HR Law

Chia sẻ kiến thức pháp lý nhân sự

  • Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:

    1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành25/12/2023
    Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam18/09/2023
    Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành20/06/2023
    Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý20/10/2022
    Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động01/07/2022
    Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng17/01/2022
    Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành30/01/2022
    Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành01/09/2021
    Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam15/02/2021
    Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động01/02/2021
    Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu01/01/2021
    Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành01/01/2021
    Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành15/03/2021

    2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực

    Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.18/8/2023
    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao17/10/2018

    3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 201501/07/2016
    Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
    Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 201401/07/2015Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
    Luật Thuế thu nhập cá nhân 200701/01/2009Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
    Luật Việc làm năm 201301/01/2015Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
    Luật Công đoàn năm 201201/01/2013Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
    Luật Bảo hiểm xã hội năm 201401/01/2016Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 202001/01/2022Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật người khuyết tật 201001/01/2011Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
    Luật Trẻ em 201601/06/2017Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
    Bộ luật Tố tụng Dân sự 201501/07/2016Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
    Luật Bình đẳng giới 200601/07/2007Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
    Luật người cao tuổi năm 200901/07/2010Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
    Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên

    Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.

  • Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:

    – Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.

    – Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.

    2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.

    3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.

    Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.

    Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

    Xem văn bản

  • HRLegal tổng hợp các tài liệu, biểu mẫu các văn bản pháp lý trong công tác quản trị nhân sự bắt buộc phải có theo quy định pháp luật, gồm có:

    • Mẫu hợp đồng lao đồng
    • Mẫu Thỏa ước lao động tập thể
    • Mẫu Nội quy lao động
    • Mẫu Quy chế dân chủ và đối thoại tại nơi làm việc
    • Mẫu Quy chế đánh giá hoàn thành công việc
    • Mẫu sổ quản lý lao động

    Các bạn tải về tại link drive này nhé. Nếu bạn tư vấn soạn thảo các văn bản pháp lý nhân sự, vui lòng liên hệ HRLegal.vn để được giải đáp nhé

  • HỘI HỌA DÃ THÚ

    Giới thiệu chung về trường phái dã thú   Lịch sử hình thành

          Trường phái Dã thú (Fauvism hay Les Fauves) là một trường phái nghệ thuật tồn tại trong thời gian ngắn của một nhóm họa sĩ hiện đại, ra đời năm 1905. Trong khi phong cách nghệ thuật Dã thú bắt đầu từ năm 1900 và kéo dài qua năm 1910, thì trường phái này ch tồn tại trong vòng 3 năm, 1905 đến 1907, và có 3 cuộc triển lãm. Những người đứng đầu trường phái này là họa sĩ Henri Matisse và André Derain. Ngoài ra, còn có một số họa sĩ tiêu biểu khác như Anbert Marquet, Charles Camoin, Louis Valtat, họa sĩ Bỉ Henri Evenepoel, Jean Puy,Maurice de Vlaminck, họa sĩ Hà Lan Kees van Dongen
          Trong cuộc triển lãm tại phòng tranh mùa thu năm 1905 ở Paris, khi thấy một bức tượng điêu khắc có phong cách thuộc thế kỷ XV ở giữa phòng tranh, một nhà phê bình đã thốt lên “Donatello ở giữa bầy dã thú”. “Bầy dã thú” – đó chính là những bức tranh của một số họa sĩ trẻ như Matisse, Vlaminck, Derain, Marquet, Van Dongen… Câu nói bông đùa ấy đã trở thành tên gọi của một trường phái mới – trường phái Dã thú, và cũng chính phòng tranh này là khởi điểm của nghệ thuật hiện đại.
    Peasant Women Digging Potatoes (Những người nữ nông dân đào khoai tây)

                Đặc điểm nổi bật

          Trường phái này có sự phản ứng mạnh mẽ chống lại trường phái ấn tượng, chống lại sự mất mát không gian do dùng quá nhiều ánh sáng, do sự phân cách tỉ mỉ, không theo quy luật nào, vì thế chỉ là sự ngẫu nhiên, không suy tính trước.
          Sự cần thiết cho các họa sĩ trường phái này là màu sắc (yếu tố quan trọng nhất), chứ không phải vẽ như thấy ở thực tế, mà phải sáng tạo sắc độ. Con người và sự vật trong tranh được vẽ bởi những nét rất dứt khoát và đậm. Với họ, bức tranh phải thể hiện cá tính mạnh mẽ, biểu hiện những tư tưởng tình cảm và rung động chủ quan của tác giả. Nói theo phương châm của Van Gogh “Thay vì cố thể hiện cái tôi thấy trước mắt, tôi sử dụng màu một cách tùy tiện để diễn đạt trọn vẹn bản thân tôi”.
          Bức tranh là một bố cục nhiều màu, không phải là sự sao chép thiên nhiên, là sự liên tục tạo hình sống động, không phải là cảnh sắc vụn vặt, là một bố cục màu sắc mạnh bạo, không phải là sự tình cờ đẹp mắt. Các họa sĩ sử dụng bút pháp phóng đại cường điệu .
          Tranh của họ chỉ dùng các màu nguyên, không vờn khối nổi theo ánh sáng và bóng tối. Không tạo ảo giác về không gian thật theo luật viễn cận, hoàn toàn tự do trong biểu hiện, mang nhiều chất trang trí. Bởi vậy, trong trường phái hội họa “Dã thú”, thân cây có thể màu hồng tươi, mái nhà có thể màu xanh lá mạ
          Họ thể hiện trên nhiều chất liệu: hội hoạ: Sơn dầu, cắt giấy, tranh kính ; điêu khắc: Phù điêu và tượng…

     Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu

          Henri Matisse
          Henri Matisse (31 tháng 12 năm 1869 – 3 tháng 11 năm 1954) là một nghệ sĩ người Pháp, nổi tiếng với khả năng sử dụng màu sắc và chất lỏng cũng như khả năng hội họa tuyệt vời và nguyên sơ. Với tư cách là một họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà làm đồ họa in ấn. Matisse được biết đến như là một trong những Ông là nhân vật tiên phong của trường phái dã thú, vào thập niên 1920, ông được coi là một trong những người nâng tầm truyền thống cổ điển trong hội họa Pháp và là một trong những nhân vật đi đầu trong nghệ thuật hiện đại.
          Mặc dù các thành viên trong trường phái dã thú đều có những điểm giống nhau nhưng Matisse đa dạng hơn và cách thể hiện hết sức táo bạo bất ngờ. Ông dung hợp được những rung động mạnh với những chủ định lý tính, tìm tòi gam màu và bố cục cho mỗi bức tranh, gạt bỏ hẳn những hiệu quả sáng tối, khối vờn, đơn giản hình thể tối đa. Phong cảnh, tĩnh vật, chân dung… Mỗi bức tranh của Matisse như là một bản hòa tấu màu sắc, vui tươi sống động. Matisse qua đời ở tuổi 85, ông đã mở ra cho nền hội họa thế giới những nguyên lý về màu sắc mà bất kỳ một họa sĩ nào cũng cần đến nó.
          Một số tác phẩm tiêu biểu:
    Tác phẩm “Woman with a hat” (Femme au chapeau), ra đời năm 1905
    Đầu mùa thu năm 1905, khi Matisse đưa bức tranh “Thiếu nữ và chiếc mũ” đến cuộc triển lãm “Mùa thu” tổ chức tại Paris thì đã thu hút sự chú ý của người xem bởi cách dùng những gam màu đối chọi gay gắt, những đường nét thô mộc đến táo bạo để mô tả những cảm xúc mạnh mẽ của hoạ sĩ trước cô gái.
    Tác phẩm  “Le bonheur de vivre” (The joy of life), ra đời vào 6/1905
    Tác phẩm “Flowers in a Pitcher”
    Ra đời vào khoảng năm 1906
    Tác phẩm “Le Rifain assis” (Seated Riffian)
    Ra đời vào khoảng cuối năm 1912
    Tác phẩm “Two Figures Reclining in a Landscape”
    Ra đời năm 1921
    Tác phẩm “La Musique”
    Ra đời năm 1939
          André Derain
          André Derain (10/6/1880 – 8/9/1954) là một họa sĩ người Pháp. Vào năm 1898, ông tham dự các lớp học vẽ dưới Eugène Carriere và gặp Matisse, Năm 1900, gặp và chia sẽ phòng thu Maurice De Vlaminck và bắt đầu vẽ tranh phong cảnh đầu tiên
    André Derain là hoạ sĩ tiên phong trong các trường phái nghệ thuật đầu thế kỷ 20 ở Pháp. Ông từ bỏ ngành cơ khí đã học để theo đuổi giấc mơ nghệ thuật. Năm 1905, ông gia nhập hội Những con thú hoang cùng Maurice de Vlaminck và Henri Matisse. Những tác phẩm phong cảnh của ông trở nên nổi tiếng bởi màu sắc phong phú, đa dạng.
             Là bạn thân của Vlaminck và có thời gian hai người cùng vẽ chung trong một xưởng. Derain ít hùng hổ hơn, những tác phẩm của ông thời kỳ này cũng sử dụng các màu nguyên sắc vàng, lục, cam và nhất là đỏ với lam hết sức biểu cảm, nền mặt tranh ông trông như khảm, sáng chói đến kinh ngạc. Có người nó rằng Derain đã “thiêu đốt” màu sắc trong các bức tranh của mình. Nhưng dù cây cối, nhà cửa, tàu thuyền đỏ rực như bốc lửa thì tranh ông bao giờ cũng đầy quyến rũ. Ông cùng Henri Matisse đồng sáng lập ra Fausim.

      Một số tác phẩm tiêu biểu:

    Tác phẩm “The Turning Road”, L’Estaque, vẽ năm 1906Trưng bày ở The museum of Fine Arts, Houston     Một số tác giả tác phẩm tiêu biểu khácMaurice de Vlaminck (Pháp)(1876-1958)Kees van Dongen (1877 – 1968), người Pháp gốc Hà Lan.Albert Marquet (họa sĩ  người Pháp).Sinh ngày 27/3/1875 – Mất ngày 14/6/1947Các tác phẩm của Marquet chủ yếu về đề tài thiên nhiên, tuy nhiên cũng có một số bức chân dung (một số về phụ nữ khỏa thân)

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Hướng dẫn trả lời câu hỏi bài tập Phân biệt nghị quyết Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội với nghị  quyết của Đảng bộ Hà Nội?

