Đảng chủ trương:
-> Lấy CN Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân; phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài.
-> Không ngừng đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
– Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử  – tự nhiên. Qúa trình này chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
– Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội.
+ Học thuyết chỉ ra: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội. Cho nên, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất.
+ Học thuyết chỉ ra: xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Điều đó cho thấy, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Đặc biệt phải đi sâu phân tích về quan hệ sản xuất thì mới có thể hiểu đúng đắn về đời sống xã hội.
Câu 13. Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên và sự vận dụng vấn đề này ở nước ta hiện nay
1. Nội dung
Khi phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo lý luận cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội, C.Mác cho rằng: “sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.23, t.r21. ).
– Tính chất lịch sử – tự nhiên của quá trình phát triển các hình thái kinh tế- xã hội được thể hiện ở các nội dung sau:
+ Một là, sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tếxã hội mà trước hết là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng.
+ Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Theo V.I.Lênin: “Chỉ có đem quy các quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1974, t.1, tr.163. ).
+ Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội là do sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế – xã hội không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
– Vai trò của nhân tố chủ quan đối với tiến trình lịch sử:
+ Sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử trước hết do tác động của các quy luật khách quan nhưng đồng thời còn chịu tác động của các nhân tố chủ quan như điều kiện địa lý, tương quan lực lượng giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế… Chính vì vậy, tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức phức tạp, đa dạng phong phú…Tính chất phong phú đa dạng của tiến trình phát triển các hình thái kinh tế – xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hay một vài hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Tuy nhiên sự “bỏ qua” đó phải gắn với những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định.
+ Sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan đối với sự vận động, phát triển của xã hội:
+ Lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người, từ đó lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thống nhất của nó.
2. Vận dụng vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay
Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta khẳng định: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau. Đó là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Việc Đảng ta luôn kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta.
– Tuy nhiên, từ thực tiễn, nhất là thực tiễn quá trình đổi mới, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
+ Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ.
– Xây dựng và phát triển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay không chỉ cần chú trọng tới các nhân tố khách quan mà cũng cần quan tâm tới các nhân tố chủ quan như điều kiện địa lý, tương quan lực lượng giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế, đặc biệt là nhân tố con người… để đánh giá phù hợp tình hình của đất nước, đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm phát triển một cách toàn diện và bền vững.

Câu 14. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
* Tồn tại xã hội
– Tồn tại xã hội là toàn bộ những sinh hoạt vật chất và điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội,
–  Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là: phương thức sản xuất ra của cải vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số,… Trong đó, phương thức sản xuất ra của cải vật chất là nhân tố quyết định đối với tồn tại xã hội.
* Ý thức xã hội
– Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm những tư tưởng, quan điểm, lý luận, tình cảm, tâm trạng, tập quán, truyền thống,… phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử.
– Ý thức xã hội bao gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
+ Tâm lý xã hội là bộ phận của ý thức xã hội bao gồm tình cảm, ước muốn, thói quen, tập quán… của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn bộ xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó.
+ Hệ tư tưởng là bộ phận của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách gián tiếp, tự giác, khái quát hoá thành những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo).
– Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội. Nó có chung một nguồn gốc là phản ánh tồn tại xã hội và giữa chúng có quan hệ tác động lẫn nhau. Hệ tư tưởng khoa học thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh có lợi cho tiến bộ xã hội. Hệ tư tưởng phản khoa học, phản động kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển.
– Tuy nhiên, hệ tư tưởng xã hội không nảy sinh tự phát từ tâm lý xã hội và không phải là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội. Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội có tính giai cấp
2. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội có cơ sở lý luận là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
* Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
– Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện: tồn tại xã hội sinh ra ý thức xã hội, còn ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội. Mỗi khi tồn tại xã hội biến đổi, đặc biệt là phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hôi, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức,… sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo.
– Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, nhưng không phải bất cứ tư tưởng, quan điểm, lý luận xã hội nào, tác phẩm văn học nghệ thuật nào cũng nhất thiết trực tiếp phản ánh những quan hệ kinh tế của thời đại mà chỉ xét đến cùng thì các quan hệ kinh tế mới được phản ánh bằng cách này hay cách khác vào những tư tưởng đó. Bởi, ý thức xã hội trong sự phát triển của mình có tính độc lập tương đối
* Tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức xã hội
Tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức xã hội được biểu hiện ở 5 mặt dưới đây:
– Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
+ Có nghĩa là khi chế độ cũ đã mất đi nhưng YTXH do nó sinh ra vẫn còn tồn tại trong một thời gian, thậm chí rất lâu.
