HR Law

Chia sẻ kiến thức pháp lý nhân sự

  • Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:

    1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành25/12/2023
    Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam18/09/2023
    Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành20/06/2023
    Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý20/10/2022
    Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động01/07/2022
    Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng17/01/2022
    Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành30/01/2022
    Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành01/09/2021
    Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam15/02/2021
    Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động01/02/2021
    Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu01/01/2021
    Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành01/01/2021
    Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành15/03/2021

    2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực

    Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.18/8/2023
    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao17/10/2018

    3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 201501/07/2016
    Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
    Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 201401/07/2015Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
    Luật Thuế thu nhập cá nhân 200701/01/2009Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
    Luật Việc làm năm 201301/01/2015Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
    Luật Công đoàn năm 201201/01/2013Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
    Luật Bảo hiểm xã hội năm 201401/01/2016Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 202001/01/2022Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật người khuyết tật 201001/01/2011Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
    Luật Trẻ em 201601/06/2017Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
    Bộ luật Tố tụng Dân sự 201501/07/2016Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
    Luật Bình đẳng giới 200601/07/2007Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
    Luật người cao tuổi năm 200901/07/2010Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
    Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên

    Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.

  • Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:

    – Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.

    – Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.

    2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.

    3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.

    Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.

    Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

    Xem văn bản

  • HRLegal tổng hợp các tài liệu, biểu mẫu các văn bản pháp lý trong công tác quản trị nhân sự bắt buộc phải có theo quy định pháp luật, gồm có:

    • Mẫu hợp đồng lao đồng
    • Mẫu Thỏa ước lao động tập thể
    • Mẫu Nội quy lao động
    • Mẫu Quy chế dân chủ và đối thoại tại nơi làm việc
    • Mẫu Quy chế đánh giá hoàn thành công việc
    • Mẫu sổ quản lý lao động

    Các bạn tải về tại link drive này nhé. Nếu bạn tư vấn soạn thảo các văn bản pháp lý nhân sự, vui lòng liên hệ HRLegal.vn để được giải đáp nhé

  • 1.Sự hình thành của trường phái hội họa ấn tượng

    Trường phái hội họa ấn tượng là một trào lưu xuất phát từ thủ đô Paris của Pháp vào cuối thế kỷ thứ 19. Sự xuất hiện của trường phái này đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của nền hội họa. Tên của trường phái này bắt nguồn từ bức tranh “Ấn tượng mặt trời mọc” của danh họa Pháp Claude Monet. Ngày 12-11-1974, Bưu chính Monaco phát hành một bộ tem về các bức tranh ấn tượng trong đó có bức “Ấn tượng mặt trời mọc” của Claude Monet. Đây là bức tranh khởi nguồn cho cái tên “Ấn Tượng”, một trường phái lớn trong lịch sử mỹ thuật thế giới. Năm 1874, ở Paris nước Pháp, nhà nhiếp ảnh Nadar (tên thật là Félix Tournachom), là người rất yêu văn học nghệ thuật, đã cho các họa sĩ trẻ mượn địa điểm để tố chức cuộc triển lãm lần đầu tiên của họ.

    Trường phái hội họa ấn tượng

    Nhưng cuộc “trình làng” đầu tiên đó không chỉ bị giới mỹ thuật hàn lâm và các nhà phê bình chỉ trích mà công chúng Paris cũng đồng tình chống lại. Họ la ó phản đối, công kích thứ hội họa “nhảm nhí” chẳng ra quy tắc gì: hình nét lòe nhòe, màu sắc quệt lung tung chả rõ hình khối. Từ bức tranh “Ấn tượng mặt trời mọc” của Claude Monet, một nhà phê bình đã mỉa mai gọi những họa sĩ trẻ này là những “họa sĩ ấn tượng”. Cái tên châm biếm ấy đã được những họa sĩ trẻ chấp nhận và sử dụng trong một cuộc triển lãm năm 1877. Không ai ngờ rằng, sau này, trường phái Ấn Tượng đã đi vào lịch sử mỹ thuật thế giới như một trường phái lớn.

    Tuy vào giai đoạn đầu khi mới xuất hiện, trường phái hội họa này phải chịu nhiều sự chỉ trích do bị cho là phá cách, đe dọa các truyền thống từ xưa của hội họa phương tây và chỉ nhận được rất ít sự ủng hộ của các họa sĩ và các nhà buôn tranh. Nhưng dần dần với sự thay đổi của lịch sử, trường phái hội họa ấn tượng bắt đầu được sự chú ý của công chúng. Đến năm 1900, tiếng tăm và ảnh hưởng của các họa sĩ theo phong cách ấn tượng đã lan ra khắp châu Âu và Mỹ và lôi kéo nhiều họa sĩ khác tham gia và trường phái này.

    2. Đặc trưng trong sáng tác của hội họa ấn tượng

    Khác với các giai trường phái hội họa khác, trường phái hộ họa ấn tượng có những đặc trưng cơ bản sau

    Chủ đề: các bức tranh ấn tượng thường mang chủ đề hiện đại, hướng về thiên nhiên, các phong cảnh đẹp của nước Pháp, hoặc đơn giản chỉ là những con người bình thường, các buổi đi picnic… Trường phái Ấn Tượng là một bước tiến quan trọng của hội họa trong việc đi sâu nghiên cứu màu sắc, ánh sáng và không khí ngoài trời. Trước khi có trường phái Ấn Tượng thì hầu hết họa sĩ vẽ tranh trong xưởng họa, thể hiện trong tranh mình ánh sáng của xưởng họa, cho dù chủ đề trên tranh là sự việc xảy ra ngoài trời. Hội họa Ấn Tượng ra đời cho ta thấy trong thiên nhiên không có màu sắc nào cố định mà luôn luôn thay đổi từng giờ, từng ngày và từng mùa trong năm.
    Kỹ thuật, đường nét: chủ trương trong các bức tranh ấn tượng là nhằm ghi lại những khoảnh khắc tức thời nên thường được vẽ nhanh, các nét vẽ ngắn, thô,các họa sĩ thường không chú ý nhiều đến độ chi tiết của các vật thể trên tranh tạo cảm giác bức tranh chưa hoàn chỉnh . Có thể thấy là với hội họa Ấn Tượng, cách tạo hình hoàn chỉnh trọn vẹn trước kia đã dần dần bị phá vỡ. Những nét cọ tách bạch, dứt khoát và những vệt màu ngày càng rút ngắn, thay thế cho các mặt sơn di nhẵn hay cách vờn khối quen thuộc. Dần dà trong tranh, nét màu chuyển hẳn thành những vệt ngắn hay lốm đốm, lấm tấm nhỏ.
    Màu sắc: các bức tranh ấn tượng có màu sắc rực rỡ, đối chọi với nhau, có sự pha trộn không hạn chế giữa các màu với nhau nhằm tạo nên những hiệu ứng cho
    thị giác. Về sự tương phản của màu sắc, những họa sĩ Ấn Tượng không pha màu trên bảng pha màu khi vẽ mà chỉ để những màu gần nhau rồi chúng “tự pha màu” trong nhãn cầu người xem khi khoảng cách giữa bức tranh và người xem vừa tầm.

    3.Tác giả, tác phẩm tiêu biểu

    Một trong những tác giả tiêu biểu của giai đoạn này là họa sĩ Claude Monet (1840-1926) người Pháp, ông chính là một trong những người sáng lập ra trường phái hội họa ấn tượng, được mệnh danh là “Người cha của hội họa ấn tượng”. Tranh của ông chú ý tới thiên nhiên, coi trọng diễn tả ánh sáng và màu sắc, ghi lại sự tươi mới của ấn tượng ban đầu một cách trung thực tuyệt đối Tác phẩm tiêu biểu của ông là “Hoa súng”, “Ấn tượng mặt trời mọc” (Impression, soleil levant ), tên tác phẩm này của ông cũng đồng thời là tên của trường phái này.

    Nhìn lại lịch sử hội họa, Claude Monet chưa phải là họa sĩ tiên phong trong việc vẽ tranh theo ánh sáng ngoài trời mà trước đó, vào năm 1863 họa sĩ người Pháp là Édouard Manet (1832-1883) đã vẽ bức tranh “Bữa ăn trên bãi cỏ” theo ánh sáng ngoài trời làm sôi nổi dư luận vì phong cách mới lạ của nó. Ngày 20-1-2006, Bưu chính Pháp phát hành một tờ tem nhỏ gồm 10 tem kèm vinhet về hội họa Ấn Tượng, trong đó có bức tranh nổi tiếng này của Manet.

  • 1.Quá trình phát triển kinh tế

    Vào đầu thời kì Hùng Vương tương ứng với giai đoạn Phùng Nguyên, công cụ bằng đá vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế vì lúc này đồng còn rất hiếm và thường để chế tác đồ trang sức. Săn bắn, hái lượm vẫn là chủ yếu; trong trồng trọt vẫn phổ biến là làm nương rẫy.

     Điều kiện ra đời nhà nước của người Việt cổ.