    Sự khác biệt mấu chốt:

    Một bên là văn bản Pháp luật một bên không phải là văn bản Pháp luật mà là văn bản của tổ chức chính trị. Dựa trên tiêu chí đặc điểm của văn bản pháp luật để phân biệt:

    1. Do chủ thể có thẩm quyền ban hành
    2. Nội dung của văn bản pháp luật là ý chí của nhà nước
    3. Có tính bắt buộc và được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước
    4. Thủ tục và hình thức tuân theo quy định pháp luật

    HĐNDTP Hà Nội
    Đảng bộ Hà Nội
    Chủ thể
    Hội đồng nhân dân
    Tổ chức chính trị
    Nội dung
    Chứa đựng ý chí của nhà nước
    Có tính bắt buộc chung, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước
    Ý chí của tổ chức chính trị, xã hội ( Đảng )
    Được đảm bảo thực hiện bằng điều lệ Đảng ( bắt buộc với Đảng viên, tổ chức Đảng cơ sở chịu sự quản lí của cơ sở thành phố)
    Hình thức
    Là Văn bản pháp luật được nhà nước quy định
    Thể thức trình bày:  thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP
    Do tổ chức quy định , và trình bày theo hướng dẫn của tổ chức.
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Xin bạn đừng coi rẻ những người lao động nghèo. Đừng xấu hổ vì phải làm việc nặng nhọc. Đất không bẩn, mồ hôi không hôi hám. Xin hãy tôn trọng những người có thể không giàu bằng bạn, nhưng họ đang nuôi cả gia đình bằng đôi tay lương thiện và cần cù của họ. Bạn tôn trọng họ, bạn mới biết giá trị của bạn nằm ở đâu.

  • Khi tìm hiểu một văn bản luật, đã bao giờ bạn gặp rắc rối vì

    – Không biết đâu là văn bản mới nhất?
    – Các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan?
    – Văn bản mình đang xem liệu còn hiệu lực, đã hết hiệu lực một phần hay hết hiệu lực toàn bộ?


    (xem thêm…)

  • A- Bàn về phạm trù cái bi

    1.Bản chất của cái bi

    a.Cái bi là một phạm trù mĩ học cơ bản

      Cũng như cái đẹp, cái bi là một phạm trù mĩ học có mặt từ rất sớm trong lịch sử mĩ học, ngay từ thời cổ đại Hi Lạp. Cùng với lịch sử phát triển của những tư tưởng mĩ học, bản chất của cái bi luôn là đối tượng quan tâm của nhiều triết gia, các nhà lí luận mĩ học có tên tuổi. Với tác phẩm Nghệ thuật thơ ca, Aristotle được coi là người có công đầu trong việc nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống về bản chất của bi kịch , trong đó ông nhấn mạnh các khía cạnh sau đây : “ cái bi là một hiện tuong quan trọng trong xã hội và bi kịch chính là đỉnh cao nhất của nghệ thuật ; Nhân vật trung tâm của bi kịch phải là những người tốt có hành động nghiêm túc và cao thượng , nhưng trong xung đột với cái xấu lại phải chịu bất hạnh, thậm chí cái chết”. Đặc biệt, Aritotle đã đưa ra lí thuyết về sự “ thanh lọc hóa tâm hồn” Katharsis trong cảm xúc bi kịch. Thông qua điểm sợ hãi và đồng khổ do hành động bi kịch gây nên, bi kịch làm cho tâm hồn người xem được thanh khiết hơn, bởi vậy mà nó có sức tác động rất sâu sắc về đạo đức và thẩm mĩ đói với người xem.
    Kế thừa và phát triển những thành tựu di sản trong lí luận mĩ học của các nhà lí luận mĩ học đi trước, mĩ học duy vật biện chứng đã xem xét bản chất thẩm mĩ của cái bi trong mối quan hệ giữa xung đột, tích cách và cảm xúc trong cái bi. Mĩ học duy vật biện chứng trước hết khẳng định, cái bi gắn liền với xung đột, xung đột mang tính bi là xung đột căng thẳng, quyết liệt, là xung đột không khoan nhượng đối với lực lượng đối lập “ mỗi bên trong đó đều tỏ ra có đủ tính tất yếu và đầy đủ sức mạnh để coi mình là hợp pháp và không chịu nhượng bộ”. Bởi vậy xung đột này chỉ có thể kết thúc bằng cái chết của một trong hai bên đối lập. Bên cạnh đó ,những xung đột mang tính bi phải có ý nghĩa xã hội. Trong cuộc sống cũng như nghệ thuật những xung đột này diễn ra rất là nhiều như :
    -Bi kịch của cái mới , cái tiến bộ, cách mạng khi nó chưa đủ sức để chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu, phản động.
    -Bi kịch của cái cũ trong cuộc đấu tranh chống lại cái mới đang nảy sinh nhưng bản thân cái cũ vẩn chưa mất hết khả năng phát triển nội tại của nó, ở một mức độ nhất định nó vẫn còn ý nghĩa tiến bộ về mặt lịch sử, còn biểu hiện tính tuichs cực khách quan chứ chưa phải đã hoàn toàn nỗi thời .
    -Bi kịch của sự nhầm lẫn, hạn chế về mặt nhận thức. Đây là loại bi kịch xảy ra khi nhân vật bi kịch phải đương đầu với đối tượng mà chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ  về đối tượng, nên cuối cùng phải trả giá cho sự nhầm lẫn, kém hiểu biết của mình bằng cái chết .
    Trên đây là những dạng tiêu biểu của loại xung đột bi kịch mang tính lịch sử. Loại xung đột này xuất phát từ mong muốn, khát vọng của con người về một lí tưởng xã hội tốt đẹp mà vì nó con người đã đánh đổi cả mạng sống của mình. Tuy nhiên, cái bi cũng có thể nảy sinh từ những khát vọng cá nhân nhưng chính đáng của con người về một cuộc sống hạnh phúc, một cuộc sống cho đáng sống, trong những điều kiện xã hội mà khát vọng đó không thể thực hiện. Loại bi kịch cá nhân này cũng thể hiện không kém phần gay go, quyết liệt đằng sau những xung đột cá nhân này bao giờ cũng phản ánh những xung đột xã hội rộng lớn, những xung đột mang tầm vóc lịch sử.