VD: Chế độ cũ của nước ta đã mất đi từ năm 1945 nhưng ý thức xã hội của chế độ đó vãn còn tồn tại trong xã hội mới hiện nay, như: các hủ tục ma chay, cưới xin, tính gia trưởng,…
+ Sở dĩ ý thức xã hội có những lạc hậu tương đối so với tồn tại xã hội là vì
~ Tính bảo thủ vốn có của một số hình thái ý thức như đạo đức, tôn giáo,…
~ Do truyền thống và sức mạnh của thói quen
~ Do các thế lực phản tiến bộ có âm mưu chống phá những chế độ mới và khôi phục ý thức xã hội cũ có hại cho cách mạng.
– Ý thức xã hội có tính vượt trước. Đó là những tư tưởng tiến bộ, khoa học.
+ Trong những điều kiện nhất định, những tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước thời đại để phán đoán tương lai, định hướng cho sự phát triển
VD: sự phán đoán về sự ra đời của chế độ Cộng sản chủ nghĩa đã được Mác – Ăng ghen nói từ những năm 40 của thế kỷ 19.
– Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó. Điều này lý giải vì sao do có tính kế thừa mà 1 dân tộc kinh tế phát triển chậm lại có đời sống tinh thần phong phú hơn so với quốc gia có nền kinh tế phát triển.
– Ý thức xã hội có nhiều hình thái khác nhau, giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau trong sự phát triển của chúng.
+ Ý thức xã hội gồm: ý thức chính trị, tư tưởng pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức về mỹ học.
VD: tư tưởng chính trị sẽ tác động lên ý thức pháp quyền, ý thức pháp quyền tác động lên ý thức tôn giáo, mỹ học tác động vào ý thức pháp quyền.
– Sự tác động trở lại của ý thức xã hội với tông tại xã hội là biểu hiện quan trọng nhất của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, biểu hiện tập trung vai trò của ý thức xã hội với tồn tại xã hội. Nó tác động theo hai hướng. Nếu ý thức xã hội phù hợp với tồn tại xã hội, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của tồn tại xã hội và ngược lại, nếu ý thức xã hội không phù hợp với tồn tại xã hội, nó sẽ kìm hãm sự phát triển.
VD: Nếu vai trò của pháp quyền thực sự được phát huy mạnh mẽ sẽ làm cho hệ thống chính trị được ổn định và củng cố; còn nếu nó không phát huy được sức mạnh của mình thì hệ thống chính trị sẽ bị hỗn loạn.
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng xã hội đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó nảy sinh những tư tưởng nhất định. Nó phụ thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp giương cao ngọn cờ tư tưởng đó, phujthuoocj vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đó đối với các nhu cầu phát triển của xã hội, phụ thuộc vào mức độ xâm nhập của tư tưởng đó vào quần chúng nhân dân.
13.4. Ý nghĩa thực tiễn của mối quan hệ này đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
– Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống xã hội. Vì vậy, công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
– Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng chủ nghĩa ở nước ta, một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa, phát huy vai trò tích cực của đời sống tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mặt khác, phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý trong việc xây dựng văn hóa, xây dựng con người mới. Cần thấy rằng chỉ có thể thực sự tạo dựng được đời sống tinh thần của xã hội XHCN trên cơ sở cải tạo triệt để  phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Câu 15. Vấn đề về nhà nước
1. Nguồn gốc của Nhà nước
– Nhà nước là một phạm trù lịch sử. Nhà nước không xuất hiện cùng với sự hình thành của xã hội loài người. Lịch sử xã hội đã có một thời kỳ chưa có Nhà nước – thời kỳ cộng sản nguyên thủy. Chỉ đến khi xã hội phân chia thành giai cấp Nhà nước mới ra đời.
– Chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia thành những giai cấp đối kháng – chủ nô và nô lệ. Mâu thuẫn giữa các giai cấp đó không ngừng diễn ra và ngày càng quyết liệt không thể điều hòa được. Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp chủ nô đã lập ra một bộ máy bạo lực. Đó là Nhà nước.
– Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ. tiếp đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản đểu xuất hiện từ mâu thuẫn đối kháng giai cấp vốn có của mỗi xã hội. Như vậy, Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được.