    Trải qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, nhất là Đông Sơn do công cụ bằng đá dược thay thế dần bằng công cụ bằng đồng thau và bắt đầu xuất hiện công cụ bằng sắt, nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề càng phát triển:

        -Về trồng trọt: cư dân hậu kì thời đại đồ đồng và sơ kì thời đại đồ sắt đã mở rộng địa bàn cư trú tràn xuống chinh phục vùng đồng bằng bắc bộ và bắc trung bộ.Cây trồng chủ yếu là lúa nước, nghề trồng rau củ, cây ăn quả tiếp tục phát triển.
     -Chăn nuôi cũng được đẩy mạnh theo đà của trồng trọt
      -Nghề thủ công phát triển mạnh:làm đồ gốm ngày càng theo hướng thực dụng, nghề dệt khá phổ biến, nghề đúc đồng xuất hiện từ đầu thời Hùng Vương và đạt đỉnh cao ở giai đoạn Đông Sơn.

    Tóm lại trong khoảng 2000 năm TCN sức sản xuất và nền kinh tế thời đại Hùng Vương từ chỗ còn mang dáng dấp kinh tế tự nhiên nguyên thủy ở giai đoạn đầu trải qua những bước phát triển lâu dài đến giai đoạn cuối đã có những biến đổi lớn chuyển dần sang nền kinh tế sản xuất là chủ yếu.

    2.Tình hình phân hóa xã hội

    Sự phát triển của sức sản xuất và kinh tế gây nên những biến đổi trong kết cấu xã hội và tạo ra sản phẩm thặng dư trong xã hội, từ đó tác động trực tiếp đến phân hóa xã hội.

    -Cuối thời Hùng Vương, những gia đình nhỏ đã ra đời và trở thành tế bào kinh tế xã hội, sự chuyển biến từ chế độ mẫu hệ sang phụ hệ. Sự định hình các gia đình nhỏ đã đưa đến những hệ quả quan trọng:
    + Gia đình nhỏ là đơn vị kinh tế, tự làm lấy mà sống không thể ỷ lại vào cộng đồng gia đình lớn như trước kia. Điều này kích thích tinh thần và tăng năng suất lao động, góp phần to lớn vào việc thúc đẩy nền kinh tế của xã hội phát triển.
    + Gia đình nhỏ là đơn vị kinh tế đồng thời là đơn vị tư hữu và tích tụ tư hữu.
    – Sự hình thành và tồn tại bền vững của công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất: công xã nông thôn dựa theo quan hệ láng giềng, ruộng đất tuy vẫn thuộc sở hữu chung của công xã nhưng dược phân chia cho các thành viên công xã cày cấy và các thành viên công xã dược quyền sở hữu sản phẩm lao động của mình. Đặc thù này đưa đến 2 hệ quả lớn:
    +Ruộng đất trong công xã nông thôn tuy vẫn thuộc sở hữu chung nhưng được phân phối cho các thành viên sử dụng nên đã thúc đẩy năng suất lao động, dẫn đến sự hình thành tư hữu và tích tụ tài sản.
    + Ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản nhưng không được tư hữu hóa nên đã kìm hãm sự phát triển của chế độ tư hữu, làm cho quá trình phân hóa xã hội diễn ra chậm chạp và không sâu sắc.
    – Về sản phẩm thặng dư trong xã hội: trong điều kiện tài nguyên phong phú, đất đai phì nhiêu của vùng châu thổ, nhất là với công cụ bằng kim loại vào cuối thời Hùng vương, con người có thể đạt năng suất lao động cao hơn nhiều so với trước, không chỉ làm ra được sản phẩm đủ nuôi sống họ hàng ngày mà có cả sản phẩm để dành. Cuối thời Hùng Vương là giai đoạn sơ kì của sự phân hóa giai cấp, trong xã hội đã hình thành các giai tầng:
    + Thứ nhất là quý tộc: họ vốn là con cháu của các thủ lĩnh liên minh bộ lạc, tộc trưởng thị tộc cùng gia đình họ. Họ có quyền thế tập địa vị và quyền lợi của cha ông. Lợi dụng địa vị, chức năng mà cộng đồng trao cho mình, họ chiếm 1 phần sản phẩm thặng dư trong xã hội, biến sự đóng góp vì lợi ích chung của cộng đồng thành hình thức bóc lột người sản xuất…dần dần nắm trong tay nhiều của cải và quyền lực.
    + Thứ 2 là nông dân công xã nông thôn chiếm đa số trong xã hội, giữ vai trò lực lượng sản xuất chủ yếu.

    Như vậy cuối thời đại Hùng Vương sự phân hóa xã hội tuy chưa cao nhưng cùng với sự phát triển kinh tế đã tạo nên tiền đề vật chất cần thiết cho khả năng ra đời của nhà nước.

  • Lâu nay trong hệ thống giáo trình, sách báo khoa học pháp lý về lịch sử pháp luật vẫn thừa nhận Bộ luật Hammurabi ra đời dưới triều đại vua Hammurabi (1728–1686 TCN), ở Lưỡng Hà cổ đại là Bộ luật thành văn đầu tiên cổ xưa nhất của nhân loại. Vấn đề này ít được lật ngược lại bàn thảo và mặc nhiên được thừa nhận chung trong khoa học pháp lý Việt Nam đến nay. Tuy nhiên có một thực tế là khoa học không bao giờ dừng lại, mà luôn phát triển theo thời gian. Vấn đề lịch sử pháp luật cũng không phải là ngoại lệ vì nhiều kết quả nghiên cứu khoa học mới có thể làm thay đổi hoàn toàn một cách nhìn cũ, thậm chí cách nhìn ấy có lúc đã trở thành kinh điển. Vấn đề về Bộ luật cổ xưa nhất của nhân loại có lẽ cũng là một vấn đề như vậy.Câu hỏi đặt ra là liệu Bộ luật Hammurabi có thực sự là Bộ luật cổ xưa nhất hay không? Thời gian gần đây các nhà khảo cổ học và khoa học lịch sử pháp luật thế giới đã chứng minh rằng khẳng định này không còn đúng nữa. Họ đã có đủ bằng chứng để chứng minh được rằng có một Bộ luật khác ra đời sớm hơn – “Bộ luật Urnammu, được ban hành vào khoảng năm 2100 TCN dưới thời trị vì của vua Urnammu, xứ Ur, ở Lưỡng Hà cổ đại”[1] Những gì ta biết về Bộ luật này ngày nay là kết quả của năm công trình khảo cổ học lớn được tiến hành ở các thành phố Nippur, Ur và Sippa. Kết quả của năm cuộc khảo cứu toàn diện này cho phép các nhà khoa học phục dựng lại một phần nội dung của Bộ luật.[2] Theo các nhà khoa học, Bộ luật này có khoảng 40 Điều. Đến nay đã dịch được khoảng 30 Điều trong số đó.[3] Nội dung và ý nghĩa của Bộ luật này vẫn tiếp tục được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, đặc biệt là chuyên ngành sử học, luật học, ngôn ngữ học.[4]Cơ sở nào để khẳng định rằng đây là “một Bộ luật thành văn”? dựa trên cơ sở nào đánh giá giá trị của Bộ luật này trong sự so sánh với Bộ luật Hammurabi – một Bộ luật đã trở thành kinh điển? Hay nói cách khác Bộ luật Urnammu có những giá trị gì, có những điểm tương đồng và khác biệt gì về mặt nội dung so với Bộ luật Hammurabi?

     

    BỘ LUẬT URNAMMU - NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ

    BỘ LUẬT URNAMMU – NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ

     

    1. Về kĩ thuật lập pháp, phạm vi điều chỉnh, mức độ điều chỉnh

    Về bố cục, Bộ luật Urnammu được chia khá rõ ràng thành nhóm các điều khoản có nội dung khác nhau, trong đó có 4 lĩnh vực chính là hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng. Về mặt hình thức pháp lý, đây là một Bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình.
    Các qui phạm của Bộ luật Urnammu cũng giống như các Bộ luật khác ở Phương Đông thời kỳ cổ đại đều mang tính hàm hỗn, các qui phạm đều kèm theo chế tài. Hình thức qui phạm của Bộ luật là dưới dạng giả định, nhưng được thể hiện dưới dạng qui định ẩn.[5]
    Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật là những quan hệ xã hội rộng, bao quát lên toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội như hôn nhân gia đình, ruộng đất, thừa kế tài sản, hợp đồng dân sự, hình sự, tố tụng.
    Về mức độ điều chỉnh, thông thường người ta phân biệt thành hai mức độ điều chỉnh pháp luật: cụ thể – chi tiết và khái quát hoá. Bộ luật này về cơ bản áp dụng mức độ điều chỉnh cụ thể, chi tiết.
    Giống như Bộ luật Hammurabi, lời nói đầu của Bộ luật này vua Urnammu cũng tuyên bố trách nhiệm của mình với đất nước: “Thần Anu [chúa trời, sáng tạo ra muôn loài] và thần Enil [vị thần tượng trưng cho sự cao thượng, đem đến ấm no, hạnh phúc] đã giao trách nhiệm cho ta – vua Urnammu phải đem đến sự công bằng, ấm no, hạnh phúc cho vùng đất Sume này.”
    Ông tuyên bố rằng: “…Tôi không thể biến một đứa trẻ mồ côi thành người giàu có, không thể biến một schekel bạc thành 60 schekel, không thể biến một con cừu thành một con bò kéo…nhưng tôi có thể thiết lập sự công bằng cho vùng đất của người Sume này.”[6] Như vậy có thể thấy rằng mặc dù chỉ là những tuyên bố, nhưng những Bộ luật đầu tiên, sơ khai nhất của nhân loại này đều đã chứa đựng trong đó ít nhiều tính xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là tính giai cấp. Điều này càng được thể hiện rõ ở phần nội dung của Bộ luật với một phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm cả bốn lĩnh vực chủ yếu đó là hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng, mà có không ít các qui định trong đó chứa đựng các nội dung rất tiến bộ, nhân đạo nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.