    b.Tích cách của bi kịch

        Nhân vật của bi kịch trước hết phải là người đại diện cho lí tưởng cho cái đẹp, nhân vật trung tâm của cái bi trước hết phải là cái đẹp, họ mang trong mình những khát vọng chân chính, là những con người tốt nhất so với những con người trong thực tế qua những xung đột bi kịch họ bộc lộ tính cách bi kịch của mình. Cái bi chỉ thực sự diễn ra khi nhân vật bi kịch có thái độ tích cực để cải tạo hoàn cảnh vượt lên trên hoàn cảnh. Cuộc đấu tranh của các nhân vật bi kịch bị thất bại tạm thời trong hoàn cảnh không thuận lợi, khi cái đẹp chưa vượt lên được cái xấu, cái ác thì cái cao cả chưa chiến thắng được cái tầm thường đê hèn. Cái bi bởi vậy là sự mất mát của cái cao cả, cái đẹp. Những đau khổ mất mát mà nhân vật bi kịch phải gánh chịu là cái giá phải trả trên con đường kiếm tìm hạnh phúc.

    c.Cảm xúc bi kịch

       Cảm xúc thẩm mĩ trong cái bi nảy sinh do cái chết của nhân vật tiến bộ, bởi vậy nó có khả năng gây xúc động, và so với cảm xúc mà cái đẹp, cái hài mang lại, thì cái bi là loại cảm xúc mãnh liệt nhất, có sự tác động sâu sắc nhất đến con người, cái chết của nhân vật bi kịch là cái chết lí tưởng của cái đẹp, là cái chết để khẳng định sự bất tử của những con người chân chính. Bởi vậy đằng sau những giọt nước mắt xót thương, đồng cảm là niềm vui, sự phấn chấn.
    Với tất cả những vấn đề đã trình bày trên đây có thể khái quát rằng, với tư cách là một phạm trù mĩ học , cái bi gắn liền với những xung đột có ý nghĩa xã hội, giữa cái đẹp với cái xấu ; giữa cái tích cực với cái tiêu cực mà kết quả của sự thất bại , tiêu vong của nhân vật tích cực- những con người đã đấu tranh đến cùng vì lí tưởng đẹp đẽ, vì khát vọng chân chính của con người, qua đó gợi lên những cảm xúc thẩm mĩ tích cực, khẳng định niềm tin của con người đối với những giá trị chân chính cuả cuộc sống, kích thích con người hướng về phía trước .

    2-Cái bi trong cuộc sống

       Cuộc sống của con người tràn ngập những niềm vui nhưng cũng không ít những bi kịch. Những va chạm của con người với tự nhiên cũng gây ra những bi kịch, khám phá tự nhiên để chinh phục nó nhằm hạn chế đến mức tối đa những bi kịch do tự nhiên gây ra, đó là một mục đích con người luôn phấn đấu. Trong cuộc sống cái bi cũng đến với các anh hung, các vĩ nhân, những con người tài hoa xuất chúng nhưng do những tình huống ngẫu nhiên đột ngột, do tai họa bất ngờ, do bệnh hiểm nghèo giữa lúc khả năng sáng tạo đang ở độ đỉnh cao, giữa lúc họ đang cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.
    Tuy nhiên, loại bi kịch chủ yếu lại bắt nguồn từ những đối kháng giai cấp, biểu hiện thông qua cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các giai cấp, lực lượng đối kháng về lí tưởng xã hội dẫn đến các cuộc cách mạng do điều kiện chưa chin muồi đã rơi vào bi kịch. Rồi các bi kịch từ những cuộc xung đột sắc tộc, đình công biểu tình, các cuộc đấu tranh đòi tự do, độc lập chủ quyền quốc gia…, những bi kịch cá nhân xảy ra trong nhiều mối quan hệ .
    Như vậy, trong cuộc sống cái bi được biểu hiện trong những trường hợp cụ thể, rất đa rạng cũng như sự đa dạng trong cuộc sống con người. Cùng vói cái đẹp cái cao cả cái bi có trong đời sống con người từ khi con người bắt đầu có ý thức về một cuộc sống hạnh phúc, và cái bi tiếp tục là bạn đồng hành của con người chừng nào con người chưa hết khát khao vươn đến những điều tốt đẹp.