2. Bản chất của Nhà nước
– Bản chất của Nhà nước là nền chuyên chính của một giai cấp này đối với một giai cấp khác và đối với toàn xã hội. Nhờ có bộ máy nhà nươc, giai cấp thống trị chiếm số ít trong dân cư duy trì được sự áp bức, bóc lột của mình đối với giai cấp bị trị bao giờ cũng chiếm số đông. Bản chất đó được thể hiện ở chức năng và đặc trung của nhà nước.
– Với tính chất là nền chuyên chính của một giai cấp đối với một giai cấp khác, nhà nước của giai cấp bóc lột không thể là kẻ “công bằng” bảo vệ lợi ích cho các giai cấp trong xã hội,
– Theo bản chất đó, Nhà nước là một bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp. Do đó, “Nhà nước nói chung chỉ là sự phản ánh dưới hình thức tập trung của những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất” (Mác – Ăngghen)
3. Đặc trưng của Nhà nước
Bản chất của nhà nước thể hiện ở đặc trưng của nó. Bất kì nhà nước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản sau:
– Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định:
Khác với tổ chức thị tộc, bộ lạc, thời nguyên thủy đươc hình thành trên cơ sở những quan hệ huyết thống, Nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà họ cư trú. Quyền lực nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên trong lãnh thổ không phân biệt huyết thống. Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong cộng đồng với nhà nước. Mỗi nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định.
– Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội.
Khác với các cơ quan điều hành công việc chung trong thị tộc, bộ lạc, Nhà nước của giai cấp thống trị nào cũng có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp. Bộ máy quyền lực đó bao gồm các đội vũ trang đặc biệt (quân đội, cảnh sát, nhà tù …) và bộ máy quản lý hành chính. Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật và dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trên thực tế.
–  Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị.
Nhà nước không thể tồn tại nếu không dựa vào thuế khóa, quốc trái và các hình thức bóc lột khác. Đó là những chế độ đóng góp có tính chất cưỡng bức để nuôi sống bộ máy cai trị. Hệ thống thuế khóa, cống nạp như vậy hoàn toàn không có trong hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc. Nó chỉ tồn tại gắn liền với hình thái tổ chức nhà nước. Bằng các hình thức khác nhau như vậy, nhà nước của giai cấp bóc lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức.
4.  Chức năng của nhà nước
Bản chất giai cấp của Nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó. Tùy theo góc độ khác nhau, chức năng của Nhà nước được phân chia khác nhau. Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị và chức năng xã hội; Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có các chức năng đối nội và đối ngoại.
– Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội
+ Chức năng thống trị chính trị của giai cấp: là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành bản chất chủ yếu của nó.
+ Chức năng xã hội của nhà nước: là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn một số yêu cầu chung của cộng đồng dưới sự quản lý của nhà nước.
Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là chức năng cơ bản nhất vì nó có vai trò chi phối chức năng xã hội, phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Song, chức năng xã hội lại là cơ sở cho việc thực hiện chức năng giai cấp. Bởi vì chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội. Ph.Ăngghen viết “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào mà nó thực hiện chức năng xã hội đó của nó”
– Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước thể hiện trong lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại.
+ Chức năng đối nội: nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội. Thông thường điều đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác (bộ máy thông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hóa giáo dục,…) để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí giai cấp thống trị làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.
+ Chức năng đối ngoại: của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích của quốc gia. Ngày nay, việc mở rộng chức năng đối ngoại có tầm quan trọng đặc biệt.
Cả hai chức năng này đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại, ngược lại, tính chất và nhu cầu của chức năng đối ngoại tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.
5. Các kiểu và hình thức nhà nước
– Kiểu nhà nước chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế xã hội nào.
– Hình thức nhà nước chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước.
Tùy theo tình hình kinh tế – xã hội cụ thể của mỗi quốc gia mà mỗi kiểu nhà nước được tổ chức theo những hình thức nhất định. Hình thức nhà nước bị quy định bởi bản chất giai cấp của nhà nước, bởi tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bởi cơ cấu giai cấp – xã hội, bởi đặc điểm truyền thống chính trị của đất nước. – Tương ứng với ba chế độ xã hội có giai cấp trong lịch sử là hình thái kinh tế xã hộ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, và xã hội chủ nghĩa là ba kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến và nhà nước tư sản.