    2. Về lĩnh vực luật hình sự

    Về hình sự, qui định về tội phạm trong Bộ luật khá đa dạng. Bộ luật qui định các hành vi phạm tội như giết người, cướp, đưa ra bằng chứng giả mạo, ngoại tình…Các hành vi này mặc dù tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội là khác nhau, nhưng chủ thể vi phạm đều chịu một hình phạt hà khắc như nhau đó là hình phạt tử hình. Bên cạnh hình phạt tử hình, Bộ luật cũng có qui định đến những hình phạt khác như tù giam (Điều 3) hoặc phạt tiền (Điều 8, 9, 10).
    Một điểm đặc biệt tiến bộ của Bộ luật này, thậm chí tiến bộ hơn cả Bộ luật Hammurabi sau này đó là thay vì hình thức trả thù ngang bằng (lex talionis), người Sume áp dụng hình thức phạt tiền đối với trường hợp cố ý gây thương tích.
    Trong Bộ luật Hammurabi nguyên tắc trả thù ngang bằng được áp dụng rất triệt để. Nguyên tắc này chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra trên thực tế để áp dụng trách nhiệm pháp lí, chứ không xét trên phương diện mức độ lỗi và chủ thể thực hiện hành vi vi phạm. Thí dụ, Điều 38 Bộ luật Hammurabi qui định: “Nếu thợ xây nhà mà xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ nhà chết thì người thợ xây bị giết.” hoặc Điều 39: “Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết thì con của người thợ xây cũng phải chết theo”. Ở Bộ luật Urnammu, đối với những trường hợp gây thương tích (ở Điều 18, 19, 20, 21, 22) thì chỉ áp dụng hình phạt tiền. Thí dụ, Điều 18 Bộ luật Urnammu qui định: “Nếu một người làm mù mắt người khác, anh ta sẽ phải chịu phạt 30 schekel (đơn vị tiền tệ bấy giờ).” hoặc qui định ở Điều 19: “Nếu một người làm gẫy chân người khác, anh ta sẽ phải chịu phạt 10 schekel.”; Điều 20: “Nếu trong khi ẩu đả, một người làm người kia tàn phế, không thể lao động được nữa, người đó sẽ phải chịu phạt 60 schekel.”

    3. Về lĩnh vực luật dân sự

    Về dân sự, Bộ luật này cũng đã bước đầu đặt ra vấn đề bồi thường tài sản (Điều 31, Điều 32), vấn đề về quyền sở hữu tài sản (Điều 30), hợp đồng thuê mướn (Điều 32). Thí dụ, Điều 30 Bộ luật Urnammu qui định: “Người lén lút trồng cây trên thửa đất của người khác thì hoa lợi trên đất đó sẽ không thuộc về anh ta.” hay Điều 31 qui định: “Người làm ngập úng đồng lúa mạch của người khác, người đó sẽ bị phạt phải bồi thường.”; Điều 32: “Nếu một người đã thuê người khác cày cấy, nhưng người này đã không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết mà bỏ hoang cánh đồng ấy, anh ta sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng và bị phạt.”
    Nếu so sánh với Bộ luật Hammurabi ra đời sau này về các chế định dân sự thì có thể thấy Bộ luật Urnammu chưa có nhiều qui định cụ thể, chặt chẽ về hợp đồng, điều kiện của hợp đồng, các điều khoản lĩnh canh ruộng đất hay hợp đồng vay nợ như Bộ luật Hammurabi.[7] Điều này là dễ hiểu vì tại thời điểm ban hành Bộ luật Hammurabi nền kinh tế hàng hóa của Babylon đã rất phát triển, ngược lại kinh tế dưới thời trị vì của vua Urnammu vẫn chỉ chủ yếu là kinh tế nông nghiệp.

    4. Về lĩnh vực luật hôn nhân và gia đình

    Về hôn nhân và gia đình, Bộ luật Urnammu cũng đã có những qui định nhân đạo bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ. Chẳng hạn như Bộ luật này đã đặt ra qui định cho phép người chồng được quyền ly hôn, nhưng người chồng đó phải nộp cho người vợ một khoản tiền rất lớn. Thí dụ, Điều 9 qui định: “Nếu một người đàn ông mà muốn ly dị người vợ đầu tiên của mình, anh ta phải trả cho người vợ đó 60 schekel” hay Điều 10 qui định: “Nếu một người đàn ông mà muốn cưới lại người vợ mà mình đã ly dị, anh ta sẽ phải trả người phụ nữ đó 30 schekel.”
    Tuy nhiên cũng giống như Bộ luật Hammurabi, Bộ luật Urnammu này cũng có nhiều qui định bảo vệ quyền lợi của người đàn ông, người gia trưởng. Thí dụ, Điều 11 Bộ luật qui định: “Nếu một người đàn ông mà ngủ với một người phụ nữ góa bụa, anh ta sẽ không bị nộp phạt.” ngược lại “nếu một người phụ nữ đã kết hôn mà ngoại tình đi theo một người đàn ông khác thì người phụ nữ đó sẽ bị giết và người đàn ông được trả tự do” (Điều 7).
    Luật Urnammu có qui định về vật dẫn cưới (Brautpreise/ purchase-price). Đây là khoản tiền hoặc quà tặng bắt buộc mà gia đình chú rể phải đưa cho gia đình cô dâu trước khi cưới.[8] Điều 15. Bộ luật Urnammu qui định: “Nếu một người đàn ông đã đem sính lễ đến cưới một cô gái và ông bố vợ tương lai này đã nhận sính lễ, nhưng sau đó lại nuốt lời và gả người con gái đó cho một người đàn ông khác thì ông bố này sẽ phải trả cho người đàn ông đó tài sản bằng 2 lần giá trị đồ sính lễ”.
    Bộ luật Hammurabi sau này tại Điều 163 cũng có qui định về vấn đề này:“Trong trường hợp người vợ chết mà không có con thì bố vợ phải trả lại «quà đính hôn» (Brautpreise/ purchase-price) cho gia đình nhà chồng. Người chồng không có quyền với tài sản thừa kế của vợ. Tài sản này khi người phụ nữ qua đời sẽ thuộc về gia đình người vợ.”
    Có nhiều quan điểm khác nhau về ý nghĩa của vật dẫn cưới. Có quan điểm cho rằng đây là khoản tiền để hợp pháp hóa hôn nhân và ràng buộc gia đình nhà gái, đảm bảo cho việc hôn nhân được diễn ra. Có quan điểm lại cho rằng đây là khoản tiền để bồi thường cho gia đình nhà gái vì đã nuôi cô gái đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là vì sao trong xã hội Lưỡng Hà cổ đại có tập quán người vợ chết không có con thì phải trả lại vật dẫn cưới cho gia đình nhà chồng, còn tài sản thừa kế lại vẫn thuộc về gia đình người vợ? Nếu căn cứ vào những điều luật kể trên, đặc biệt là qui định ở Điều 163 Bộ luật Hammurabi (“Trong trường hợp người vợ chết mà không có con thì bố vợ phải trả lại «quà đính hôn» (Brautpreise/ purchase-price) cho gia đình nhà chồng.”) có thể thấy rằng vật dẫn cưới thực chất không phải là quà để mua người vợ, cũng không phải là tiền hợp pháp hôn nhân, mà là tiền của gia đình người chồng cho gia đình người vợ vì đứa trẻ do người vợ đẻ ra sau này sẽ trở thành người thuộc dòng họ của người đàn ông. Do vậy vật dẫn cưới thực chất có mục đích là vì đứa trẻ, chứ không phải là vì người phụ nữ. Tập quán này nói như tác giả Uwe Wesel là có từ thời kỳ công xã nguyên thủy.[9]