    3.Cái bi trong nghệ thuật

        Nghệ thuật như ta đã biết là hình thái cao nhất của mối quan hệ thẩm mĩ giữa con người với hiện thực. Bởi vậy, cái bi cũng được biểu hiện trong nghệ thuật với tính tập trung nhất, điển hình nhất , cái bi có mặt hầu hết trong các loại hình nghệ thuật đặc biệt là trong bi kịch. Từ bi kịch thời Hi Lạp cổ đại với những tác giả nổi tiếng như: Eschyle, Xophoclo, ơ phirit với những xung đột bi kịch chủ yếu xoay con người với những định mệnh, cho đến những bi kịch thời phục hưng, tập chung phản ánh mâu thuẫn sâu sắc giữa những lí tưởng nhân văn với sự chói buộc tôn giáo và chế độ phong kiến thần quyền. Vào thời này người ta xem nhiều kịch của sakespeare từ othello đến vua Lia hy đặc biệt là Hamlet, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định rằng Hamlet thật sự là một trong những bi kịch nổi tiếng của sân khấu thế giới. Trong một hình thức nghệ thuật kịch thơ trữ tình tuyệt vời, tác phẩm thể hiện được tinh thần của thời đại với sự bế tắc của lí tưởng nhân văn chủ nghĩa. Với sự bát nháo của một xã hội với “ nhà tù”, “ sự bẩn thỉu” , “với hàng vạn người mới nhặt ra dduocj một người lương thiện”, vẫn lóe sáng hạt vàng cuả chủ nghĩa nhân văn, với nhân vật hamlet không chỉ quan tâm đến nghĩa vụ trả thù, ngai vàng mà hơn hết còn quan tâm đến phẩm giá, nhân cách sống, lối sống. Thực tế xã hội xấu xa mâu thuẫn với lí tưởng sống của chàng, khiến chàng phải đánh giá lại tất cả và tìm cho mình một thái độ cư xử phải đạo. Quá trình đánh giá thực tế và xem xét đó đã gây ra cho tâm hồn hamlet những đau đớn, bi quan, hoài nghi , những phút trăn. Cuối cùng Hamlet 32322 chân lí đấu tranh nhưng vì đơn độc , thiếu cảnh giác nên tràng đã ngục ngã trước cạm bẫy của kẻ thù. Ngày nay trong 418119 văn học thế giới vẫn tồn tại khái niệm “ bệnh Hamlet” chỉ thái độ suy tư, lí luận nhiều nhưng không đủ tự tin, dũng khí  để hành động hành động cụ thể. nhưng dù sao đi nữa Hamlet vẫn sống mãi trong lòng độc giả thế giớ. Với bi kịch của cuộc đời tràng phản ánh mâu thuẫn tất yếu của sự phát triển, của cuộc đấu tranh giữa 3121191 cái đẹp với 3115111 cái xấu tồn tại trong xã hội. Hamlet sẽ luôn lam nảy sinh trong lòng người đọc muôn đời sau không chỉ tâm trạng trước nỗi buồn mà còn cả cảm xúc thẩm mĩ, hướng họ đến 311311 cái cao cả luôn hiện hữu giữa cõi đời trong đục. Và tác phẩm bi kịch về tình yêu bất hủ của Romeo va Juliet là sự xung đột giữa tình yêu và thù hận. Bi kịch cổ điển pháp chủ yếu tập chung vào mâu thuẫn giữa nghĩa vụ và dục vọng rồi đến những bi kịch hiện thực của thế kỉ XIX. Loại hình bi kịch ở Việt Namcũng chịu nhiều ảnh hưởng của phương tây.

    B- Ý nghĩa của cái bi trong đời sống tinh thần sinh viên hiện nay

        Cái bi bản chất của nó vốn là cái đẹp, đáng cho người ta chân trọng . Thông qua cái bi, giúp cho các bạn sinh viên hiện nay hiểu hơn về giá trị cuộc sống, biết chân trọng hơn những gì mình đang có, thấu hiểu đồng  cảm với những số phận bất hạnh trong cuộc sống .
       Có cái nhìn đa chiều, thực tế hơn về cuộc sống , không sống trong ảo tưởng, ảo mộng, viển vông  nhìn cuộc sống luôn tốt đẹp .
       Biết trân trọng hơn giá trị của cuộc sống, sự hi sinh mất mát của các ông cha ta để có được cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay.
       Xác định được trách nhiệm của mình đối với đất nước, từ đó ra sức học tập , chau rồi kiến thức để xây dựng quê hương đất nước ngày một tươi đẹp, giàu mạnh hơn.