* Nhà nước chiếm hữu nô lệ:
Là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu biểu là hình thức nhà nước chủ nô ở Hy Lạp và La Mã cổ đại như chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa, chính thể quý tộc và chính thể dân chủ. Các hình thức này chỉ khác nhau về cách thức và cơ chế hoạt động còn bản chất chúng đều là nhà nước của giai cấp chủ nô, nhằm thực hiện sự chuyên chính đối với nô lệ.
* Nhà nước phong kiến:
Đây là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở phương Tây, hình thức quân chủ phân quyền là hình thức nhà nước phổ biến, quyền lực nhà nước được chia thành quyền lực độc lập, mỗi chúa phong kiến là một ông vua trên lãnh thổ của mình. Mối liên hệ giữa các chúa phong kiến châu Âu được thiết lập bằng hình thức liên minh của các nhà nước cát cứ, trong đó, Thiên chúa giáo trở thành mối quan hệ tinh thần thiêng liêng giữa các tiểu vương quốc phong kiến. Ở phương Đông, hình thức quân chủ tập quyền là hình thức nhà nước phổ biến dựa trên chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất. Hoàng đế có uy quyền tuyệt đối, ý chí của vua là pháp luật. Dù tồn tại dưới bất kì hình thức nào, nhà nước phong kiến cũng chỉ là công cụ của giai cấp địa chủ phong kiến dùng để áp bức, thống trị nông nô.
* Nhà nước tư sản
Tồn tại với hai hình thức cơ bản: hình thức cộng hòa và hình thức quân chủ lập hiến. Hình thức cộng hòa lại được tổ chức dưới những hình thức khác nhau như: cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống. Trong đó cộng hòa đại nghị là hình thức điển hình và phổ biến nhất. Hình thức nhà nước tư sản rất phong phú nhưng không làm thay đổi bản chất của nó. Đó là công cụ của giai cấp tư sản dùng để áp bức, thống trị giai cấp vô sản và quần chúng lao động để bảo vệ lợi ích và quyền thống trị của giai cấp tư sản. Sự ra đời của chế độ dân chủ tư sản là một bước tiến về chất trong sự phát triển của nhà nước. Nó đã kết tinh được những giá trị dân chủ được sáng tạo ra trong thời kì trước khi giai cấp công nhân cầm quyền. Sự phát triển hợp quy luật của các giá trị đó là những nhân tố nội tại dẫn tới phủ định các quy luật này. Nền dân chủ vô sản với tư cách là nền dân chủ cao về chất so với dân chủ tư sản cũng chỉ ra đời một khi biết kế thừa, phát triển toàn bộ những giá trị dân chủ mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử.
*  Nhà nước vô sản
Là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử. Nó chỉ tồn tại trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Nó là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử của xã hội loài người. Thích ứng với thời kì ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản. Sự tồn tại của nhà nước vô sản là tất yếu vì trong thời kỳ quá độ xã hội còn tồn tại các giai cấp bóc lột và các lực lượng xã hội, chúng chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, khiến giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải trấn át chúng bằng bạo lực. Tính chất đặc biệt của nhà nước vô sản còn thể hiện ở chỗ chức năng cơ bản nhất, chủ yếu nhất của nó là chức năng tổ chức xây dựng kinh tế, xã hội. Mác – Lê nin đã khẳng định: Nhà nước vô sản là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử; đó là nhà nước không còn nguyên nghĩa, là nhà nước “nửa nhà nước”. Tính chất đặc biệt của nhà nước vô sản còn thể hiện ở cơ sở quyền lực của nhà nước. Đó là nền tảng liên minh công nông làm nòng cốt cho sự liên minh với mọi tầng lớp. Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại được nếu thiếu dân chủ, thiếu sự thực hiện một cách đầy đủ và mở rộng không ngừng dân chủ. Giai cấp công nhân không chỉ có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc mình mà còn có vai trò lịch sử toàn thế giới. Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước không chỉ là yếu tố bảo đảm bản chất giai cấp vô sản của nhà nước mà còn là điều kiện để giữ tính nhân dân của nhà nước đó. Thực tiễn xây dựng CNXH mang lại cho nhà nước vô sản nhiều hình thức mới. Tính đa dạng của nhà nước đó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của thời điểm xác lập nhà nước ấy, tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp và khối liên minh các giai cấp, tùy thuộc vào nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội. Hình thức cụ thể của nhà nước trong thời kì quá độ có thể rất khác nhau nhưng bản chất của chúng chỉ là một: Chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.