    5. Về lĩnh vực tố tụng và thực tiễn xét xử

    Bộ luật Urnammu có hai điều khoản qui định về vấn đề thử tội (ordeal).
    Điều 13 qui định: “Nếu một người bị cáo buộc là dùng tà đạo ma thuật, anh ta phải chịu thử tội bằng hình thức ném xuống sông.[10] Nếu anh ta vô tội (không bị chết), anh ta sẽ được tha.” Điều 14 qui định: “Nếu một người đàn ông bị cáo buộc là đã thông dâm với vợ của người đàn ông khác, anh ta sẽ phải chịu thử tội bằng hình thức ném xuống sông. Nếu qua thử tội cho thấy anh này vô tội thì người đã cáo buộc anh ta thông dâm phải trả anh ta 20 schekel.”
    Điều 2 Bộ luật Hammurabi cũng có qui định tương tự về vấn đề này: “Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải đi đến một dòng sông và nhảy xuống, nếu anh ta chìm, bị dòng nước cuốn đi, nguyên đơn sẽ được sở hữu nhà của bị đơn. Nhưng ngược lại, nếu anh ta không bị chết chìm, tức là anh ta còn sống sót, thì anh ta được coi là vô tội, nguyên đơn sẽ bị giết chết, và bị đơn sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn”.
    Ngày nay ta hiểu rằng “Thử tội” (Ordeal) không phải là cách làm khoa học để chứng minh hành vi phạm tội hay chứng minh ai có lỗi. Nhưng nghiên cứu lịch sử cần phải đặt vào hoàn cảnh, thời điểm cụ thể để giải thích. Thực tế, người cổ đại bất lực trước việc giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Giai cấp thống trị, bằng những cách mị dân khác nhau đã khiến người cổ đại tin rằng đấng tối cao đã sáng tạo muôn loài, sáng tạo ra cả nhà nước và luật pháp, nên cũng chỉ có thần thánh mới là người công minh nhất, thần thánh mới là người cho họ biết thế nào nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là công bằng hay không công bằng. “Thử tội” bởi thế phản ánh trạng thái thụ động, phản ánh sự bất lực của con người trong việc tìm kiếm sự thật vụ án, cũng như phản ánh sự phó thác của con người cho “thánh thần” định liệu các vụ việc pháp lý.
    Về xét xử, những vị tăng lữ thời kỳ này cũng đồng thời là những thẩm phán. Họ chính là những chuyên gia luật đầu tiên trong lịch sử nhân loại.[11] Về địa điểm xét xử, các phiên xét xử được diễn ra công khai ở cổng vào các thành thị, mục đích là để tất cả mọi người đều có thể chứng kiến và tiếp cận với công lý.[12]
    Các nhà khảo cổ đã tìm được hai di chỉ khảo cổ học thời kỳ này cho thấy những bằng chứng liên quan đến việc xét xử một vụ án.
    Nội dung vụ việc như sau: “Có ba người đàn ông và một người phụ nữ bị kiện. Ba người đàn ông, một người làm nghề cắt tóc, một người làm vườn, một người không có nghề nghiệp cụ thể đã giết một tăng lữ. Sau đó ba người này đã thông báo cho vợ của người bị giết, nhưng người phụ nữ này đã che giấu, không tố giác hành vi giết người của họ.
    Khi xét hỏi, người phụ nữ này khai rằng chồng của bà ta (tức là người bị giết) là một người độc ác, thường xuyên đánh đập dã man, đối xử tệ bạc với người vợ này.
    Một vị tăng lữ đã đứng ra bào chữa cho chị ta và nói: ‘Nếu chồng chị ta đối xử với chị như vậy thì họ không còn là vợ chồng nữa mà là kẻ thù. Nếu là kẻ thù thì tại sao người phụ nữ phải khai người đã giết kẻ thù của mình. Hãy xét xử ba kẻ giết người là đủ rồi, đừng làm oan người vô tội.’
    Thẩm phán xét xử cho rằng lập luận của vị tăng lữ kia là có lý. Cuối cùng ba người đàn ông bị kết án xử tử, còn người phụ nữ được tha vì được coi là không có tội.”[13]
    Vụ án này cho thấy giữa những gì Bộ luật qui định và thực tiễn xét xử thời kỳ này đã là một khoảng cách rất xa. Bộ luật Urnammu có phạm vi điều chỉnh rộng, nhưng cũng chỉ qui định được những trường hợp có tính điển hình chứ không lường tính hết được các tình huống đa dạng, phức tạp của cuộc sống. Đây cũng là một ví dụ rất rõ cho thấy thẩm phán khi xét xử tha tội cho người phụ nữ không tố giác những kẻ đã giết chồng mình đã không dựa vào Bộ luật, mà dựa trên thực tế, lý lẽ và cả góc nhìn có tính chủ quan của mình.
    Một câu hỏi khác đặt ra là cách thức tiến hành, trình tự thủ tục xét xử, cách thức thi hành hình phạt tử hình thực sự đã diễn ra như thế nào, số tiền phạt sẽ được xung công hay để bồi thường cho người bị hại đến nay vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ. Nếu không đồng ý với phán quyết, liệu đương sự có quyền kháng cáo lại phán quyết của vị thẩm phán này và kiến nghị lên thị trưởng thành phố để xử phúc thẩm hay không? Đây vẫn là vấn đề chưa được khoa học lịch sử pháp luật làm sáng tỏ.
    Các qui phạm của Bộ luật Urnammu cũng cho thấy một điều khá thú vị là vị trí của “nô lệ” (slave) trong xã hội lúc này khác cơ bản so với nô lệ ở La Mã. Số lượng nô lệ cũng kém xa so với các nhà nước La Mã thời cổ đại sau này. Nếu như trong xã hội La Mã cổ đại, nô lệ không được coi là “người”, thì ở Lưỡng Hà cổ đại thời kỳ này nô lệ vẫn có tư do, họ có tài sản riêng, được giao kết hợp đồng (Điều 32), được quyền kết hôn, thậm chí được quyền kết hôn với người tự do (Điều 5).[14] Những điều này là không thể có ở xã hội La Mã cổ đại, đặc biệt là từ thế kỷ thứ 2 SCN trở đi.
    Theo kết quả nghiên cứu của khoa học đến nay, Bộ luật Urnamu có thể được coi là Bộ luật cổ xưa nhất của nhân loại. Nội dung và giá trị của Bộ luật này đến nay vẫn tiếp tục được nhiều ngành khoa học tập trung nghiên cứu. Bộ luật này, cùng với Bộ luật Hammurabi không chỉ có giá trị nghiên cứu khoa học pháp lý, mà còn là nguồn cứ liệu lịch sử quí giá để tìm hiểu về nền văn hóa Lưỡng Hà cổ đại – một trong sáu nền văn hóa lớn nhất, phát triển rực rỡ nhất thời kỳ cổ đại của loài người cùng với Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp và La Mã.

      BẢN DỊCH THAM KHẢO TIẾNG VIỆT MỘT VÀI ĐIỀU KHOẢN CỦA BỘ LUẬT URNAMMU

    Dưới đây là bản dịch tham khảo Tiếng Việt nội dung một vài điều trong Bộ luật này. Nguồn bản gốc tác giả bản dịch tham khảo từ các tài liệu sau: Samuel Noah Kramer, Geschichte beginnt mit Sumer, 1959, S. 105 f.; Uwe Wesel, Geschichte des Rechts – von den Frühformen bis zur Gegenwart, 3. Aufl., 2006, S. 75 f; Martha Tobi Roth, Law Collections from Mesopotamia and Asia Minor, in: Writings from the Ancient World, Vol 6, Society of Biblical Literature, 1995, pp. 13; Claus Wilcke, Der Kodex Urnamma: Versuch einer Rekonstruktion, in: Zvi Abusch (Hrsg.), Riches hidden in secret places: ancient Near Eastern studies in memory of Thorkild Jacobson, Winona Lake 2002, S. 291–333.

    Điều 1. Nếu ai phạm tội giết người, người đó sẽ bị xử tử.
    Điều 2. Nếu ai phạm tội cướp, người đó cũng sẽ bị xử tử.
    Điều 3. Nếu ai phạm tội bắt cóc, người đó sẽ bị tống giam và phải chịu nộp phạt 15 schekel.[15]
    […]
    Điều 5. Nếu nô lệ cưới người tự do, nô lệ đó phải trao người con đầu lòng của mình cho người chủ.
    Điều 6. Nếu một người phá hoại trinh tiết vợ chưa cưới của người khác thì người đó sẽ bị giết.
    Điều 7. Nếu một người phụ nữ đã kết hôn mà ngoại tình đi theo một người đàn ông khác thì người phụ nữ đó sẽ bị giết chết và người đàn ông được trả tự do.
    Điều 8. Nếu một người đàn ông tự do mà phá hoại trinh tiết người vợ chưa cưới của một người nô lệ khác thì người đó phải nộp phạt 5 schekel.
    Điều 9. Nếu một người đàn ông mà muốn ly dị người vợ đầu tiên của mình, anh ta phải trả cho người vợ đó 60 schekel.
    Điều 10. Nếu một người đàn ông mà muốn cưới lại người vợ mà mình đã ly dị, anh ta sẽ phải trả người phụ nữ đó 30 schekel.
    Điều 11. Nếu một người đàn ông mà ngủ với một người phụ nữ góa bụa, anh ta sẽ không bị nộp phạt.
    […]
    Điều 13. Nếu một người bị cáo buộc là dùng tà đạo ma thuật, anh ta phải chịu thử tội bằng hình thức ném xuống sông.[16] Nếu anh ta không bị chết, anh ta sẽ được coi là vô tội và được tha bổng.
    Điều 14. Nếu một người đàn ông bị cáo buộc là đã thông dâm với vợ của người đàn ông khác, anh ta sẽ phải chịu thử tội bằng hình thức ném xuống sông. Nếu qua thử tội cho thấy anh này vô tội thì người đã cáo buộc anh ta thông dâm phải trả anh ta 20 schekel.
    Điều 15. Nếu một người đàn ông đã đem sính lễ đến cưới một cô gái và ông bố vợ tương lai này đã nhận sính lễ, nhưng sau đó lại nuốt lời và gả người con gái đó cho một người đàn ông khác thì ông bố này sẽ phải trả cho người đàn ông đó tài sản bằng 2 lần giá trị đồ sính lễ.
    Điều 17. Nếu nô lệ trốn thoát khỏi thành phố, một người khác đã tìm thấy nô lệ chạy trốn đó trả lại cho chủ cũ thì người chủ đó phải trả cho người này 2 schekel.
    Điều 18. Nếu một người làm mù mắt người khác, anh ta sẽ phải chịu phạt 30 schekel.
    Điều 19. Nếu một người làm gẫy chân người khác, anh ta sẽ phải chịu phạt 10 schekel.
    Điều 20. Nếu trong khi ẩu đả, một người làm người kia tàn phế, không thể lao động được nữa, người đó sẽ phải chịu phạt 60 schekel.
    Điều 21. Nếu một người dùng dao cắt mũi người khác, anh ta phải chịu phạt 10 schekel.
    Điều 22. Nếu một người làm gẫy răng người khác, người đó sẽ phải trả 2 schekel.
    […]
    Điều 24. […] Nếu người đó không có nô lệ, anh ta sẽ phải trả 10 schekel. Nếu không có bạc, anh ta phải trả bằng những tài sản có giá khác của mình.
    Điều 25. Nếu vợ nô lệ của một người đàn ông tự do mà so sánh mình với bà chủ, nói lớn tiếng hỗn xược với bà chủ, cô ta sẽ bị đổ một chai muối vào miệng.
    […]
    Điều 28. Nếu người làm chứng mà khai man trước tòa sẽ phải trả 15 schekel.
    Điều 29. Nếu người làm chứng mà rút lại lời thề thì phải trả tiền bằng giá trị vụ việc đang tranh chấp.
    Điều 30.Người lén lút trồng cây trên thửa đất của người khác thì hoa lợi trên đất đó có được sẽ không thuộc về anh ta.
    Điều 31. Người làm ngập úng đồng lúa mạch của người khác, người đó sẽ bị phạt bồi thường tài sản.
    Điều 32. Nếu một người đã thuê người khác cày cấy, nhưng người này đã không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết mà bỏ hoang cánh đồng ấy, anh ta sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng và bị phạt.