    C .Ví dụ về “cái bi” trong đời sống xã hội

    Trước hết, cái bi trong xã hội phản ánh những mâu thuẫn, sự xung đột tạm thời nhưng chưa giải quyết được và cũng là những tình huống của cái đẹp, cái anh hùng, cái cao thượng bị tiêu vong, còn gọi là bi kịch của cuộc sống. Chẳng hạn, cái chết của Nguyễn Trãi hay còn gọi là “Vụ án vườn Lệ chi” đã tạo nên sự đồng cảm, đồng khổ sâu sắc và to lớn của dân tộc Việt Nam. Đây là một bi kịch của lịch sử làm nhức nhối tâm can của hàng triệu triệu con người Việt Nam. Vua Lê Thái Tôn sau khi duyệt binh ở Chí Linh (Hải Dương), ghé thăm Nguyễn Trãi đang trí sỹ ở Côn Sơn – thấy người tỳ thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ xinh đẹp có tài, bèn phong cho chức Lễ nghi học sỹ và bắt theo hầu. Nhưng khi đến vườn Lệ Chi thuộc huyện Gia Bình thì vua đột ngột mất. Đó vào tháng 7 năm nhân tuất 1442. Triều đình nhà Lê đã qui tội giết vua cho Nguyễn Thị Lộ, vợ của Nguyễn Trãi, và tru di ba họ của Nguyễn Trãi. Trước thảm kịch to lớn đó của lịch sử Việt Namvà chính ngay cả triều đình phong kiến nhà Lê cũng không phải hoàn toàn bất công. Chỉ 22 năm sau vua Lê Thánh Tông đã giải tỏa vụ bi kịch khốc liệt đó.
    Do những điều kiện lịch sử nhất định nào đó, mà cái hoàn toàn mới bị thất bại, do chưa gặp được những điều kiện lịch sử thật chín muồi để chiến thắng, Chẳng hạn như Công xã Pari, của Nam kỳ khởi nghĩa.
    Thứ hai, cái bi kịch của chính cái cũ chưa hết vai trò lịch sử. Nhân vật Đôngkisốt có phần bi có phần hài. Lòng tốt của tầng lớp hiệp sỹ đã hết vai trò lịch sử mà họ chưa chịu chấm dứt, đã nhận được sự đồng cảm, đồng khổ của lịch sử và cũng nhận cả được tiếng cười phê phán. Bi kịch này là bi kịch của cái cũ nhưng không hoàn toàn cũ, chưa tiếp cận được cái mới, nên không đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ của lịch sử. C.Mác đã đã nói về sự tiêu vong của tính bi kịch trong chế độ phong kiến ở Anh và Pháp bởi vì nó tiêu vong khi vẫn đang còn sinh lực. C.Mác viết: “Lịch sử của chế độ cũ là bi kịch, chứng nào nó còn là cái quyền lực của thế giới tồn tại bao nhiêu đời nay, còn trái lại tự do là cái tư tưởng ám ảnh một số người cá biệt, nói khác đi chừng nào chính bản thân chế độ cũ tin và cần phải tin vào tính chất hợp lý của nó”
    Thứ ba, bi kịch của sự lầm lẫn thường được nêu ra như những bài học xương máu của đường đời, nó nhắc nhở con người một bài học cảnh giác. Chẳng hạn như An Dương Vương mất loa thành phải giết con gái và tự tử vì mất cảnh giác. Ôtenlô từ một nô lệ da đen, bằng cả cuộc đời dũng cảm và thông minh của mình, trờ thành võ tướng và lay động được tình yêu của một thiếu nữ da trắng, nhưng rồi đã giết người yêu của mình không phải vì quá ghen mà vì quá tin, thành ra bị kẻ địch lừa dối. Dạng thức này chúng ta cũng thấy ở Việt Namtrong truyền thuyết về Mỵ Châu, Trọng Thủy:
    Tôi kể ngày xưa truyện Mỵ Châu
    Trái tim lầm tưởng để trên đầu
    Nỏ thần vô ý trao tay giặc
    Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

     

    (Tố Hữu)
  •  Người ta nói con gái Luật lắm điều
    Vừa lắm điều lại còn vừa lắm khoản
    Muốn yêu em mà nhiều khi cũng nản
    Cứ hơi tí lại “anh dựa vào đâu?”
    Người ta nói con gái Luật trẻ trâu

    Cứ động tí lại ngoạc mồm ra cãi
    Người yêu em tính phải thật dễ dãi
    Muốn lâu bền phải “em nhất, em hơn”
    Con gái Luật chốc chốc lại lên cơn
    Mặt lạnh tanh chẳng chịu cười chịu nói
    Cứ nín thinh dù bao lần anh hỏi
    “Em giận gì mà chẳng chịu nói ra?”
    Con gái Luật hơi tí lại kêu ca
    Rồi phàn nàn, toàn cậy mình lắm chữ
    Anh có lỗi, là đòi mang ra xử
    “Thử ngoại tình, là bà cắt, rõ chưa?”
    Nhưng gái Luật cũng sớm nắng chiều mưa
    Tuy lạnh lùng, nhưng nhiều khi tình cảm
    Nấu ăn ngon, việc nhà em đều đảm
    Vẫn nữ tính, chẳng thua gái trường ngoài
    Dù ai nói anh đều bỏ ngoài tai
    Vẫn yêu em, đặt em lên trên hết
    Nhiều tính xấu anh vẫn yêu mê mệt
    Vì có ai là hoàn hảo trên đời?