    [1] Đọc thêm: Claus Wilcke, Der Kodex Urnammu: Versuch einer Rekonstruktion. In: Zvi Abusch (Hrsg.): Riches hidden in secret places: ancient Near Eastern studies in memory of Thorkild Jacobson, Winona Lake 2002, S. 291–333; Martha Tobi Roth, Law Collections from Mesopotamia and Asia Minor. Writings from the Ancient World. vol 6. Society of Biblical Literature, 1995, pp. 13; Samuel Noah Kramer, Geschichte beginnt mit Sumer, München, 1959, 105 f.; Gurney and Kramer, Two Fragments of Sumerian Laws, 16 Assyriological Studies, pp. 13–19; Uwe Wesel, Geschichte des Rechts – von den Frühformen bis zur Gegenwart, 3. Aufl., 2006, S. 75.
    [2] Một vài điều trong đó lần đầu được dịch bởi tác giả Sammuel Kramer (1897–1990) vào năm 1952. Xem: Samuel Noah Kramer, Geschichte beginnt mit Sumer,München, 1959, 105 f.
    [3] Gurney and Kramer, Two Fragments of Sumerian Laws, 16 Assyriological Studies, pp. 13–19.
    [4] Uwe Wesel, Geschichte des Rechts – von den Frühformen bis zur Gegenwart, 3. Aufl., 2006, S. 74.
    [5] Qui định ẩn ở đây được hiểu là qui phạm của Bộ luật này về trực quan chỉ bao gồm hai bộ phận là bộ phận giả định và chế tài, bộ phận qui định đã bị ẩn đi. Ví dụ Điều 1của Bộ luật này qui định: “Nếu ai phạm tội giết người, người đó sẽ bị xử tử”, thì bộ phận “Nếu ai phạm tội giết người” là bộ phận giả định, còn “người đó sẽ bị xử tử” là bộ phận chế tài.
    [6] Falkenstein, Die neusumerischen Gerichtsurkunden, 3. Band, 1956, S. 10 f.
    [7] Nguyễn Minh Tuấn, Bộ luật Hammurabi – Bộ luật cổ xưa của nhân loại, Tạp chí Luật học, Số 6/2005, tr. 65–68.
    [8] Ngày nay ở nhiều nước vật dẫn cưới (quà cưới) là một qui định bắt buộc. Chẳng hạn như ở các nước đạo Hồi, cô dâu chứ không phải chú rể có nghĩa vụ phải đưa vật dẫn cưới. Ở Nam Phi thì quà cưới do chú rể và họ hàng của cô dâu thỏa thuận không phải bằng tiền mà theo truyền thống là thịt bò, nhà trai phải đưa đến nhà gái. Khi phụ nữ ly hôn, gia đình nhà gái phải trả lại cho nhà trai số thịt bò đó hoặc trả lại tiền.
    [9] Uwe Wesel, Geschichte des Rechts – von den Frühformen bis zur Gegenwart, 3. Aufl., 2006, S. 77.
    [10] Hình thức thử tội (ordeal) trong lịch sử pháp luật thế giới có rất nhiều hình thức, đây là hình thức thử tội bằng nước (ordeal of water). Trong luật Frankish sau này cũng nêu lại hình phạt này, nhưng sau đó được vua Louis the Poious bãi bỏ năm 892 SCN.
    [11] Funck/Reissner, Allgemeine Staats- und Rechtsgeschichte, Von der Entstehung des Staates bis zum Kapitalismus, 1980, S. 47.
    [12] Funck/Reissner, Allgemeine Staats- und Rechtsgeschichte, Von der Entstehung des Staates bis zum Kapitalismus, 1980, S. 48.
    [13] Uwe Wesel, Geschichte des Rechts – von den Frühformen bis zur Gegenwart, 3. Aufl., 2006, S. 79 f.
    [14] Claus Wilcke, Der Kodex Urnamma (CU): Versuch einer Rekonstruktion. In: Zvi Abusch (Hrsg.): Riches hidden in secret places: ancient Near Eastern studies in memory of Thorkild Jacobson, Winona Lake 2002, S. 291–333; Uwe Wesel,Geschichte des Rechts – von den Frühformen bis zur Gegenwart, 3. Aufl., 2006, S. 77 f.
    [15] Schekel là đơn vị tiền tệ thời kỳ này. Một schekel khoảng 11 gam bạc (Xem:Gurney and Kramer, Two Fragments of Sumerian Laws, 16 Assyriological Studies, pp. 13).
    [16]Xem Fn. 10.

    Nguồn: http://tuanhsl.blogspot.com

  • Hội họa đã xuất hiện từ rất lâu, từ khi chữ viết của con người còn chưa xuất hiện, từ lịch sử mỹ thuật ta có thể đưa ra kết luận: hội họa là một ngôn ngữ để truyền đạt ý tưởng bằng các tác phẩm sử dụng kỹ thuật (nghệ) và phương pháp (thuật) của họa sỹ. Trong hội họa, thuật ngữ “trường phái” dùng để chỉ một phong cách, trong đó phân loại một nhóm các họa sỹ có chung những kỹ thuật và phương pháp thể hiện. Để tìm hiểu kĩ và sâu hơn về một số trường phái nghệ thuật trong đó, nhóm chúng em xin chọn đề tài số 3: “Trình bày về Trường phái hội họa Ấn tượng, Hậu ấn tượng”

    HỘI HỌA ẤN TƯỢNG

    NỘI DUNG

     

    I. THỜI GIAN TỒN TẠI CỦA MỖI TRƯỜNG PHÁI VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA NÓ TRONG THẾ GIỚI MĨ THUẬT

     

    1. Trường phái Ấn tượng – Impresionnism (1874-1886)

    Ấn tượng (tiếng Pháp: Impressionnisme; tiếng Anh: Impressionism) là một trào lưu nghệ thuật bắt đầu tại Paris (Pháp) vào cuối thế kỷ 19.
    Từ khoảng giữa thế kỉ thứ 19, hầu như cách duy nhất để các họa sĩ có thể thành công là được trưng bày tranh của mình ở Salon, Paris. Salon là cuộc triển lãm tranh nghệ thuật chính thức hàng năm. Người họa sĩ nào đoạt giải thưởng ở Salon này đồng thời cũng nhận được cơ hội có hợp đồng béo bở sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật phục vụ cho chính phủ và nhiều đại gia tư sản thường có thị hiếu của hội họa hàn lâm chính thống.
    Khi các họa sĩ phái Ấn tượng nộp tranh của mình cho Salon, các tác phẩm của họ thường bị từ chối hết. Ban Giám khảo Salon chỉ khuyến khích, trưng bày và trao giải thưởng cho các tác phẩm theo phái Tân cổ điển. Đối với họ, tác phẩm của các họa sĩ phái Ấn tượng chỉ gồm những nét bút liều lĩnh, không hoàn thiện và gây xúc phạm. Cái tên “ấn tượng” là do nhà phê bình hàn lâm Louis Leroy gọi theo một bức tranh nổi tiếng của Claude Monet: Impression, soleil levant (Ấn tượng mặt trời mọc).
    Trường phái ấn tượng đánh dấu một bước tiến quan trọng của hội họa. Trường phái này hình thành từ Paris hiện đại.Đó là chất xúc tác, là nơi xuất phát và là chủ đề của trường phái ấn tượng. Trong thập niên 1850, Paris vẫn còn là một thành phố thời Trung cổ với những con đường quanh co, nhỏ hẹp, thiếu vệ sinh và thiếu cả ánh sáng. Vào khoảng thập niên 1870, thời hoàng kim của trường phái ấn tượng, thành phố cũ già nua này đã bị phá bỏ thành bình địa để từ đó xây dựng lại một thủ đô với những đại lộ dài, với hàng dãy tiệm cà phê, nhà hàng, và nhà hát.
    Cuộc triển lãm đầu tiên vào năm 1874 của các họa sĩ Ấn tượng trưng bày bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc của Monet dường như là điểm báo cho sự xuất hiện, bung mở về nghệ thuật tạo hình, là nền tảng của những gì sẽ xuất hiện sau này.