    Sưu tầm

  • Bài hát TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MẾN YÊU được sáng tác bởi PGS.TS chủ nhiệm Khoa luật quốc tế – ĐH Luật Hà Nội Nông Quốc Bình. Bài hát có nội dung rất hay, tràn đầy niềm tự hào hạnh phúc về mái trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả cùng các thầy cô trong Khoa đã thể hiện rất xuất sắc nội dung của bài hát và thể hiện tính chuyên nghiệp truyền cảm đến cho người nghe và xem MV những tính cảm tốt đối với trường ĐH Luật Hà Nội.

     

    Các bạn có thể nghe

    Bài hát TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MẾN YÊU

    trực tuyến bài hát tại đây:

  • Một can phạm sắp ra tòa hỏi ý kiến luật sư nên mặc quần áo gì cho có lợi. Luật sư thứ nhất khuyên nên mặc quần áo rách rưới để dễ khơi gợi lòng thương hại. Anh ta không tin nên quyết định hỏi ý kiến một luật sư khác. Luật sư này khuyên anh ta nên ǎn mặc lịch sự để chứng tỏ sự tự tin của mình. Hai lời khuyên trái ngược làm anh ta lúng túng. Anh ta quyết định hỏi ý kiến luật sư thứ ba. Người thứ ba chậm rãi nói:<br />

    – Tôi kể cho anh nghe chuyện này: Một cô gái hỏi mẹ nên mặc gì trong đêm tân hôn. Người mẹ khuyên nên mặc bộ đồ kín đáo để chứng tỏ cô là con nhà gia giáo. Người bạn thân lại khuyên cô nên mặc hở hang để tǎng vẻ gợi cảm…

    – Nhưng chuyện này có liên quan gì đến tôi đâu nhỉ! – Anh ta ngạc nhiên hỏi.

    – Tại anh không thấy điểm giống nhau đó thôi! Anh hay cô gái dù có mặc gì đi nữa thì cuối cùng cũng bị vạch trần ra thôi! 8-}
    —————————————
    – Tôi kết hôn với một nữ luật sư, nàng có tài thuyết phục thật kinh hồn. Khi tôi quyết định ly dị để làm lại cuộc đời với một cô gái mà tôi yêu thắm thiết thì nàng đã thuyết phục được tôi ở lại với nàng vì hạnh phúc của các con.

    – Đó là điều thông thường, phụ nữ vẫn dùng cách này để cứu vãn hôn nhân của mình.

    – Vâng, mãi về sau tôi mới nhớ ra rằng chúng tôi chưa bao giờ có con.

     

    —————————————
    Trong toa tàu nọ có sáu vị khách, ba người là kế toán và ba người là luật sư.

    Trong chuyến đi, ba vị kế toán mua đủ ba vé còn ba vị luật sư chỉ mua chung một vé. Đến lúc soát vé, cả ba vị luật sư đứng lên đi vào nhà vệ sinh, người soát vé gõ cửa, một vé được chìa ra khe cửa. Chuyến đi đến đích an toàn.

    Chuyến về, ba vị kế toán rút kinh nghiệm chỉ mua một vé cho cả ba. Còn ba vị luật sư lại không mua vé. Khi người soát vé chuẩn bị đến, ba vị kế toán đứng dậy vào nhà vệ sinh, ba người luật sư cũng đứng lên vào nhà vệ sinh bên cạnh, nhưng một người trước khi vào đã gõ cửa phòng vệ sinh có ba vị kế toán. Cạch… cạch… một tấm vé chìa qua khe cửa, vị luật sư cầm lấy và bước nốt vào nhà vệ sinh?
    —————————————
    “How can you tell when a lawyer is lying?
    His lips are moving”
    Dấu hiệu nhận biết khi một luật sư nói dối?
    Khi môi anh ta chuyển động 😀

    A Lawyer will do anything to win a case, sometimes he will even tell the truth. – Patrick Murray

    Luật sư sẽ làm tất cả mọi thứ để chiến thắng một vụ kiện, thậm chí là nói thật

    Tai tiếng thật , hehe
    —————————————

    Hồi trước nhắc đến hợp đồng hôn nhân là mình nghĩ ngay đến film full-house. Thế nhưng ngày hôm qua mình đã tận mắt đọc một hợp đồng hôn nhân ngoài thực tế, dài 5 trang A4 hai mặt, chủ nhân của nó là của vợ chồng một bà chị bạn 7X đời giữa, không tiện nêu tên ở đây.
    Mình thật sự thích thú và tự hỏi rằng có nên học hỏi theo không? Rất tiếc là khi mình đang học đến trang thứ 4 thì chồng bà chị về, bà chị phải mang ngay đi cất, mình xin trích một đoạn khá hay mà mình nhớ rõ nhất…