    2.Trường phái hội họa Hậu Ấn Tượng – Post impressionism ( 1886-1910)

    Trường phái Hậu Ấn tượng bắt đầu từ Châu Âu từ cuối thế kỉ 19.
    Hậu ấn tượng là tên gọi chung để chỉ tới những nghệ sĩ thuộc thời kỳ sau trường phái ấn tượng. Trường phái ấn tượng là một bước ngoặt trong hội họa, rũ bỏ những quan niệm từng tồn tại rất nhiều năm ở châu Âu. Từ sau ấn tượng, nhiều nghệ sĩ độc lập tìm tòi sáng tạo và đi theo các hướng khác nhau. Mặc dù họ không có phong cách sáng tác giống nhau, nhưng được gọi chung là hậu ấn tượng. Thuật ngữ này do nhà phê bình người Anh Roger Fry đặt ra chỉ những họa sĩ như Paul Cézanne, Paul Gauguin, Vincent Van Gogh.
    Các nghệ sĩ hậu ấn tượng từ chối rập khuôn theo chủ nghĩa ấn tượng và từng người tìm cách nổi bật cá tính của mình, có thái độ biểu hiện chủ nghĩa trong hình họa, màu sắc và cách giải quyết đề tài. Đó thực sự làm nên một nghệ thuật mới với những tuyên ngôn thẩm mĩ khác, không giống với nghệ thuật và kĩ thuật của xu hướng ấn tượng mà họ cùng tham gia trước đó.

    II.ĐẶC TRƯNG SÁNG TÁC CỦA MỖI TRƯỜNG PHÁI

    1.Trường phái Ấn tượng

    Nét đặc trưng của trường phái tranh Ấn tượng là cách sử dụng màu sắc va đập, ánh sáng tự nhiên, lối vẽ bất nghi thức, đường nét thô ngắn để tập trung thể hiện cảm nhận ban đầu, tức thời về đối tượng.
    Flood at Port-Marly, 1876 của Alfred Sisley
    Chủ đề: Chủ đề trong tranh của các họa sĩ Ấn Tượng thường hiện đại, hướng về thiên nhiên, cảnh sắc thành phố của nước Pháp với các đại lộ và khu giải trí ở Paris, khu ngoại ô tràn ngập dân du lịch và giới kỹ nghệ…Con mắt nhìn nhận mới, nhanh, không định kiến, ít thể hiện cảm xúc, tâm tư trước đề tài. Đó là các phụ nữ Paris hiện đại tại công viên, quán café…trong tranh của Renoir, cảnh ngoại ô Paris trong tranh của Monet, Camille Pissarro và Alfred Sisley, cảnh múa bales trong tranh của Degas…
    Kỹ thuật: Bức tranh được vẽ nhanh, chủ trương ghi lại những khoảnh khắc tức thời, tổng quan của đề tài lúc mới nhìn. Bố cục tranh không theo quy luật, không chú trọng vào chi tiết mà tóm bắt toàn diện cảnh vật.
    Ánh sáng và màu sắc: Ánh sáng được chú trọng với mục đích tóm bắt những hiệu ứng thị giác ghi nhận được từ thế giới xung quanh. Bức tranh có sự pha trộn không hạn chế giữa các màu với nhau và nhấn mạnh đến sự thay đổi và chất lượng của độ sáng trong tranh. Các bức vẽ thường có màu sắc rực rỡ, có vẻ cường điệu không tự nhiên, đối chọi, va đập rất mạnh, bỏ qua các quy luật tối sáng của phương pháp cổ điển. Ánh sáng khí trời tràn ngập khắp bức tranh thay thế cho nguồn sáng đèn vốn là nguồn sáng duy nhất trước đó.
    Đường nét: Lối vẽ bất nghi thức với đối tượng, các nét vẽ ngắn, rõ nét cọ, các đường quệt màu đa dạng (stroke, tache), thô tạo cảm giác như bức tranh chưa hoàn thành.
    Các họa sĩ tiêu biểu của trường phái Ấn tượng
    Nhóm họa sĩ Ấn tượng đầu tiên ở Paris cũng đồng thời là những người nổi bật nhất của trường phái này. Tuy cùng có chung khuynh hướng nghệ thuật Án tượng nhưng tranh của mỗi họa sĩ lại có những nét đặc trưng khác nhau tạo nên sự đa dạng phong phú cho trường phái.
    – Claude Monet ( 1840 -1926): Được mệnh danh là “người cha của hội họa ấn tượng”, là họa sĩ tiêu biểu và nổi tiếng số một của trường phái này với số lượng tác phẩm đồ sộ và quan điểm nghệ thuật nhất quán suốt cuộc đời. Ông còn được coi là ” Họa sĩ của những khoảnh khắc phù du”, “nhà biểu tượng của màu sắc”. Tranh của ông chú ý tới thiên nhiên, coi trọng diễn tả ánh sáng và màu sắc, ghi lại sự tươi mới của ấn tượng ban đầu một cách trung thực tuyệt đối. Những bức tranh về khu vườn, hoa súng của ông được công chúng đặc biệt yêu thích.
    Chân dung Paul Cézanne và Claude Monet

    – Camille Pissarro ( 1830 -1903): Họa sĩ người Pháp này là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái Ấn tượng và Ấn tượng mới. Pissarro yêu thích cảnh đồng quê và thể hiện đề tài chính trong tranh là những cảnh lao động trên cánh đồng, cảnh sông nước. Những bức tranh nổi tiếng nhất của ông là ngôi nhà từ Montfoucault, những con đường Toits, Mùa xuân ởPontoise…
    – Pierre Auguste Renoir (1841- 1919): Họa sĩ người Pháp, bạn thân và đồng khởi xướng trường phái tranh Ấn tượng với Claude Monet. Ông là một họa sĩ luôn đề cao vẻ đẹp, đặc biệt là về vẻ đẹp cơ thể của nữ giới. Ông ưa thích mô tả tác dụng của ánh sáng mặt trời trên hình thể phụ nữ và trên các bông hoa. “Renoir là hiện thân cuối cùng của truyền thống chuyển tiếp từ Rubens tới Watteau”
    – Alfred Sisley (1839 -1899): Là họa sĩ người Anh, theo trường phái Ấn tượng của Pháp. Tranh của ông được miêu tả “gần như là một tính chất chung nhất, có ý tưởng khách quan nhất từ sách vở rằng thế nào là một bức tranh theo trường phái ấn tượng”. Không gian và bầu trời trong các tác phẩm của ông gây ấn tượng nhiều nhất. Ông tập trung vào mảng đề tài khung cảnh và là người nhất quán nhất trong các họa sỹ theo trường phái này. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của Sisley là Đường ở Moret, Những đồi cát, Chiếc cầu tại Moret…
    – Paul Cézanne (1889 – 1906): Họa sĩ người Pháp này được cho là cây cầu nối giữa trường phái Ấn tượng và trường phái lập thể, là “cha đẻ của hội họa hiện đại”. Tranh của Cezanne thường thể hiện sự sắc xảo trong thiết kế, màu sắc và pha trộn. Đặc trưng dễ nhận biết là những nét vẽ tìm tòi và nhạy cảm.

    2. Trường phái Hậu ấn tượng

    Những bức tranh thuộc trường phái ấn tượng được vẽ bằng những nét cọ có thể nhìn thấy được, sự pha trộn không hạn chế giữa các màu với nhau và nhấn mạnh đến sự thay đổi và chất lượng của độ sáng trong tranh.
    Hai ý tưởng đáng chú ý trong trường phái này là: Bức tranh được vẽ rất nhanh với mục đích là ghi lại một cách chính xác tổng quan của khung cảnh.Tiếp theo sau là thể hiện một cái nhìn mới,nhanh và không định kiến; khác với trường phái hiện thực,tự nhiên.
    Một vài tác phẩm tiêu biểu
    Alfred Sisley (1839-1899)
    Mary Cassatt (1844 -1926
    Edouard Manet khởi đầu cho những lý thuyết về màu sắc, ánh sáng và có phần nào ít hơn về sự chuyển động và điều đó đã trở thành mục tiêu của các họa sĩ Ấn tượng. Phần kết quả mà Manet đạt được trong họa phẩm thuộc thời kỳ đầu của ông. Nó khiến các họa sĩ quan tâm hơn đến bề mặt phẳng dẹt của mặt phẳng mà họ sáng tác trên đó. Điều này trở thành cực kỳ quan trọng về sau này, khi họa sĩ sử dụng bút cứng, bàn chải và tạo ra những vết cào, rạch, cùng những dấu vết khác mang lại cho người thưởng ngoạn một trải nghiệm về tác phẩm, về sự từng trải của chính tác phẩm và một số cảm giác của họa sĩ khi sáng tác ra nó. Đó là bước khởi đầu loại hình có tính vật lý trong hội họa để cuối cùng trở thành đề tài ý nghĩa trong hội họa Trừu tượng.
    Yếu tố thời tiết, ánh sáng của mặt trời tác động đến thiên nhiên cũng tạo ra cho các nghệ sĩ Ấn tượng những hiệu quả đáng kể. Họ hiểu được rằng sự làm mờ hoặc làm tối đi phần nào vật thể thì cũng đạt được những hiệu quả mạnh mẽ tựa như ánh sáng mặt trời hoặc thời tiết sương mù tác động đến thiên nhiên khi họ vẽ ngoài trời. Điển hình như trong tranh của Claude Monet, ở một loại tranh ông vẽ về đống rơm, về nhà thờ, về hoa súng, hoa trên cánh đồng, về cầu Waterloo và trong loạt tranh vẽ ở những khu vườn.
    Nhằm đạt được vẻ rung động ánh sáng, các họa sĩ Ấn tượng triển khai gối lên nhau những màu sắc bổ sung trong những vùng rộng nhằm tạo sự sáng chói lớn lao hơn và để diễn tả các vùng tối thì họ sử dụng những màu sắc đối nghịch với màu của các vật thể in bóng dưới nước. Họ cũng làm sống lại một kỹ thuật cũ là tạo ra những vệt sơn dày nhằm nắm bắt và phản ánh ánh sáng thực từ bề mặt. Kỹ thuật này gọi là sơn theo lối “đốm”. Tuy vậy, bước đột phá quan trọng của nghệ sĩ Ấn tượng là sử dụng các màu sắc được hòa trộn từ những màu riêng rẽ. Ta sẽ tìm được tiếng nói chung này của Ấn tượng với việc phóng to các điểm ảnh số ngày nay, khi ta phóng đại nó với mức độ nhiều chục lần.
    Và cũng chính bởi việc các họa sĩ Ấn tượng loại bỏ sắc đen ra khỏi tác phẩm của mình mà thay vào đó sự phân giải bóng tối thành những quệt màu nhỏ đan xen, tạo ra thứ bóng tối có màu rung rinh ẩn hiện. Vì vậy mà mặt tranh càng trở nên sáng, điều này rất gần gũi với tính chất của màn hình điện tử sau này. Điều đó càng khẳng định sự đóng góp to lớn của các họa sĩ Ấn tượng đối với nghệ thuật hiện đại.
    Những thu lượm của khoa học thông qua việc khám phá về quang học cũng đã giúp cho các họa sĩ Ấn tượng có những khai thác về vẻ lung linh của tự nhiên. Trong những tác phẩm của Renoir, ông đã khai thác những vệt sáng lung linh dưới tán lá, trên thảm cỏ…

    III. ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT QUA TỪNG SÁNG TÁC

     

    1.Trường phái Ấn tượng

    Trường phái hội họa ấn tượng là một mốc quan trọng trong sự phát triển của mĩ thuật châu Âu, nó đánh dấu một giai đoạn mới bắt đầu bằng sự phá vỡ các quy tắc mang tính hàn lâm,cứng nhắc, tôn trọng sự tự do trong sáng tạo của ngời họa sĩ. Trường phái hội họa ấn tượng đã nảy sinh ra những họa sĩ tên tuổi có nhiều đóng góp cho lịch sử mĩ thuật thế giới.
    Họa sĩ Mô – nê (Claude Monet) (1840-1926): Là một trong những nhà sáng lập ra trường phái ấn tượng ( với họa sĩ Pierre Auguste Renoir) và là họa sĩ tiêu biểu nhất của trường phái hội họa ấn tượng.
    Mônet là họa sĩ hăm hở, miệt mài với những khám phá về ánh sáng và màu sắc, có thể vẽ đi vẽ lại một cảnh rất nhiều lần với những không gian, thời gian khác nhau như bức Nhà thờ ở Ru – văng. Ông là người quan tâm tới vẻ tươi rói, rực rỡ của cảnh vật bằng nét bút phóng khoáng nhưng chính xác.
    Một số tác phẩm tiêu biểu: Ấn tượng mặt trời mọc, Hoa súng, Nhà thờ lớn ở Ru – văng,…
    Bức tranh : Ấn tượng mặt trời mọc.
    Được vẽ năm 1872 tại cảng Lơ ha vơ (Hà lan) được lấy tên để dặt cho trường phái hội họa mới – trường phái Ấn tượng. Bức tranh là cảnh sớm mai tại hải cảng, Nếu nhìn kỹ bức tranh sẽ thấy trong sự mờ ảo của hậu cảnh một vầng màu da cam ánh lên qua lớp màn xương dày đặc đăng chiếu xuống khoảng không gian màu xanh của lá cây pha tím mang những nét màu xanh lơ, in hình bóng cây cối, bến nước, con thuyền.
    Họa sĩ  Vanh – xăng Van gốc: (Vincent Van Gogh) ( 1853 – 1890)
    Là họa sĩ người Hà Lan, sinh ra trong một gia đình sư mục nghèo. Năm 1886, ông tới Pháp sinh sống và sáng tác cho đến cuối đời. Đây là thời ký sáng tác phong ohus nhất của ông với những đề tài phản ánh sinh hoạt của người nông dân, những người lao động bình thường và tranh phong cảnh.
    Tranh của họa sĩ có những nét đặc biệt và màu sắc rực rỡ phối hợp với hình, cộng với nét bút mạnh mẽ, không gian căng tràn tạo ra trong tranh đầy kịch tính.
    Một số tác phẩm tiêu biểu: Những người ăn khoai, Cánh đồng Ô – vơ, Hoa hướng dương, Quán cà phê đêm,…
    Bức tranh : Những người ăn khoai.
           Ý tưởng của bức tranh: Họa sĩ Vanh- xăng Van gốc muốn miêu tả những người nông dân một cách chân thực. Ông đã chọn vẽ những người nông dân xấu xí và thô kệch theo đúng với ngoại hình vốn có của một người nông dân và bằng cách đó họ trở nên tự nhiên trong bức tranh.  Họ sống thực với hiện thực, họ vẫn đẹp với cái thực của cuộc sống. Củ khoai do chính tay họ trồng và đào lên với mồ hôi và nước mắt, một cái đẹp không giả tạo, cái đẹp đương thời.

    Bức tranh: Hoa hướng dương
    Với vẻ ngoài lạnh lùng, bức tranh Hoa hướng dương đã thu hút được sự quan tâm của người thưởng thức. Một số bông hoa trong bức tranh này có sự biến dạnh, đó không phải là hệ quả của chứng bệnh tâm thần mà là hình ảnh của những bông hoa hướng dương bị đột biến.
    Bức tranh Đôi giầy.

    2.Hậu ấn tượng

    Các nghệ sĩ hậu ấn tượng từ chối rập khuôn theo chủ nghĩa ấn tượng và từng người tìm cách nổi bật cá tính của mình, có thái độ biểu hiện chủ nghĩa trong hình họa, màu sắc và cách giải quyết đề tài. Đó thực sự làm nên một nghệ thuật mới với những tuyên ngôn thẩm mĩ khác, không giống với nghệ thuật và kĩ thuật của xu hướng ấn tượng mà họ cùng tham gia trước đó. Ba họa sĩ Paul Cézanne, Paul Gauguin, Vincent Van Gogh với ba phong cách hiện thực đã làm phong phú và đa dạng một thời kỳ ngắn ngủi nhưng vang dội và đầy hấp dẫn của của nghệ thuật. Họ báo hiệu cho các trào lưu sẽ nở rộ ở thế kỷ 20.
    Paul Cézanne: Paul Cézanne (19 tháng 1 năm 1839 – 22 tháng 10 năm 1906) là một họa sĩ người Pháp thuộc trường phái Hậu ấn tượng; ông là người được cho là cây cầu nối giữa trường phái ấn tượng thế kỷ 19 tới trường phái lập thể thế kỷ 20.
    Cézanne đã từ bỏ yếu tố nghệ thuật cổ điển như sắp xếp ảnh, quan điểm nhìn duy nhất, và vạch ra rằng màu sắc kèm theo trong một nỗ lực để có được một “quan điểm sống” bằng cách bắt tất cả sự phức tạp mà một mắt quan sát.Ông muốn nhìn thấy và cảm nhận được các đối tượng ông đã vẽ, chứ không phải nghĩ về họ.Cuối cùng, ông muốn có được đến độ “tầm nhìn” cũng là “liên lạc”. Ông sẽ mất thời gian đôi khi để đặt xuống một nét duy nhất bởi vì mỗi đột quỵ cần thiết để có “không khí, ánh sáng, đối tượng, thành phần, nhân vật, đề cương, và phong cách”.Một cuộc sống vẫn còn có thể lấy Cézanne một trăm buổi làm việc trong khi một chân dung đưa ông xung quanh một trăm năm mươi phiên. Cezanne tin rằng trong khi ông vẽ, ông đã chụp một thời điểm trong thời gian, một khi được thông qua, không thể quay lại.Bầu không khí xung quanh những gì ông đã vẽ là một phần của thực tế giật gân ông đã vẽ. Cézanne đã bảo rằng: “Nghệ thuật là một danh từ apperception cá nhân, mà tôi thể hiện trong cảm giác và mà tôi yêu cầu sự hiểu biết để tổ chức thành một bức tranh”.
    Các tác phẩm của Cézanne thể hiện sự sắc sảo trong thiết kế, màu sắc, pha trộn.Những nét vẽ tìm tòi, nhạy cảm của ông mang tính đặc trưng và rất dễ nhận biết.
    Eugène Henri Paul Gauguin
    Eugène Henri Paul Gauguin (7 tháng 6 năm 1848 – 8 tháng 5 năm 1903) là họa sĩ hàng đầu của trào lưu hậu ấn tượng.
    Paul Gauguin sinh ra tại Paris, mẹ ông là người Peru gốc ga trắng. Khi còn trẻ, Paul Gauguin thích phiêu lưu, mạo hiểm. 17 tuổi, ông làm thủy thủ trên tàu Luzitano thực hiện các chuyến đi từ Le Havre, Pháp tới Rio de Janeiro. Hai năm sau đó, Paul Gauguin đã đi vòng quanh thế giới trong 13 tháng với tư cách thuyền phó. Năm 1871, ông từ bỏ hải quân về làm việc trong một văn phòng của Bertins ở Paris. Paul Gauguin lấy vợ, người Đan Mạch, và có 4 người con. Ông bắt đầu vẽ trong thời gian làm việc tại ngân hàng. Năm 1874, Paul Gauguin gặp Camille Pissarro cùng các nghệ sĩấn tượng khác, cùng nhau đi vẽ và tham gia trưng bày tranh. Ông từ bỏ việc môi giới chứng khoán để theo đuổi hội họa. Ông tiếp tục chu du nhiều nơi, đến tận Tahiti, vẽ rất nhiều tác phẩm giá trị. Một bức tranh nổi tiếng của ông có tên Chúng ta từ đâu đến – Chúng ta là ai – Chúng ta đi về đâu được vẽ trên khổ lớn 1,39 x 3,75 mét, vẽ năm 1897, mang tính triết lý, tượng trưng về cuộc sống và con người.
    Dưới ảnh hưởng của nghệ thuật dân gian và in Nhật Bản , làm việc Gauguin phát triển theo hướng Cloisonnism , một phong cách được đặt tên bởi các nhà phê bình Édouard Dujardin để đáp ứng với Émile Bernard phương pháp ‘s của bức tranh với khu vực bằng phẳng của màu sắc và đường nét đậm, có nhắc nhở Dujardin của thời trung cổ cloisonne kỹ thuật tráng men. Gauguin đã rất đánh giá cao nghệ thuật của Bernard và táo bạo của mình với việc làm của một phong cách phù hợp với Gauguin trong nhiệm vụ của mình để thể hiện bản chất của các đối tượng trong nghệ thuật của mình.
    Paul Gauguin chính là một trong ba gương mặt quan trọng nhất của trào lưu hậu ấn tượng cùng với Paul Cézanne, Vincent van Gogh.Van Gogh = Chân dung tự họa (1887)
    Vincent Willem van Gogh (sinh ngày 30 tháng 3 năm 1853, mất ngày 29 tháng 7 năm 1890), là một danh hoạ Hà Lan thuộc trường phái hậu ấn tượng. Nhiều bức tranh của ông nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất và cũng đắt nhất trên thế giới. Van Gogh là nghệ sĩ tiên phong của trường phái biểu hiện và có ảnh hưởng rất lớn tới mỹ thuật hiện đại, đặc biệt là tới trường phái dã thú (Fauvism) và trường phái biểu hiện tại Đức.

    Thời thanh niên, Van Gogh làm việc trong một công ty buôn bán tranh, sau đó là giáo viên vànhà truyền giáo tại một vùng mỏ nghèo. Ông thực sự trở thành họa sĩ từ năm 1880 khi đã 27 tuổi. Thoạt đầu, Van Gogh chỉ sử dụng các gam màu tối, chỉ đến khi được tiếp xúc với trường phái ấn tượng (Impressionism) và Tân ấn tượng (Neo-Impressionism) ở Paris, ông mới bắt đầu thay đổi phong cách vẽ của mình. Trong thời gian ở Arles miền Nam nước Pháp, Van Gogh kết hợp các màu sắc tươi sáng của hai chủ nghĩa này với phong cách vẽ của mình để tạo nên các bức tranh có phong cách rất riêng. Chỉ trong 10 năm cuối đời, họa sĩ đã sáng tác hơn 2000 tác phẩm, trong đó có khoảng 900 bức họa hoàn chỉnh và 1100 bức vẽ hoặc phác thảo. Phần lớn các tác phẩm nổi tiếng nhất của Van Gogh được sáng tác vào hai năm cuối đời, thời gian ông lâm vào khủng hoảng tinh thần tới mức tự cắt bên tai trái vì tình bạn tan vỡ với họa sĩ Paul Gauguin. Sau đó Van Gogh liên tục phải chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh và cuối cùng ông đã tự kết liễu đời mình.

  • Diễn văn của luật sư George Graham Vest tại phiên tòa xử vụ kiện hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire báo New York Times bình chọn là hay nhất trong các bài diễn văn trên thế giới trong 1000 năm qua.

    Georges Graham Vest (1830-1904)

    Thưa quý ngài hội thẩm,
    Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù chống lại chúng ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực rồi cũng có thể sẽ là một lũ vô ơn.

    Những người gần gũi, thân thiết nhất mà người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được rồi sẽ mất đi, thậm chí còn luôn mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất.

    Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại dột. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt, có thể sẽ là những kẻ ném đá vào ta khi ta sa cơ lỡ vận. Duy có một người bạn không vụ lợi mà con người có thể có trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ vô ơn hay tráo trở, đó là chú chó của ta.

    Nó luôn ở bên cạnh ta trong những lúc phú quý cũng như bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh dù gió đông giá rét hay bão tuyết vùi lấp, miễn sao được cận kề bên chủ. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn cho nó.

    Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy xước mà ta phải hứng chịu khi va chạm với cuộc đời bạo tàn này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn chú chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận hắt ta ngoài rìa xã hội, không bạn bè, không nơi ở thì chú chó trunng thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước nguy hiểm, giúp ta chống lại kẻ thù…

    Và khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước phần hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, lúc tất cả thân bằng gia quyến đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, vẫn còn bên nấm mồ của ta – chú chó cao thượng nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã đi vào cõi hư vô!

    Theo vietbao.vn

  • * Phép biện chứng là gì?

    Phép biện chứng chẳng qua là khoa học về các quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng được thể hiện cô đọng trong hai nguyên lý. Đó là “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng” và “nguyên lý về sự phát triển”.

    1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

    Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

    (xem thêm…)

  •          Ngồi đăng kí tín chỉ nhưng web trường HLu sập mất rồi nên lên youtube xem mấy video hài liên quan đến trường Luật của trường mình. Các bạn không nên bấm f5 liên tục, như vậy cũng chả giải quyết được cái gì, web trường càng sập lâu hơn ( đây là tình trang web bị ddos do có quá nhiều người đăng nhập cùng lúc ).Hãy xem video hài về tình trạng đăng kí tín vui vui, nói thế thôi chứ mình cũng sợ thất học lắm.

    (xem thêm…)

  • Tiêu chí
    Thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp huyện
    Thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.
    Khái niệm
    Là quyền xem xét sơ thẩm giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.
    Là quyền xem xét sơ thẩm giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp Tỉnh.
    Phạm vi xét xử
    Điều 33 BLTTDS
    Điều 34 BLTTDS
    Chuyển việc xét xử sơ thẩm giữa hai Tòa án
    Các vụ việc thuộc thẩm quyền XXST nhưng có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài; cần ủy thác tư pháp thì thuộc thẩm quyền XXST TAND cấp tỉnh.
    Trong một số trường hợp đặc biệt có thể lấy các vụ việc thuộc thẩm quyền XXST của TAND cấp huyện lên để giải quyết:vẫn dụng áp dụng pháp luật phức tạp; đương sự là cán bộ chủ chốt của địa phương… hoặc theo yêu cầu của đương sự nếu có lý do chính đáng

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • – Lập luận đời thường trước hết phải dựa trên nền tảng là những khuôn mẫu chung của lập luận logic hình thức, tức phải tuân thủ những nguyên tắc của phép suy luận (diễn dịch, qui nạp). Tuy nhiên, trên nền tảng của những nguyên tắc chung ấy, lập luận đời thường đã vận dụng vô cùng linh hoạt các nguyên tắc của logic hình thức vào trong thực tiễn đời sống văn hóa và ngôn ngữ của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng.

    Sau đây là bảng so sánh sự khác nhau giữa lập luận logic hình thức và lập luận đời thường:

    (xem thêm…)

  • Vị trí trình bày, ý nghĩa, nội dung của cơ sở Pháp lí của  Văn bản Quy phạm Pháp luật và Văn bản Áp dụng pháp luật theo kết cấu điều khoản là tương tự nhau nhưng điểm khác là về đối tượng được viện dẫn.

    *Điểm giống nhau:

    -Ý nghĩa: Chứng minh sự hợp pháp của Văn bản được ban hành.
    – Đều được trình bày theo mẫu căn cứ sau đó dẫn tên Văn bản Pháp luật
    – Đều phải dẫn các Văn bản Pháp luật


    *Điềm khác nhau: 

    – Nhóm Văn bản được viện dẫn
    + Quy phạm Pháp luật: viện dẫn Văn bản Quy phạm Pháp Luật
    +Áp dụng Pháp luật: viện dẫn Văn bản Quy phạm Pháp Luật và văn bản Áp dụng Pháp luật
    – Điều kiện của Văn bản được viện dẫn
    + Quy phạm Pháp luật: đang có hiệu lực tại thời điểm viện dẫn.
    +Áp dụng Pháp luật:  đang có hiệu lực tại thời điểm viện dẫn và hết hiệu lực ( hồi tố )

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default