    Điều 5: Tôn trọng tự do riêng tư của nhau
    Khoản 1: Khi hai vợ chồng ngẫu nhiên gặp nhau trong nhà hàng/quán ăn/quán nhậu, mà mỗi bên đều có bạn bè riêng thì:
    1. Chồng/vợ được phép mang ly đến bàn của người kia chào hỏi.
    2. Việc mang ly đến chào bàn người khác là tự nguyện, chồng (vợ) không được ép buộc lẫn nhau.
    3. Được giới thiệu với mọi người trong bàn đây là vợ/chồng.
    4. Thời gian chào hỏi không được quá 15 phút (thì phải trở về chỗ của người kia).
    5. Chồng (vợ) không được quan tâm hay tỏ thái độ khó chịu khi thấy: vợ đang ngồi gần người con trai khác, chồng đang ngồi cạnh người con gái khác (chuyện này sẽ được giải thích khi về đến nhà).
    6. Phài tỏ thái độ lịch sự và tôn trọng lẫn nhau.
    ……
    ^-^

    Khi học môn Luật hôn nhân gia đình chắc em phải mang cơm gạo đến nhà bà chị này nhờ phụ đạo cho vài bữa mới được hihi.
    —————————————

    Một anh chàng ngồi một mình trong góc quán rượu, uống tì tì suốt ba giờ liền. Đột nhiên, anh ta nhảy dựng lên và gào to cho cả quán cùng nghe : ” Tất cả bọn luật sư đều là đồ chăn lừa”. Anh ta ngồi xuống và định dốc hết chỗ rượu còn lại thì một anh chàng to cao vạm vỡ tiến đến gần rồi chẳng nói chẳng rằng đấm cho anh ta một trận túi bụi cho đến khi anh ta chỉ còn là một đống bùi nhùi. Một người phục vụ liền hỏi anh chàng cao to : – Tôi đoán ông là một luật sư? – Không – anh ta trả lời – Tôi là một người chăn lừa.
    —————————————

    Vị luật sư hãng luật nọ được mời đến bào chữa cho thân chủ về tội “Trộm cắp gà” bị bắt quả tang. Vị thân chủ này là hàng xóm của người bị mất cắp gà. Con gà mái này là của ông hàng xóm rất mắn đẻ, mỗi ngày nó đẻ khoảng 10 quả trứng. Người hàng xóm kiện ra toà đòi phải đền bù cho bác một con gà mái tương tự và con gà này cũng phải đẻ được 10 quả trứng trên ngày. Tại phiên toà:
    Quan toà: Đương sự có ý kiến gì về yêu cầu của nguyên đơn không.
    Tên trộm: tôi đã nhờ Luật sư của tôi biện hộ giúp rồi ạ.
    Vị luật sư: Thưa quý toà, theo Luật lệ tại địa phương thì thân chủ của tôi phải nộp phạt theo yêu cầu của nguyên đơn là đúng. Nguyên nhân của vụ trộm này là do nguyên đơn đã tán tỉnh và lấy đi người vợ thân yêu nhất của thân chủ tôi, làm cho hai đứa con không có người chăm sóc, nên thân chủ tôi đã phải đi ăn trộm gà để nuôi con và trả thù cho mất mát này. Theo Luật lệ của đại phương, Tôi đề nghị quý Toà hãy yêu cầu vợ của nguyên đơn phải đẻ cho thân chủ tôi 02 đứa con/ngày, tôi sẽ yêu cầu thân chủ tôi đáp ứng theo nguyện vọng của nguyên đơn.
    Quan toà: Bó tay…
    —————————————

    Ngôn ngữ Luật sư:

    Vị giáo sư luật học yêu cầu một sinh viên xuất sắc trả lời câu hỏi tình huống:

    – Nếu anh phải trao cho ai đó một trái cam, anh sẽ nói thế nào?

    Người sinh viên đáp:

    – Em sẽ nói: “Mời ngài dùng trái cam này!”.

    Giáo sư giận dữ:

    – Không thể như vậy được! Hãy nghĩ như một luật sư xem nào.

    Sinh viên hắng giọng:

    – Vậy thì, em sẽ nói với người đó: “Tôi, sau đây, trao và chuyển quyền sở hữu toàn bộ và duy nhất của tôi với tất cả các tài sản, quyền lợi, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích của mình trong trái cam này cho ngài cùng với toàn bộ cuống, vỏ, nước, cùi và hạt của nó, với tất cả các quyền hợp pháp cắn, cắt, ướp lạnh hoặc ăn nó, quyền được trao nó cho người khác với tất cả cuống, vỏ, nước, cùi và hạt của nó. Tất cả những gì được đề cập trước và sau đây hoặc bất kể hành vi hoặc những hành vi, phương tiện thuộc bất kể bản chất hoặc loại nào không tương hợp với tuyên bố này, trong bất kể hoàn cảnh nào, đều không có giá trị pháp lý…”.

    ?????Khi nào mình có khả năng nói được như vậy nhỉ? hi hi

    —————————————

     

    Một luật sư đang biện hộ cho một người bị buộc tội ăn trộm. Luật sư nói với tòa… Kính thưa ngài tôi xin trình bày rằng thân chủ của tôi không hề đột nhập vào căn nhà đó. Anh ta thấy cửa sổ phòng khách mở trống và chỉ thọc cánh tay phải vào để lấy ra vài món đồ vặt vãnh. Đấy cánh tay thân chủ tôi đâu phải là chính anh ta. Tôi không hiểu sao ngài có thể trừng phạt cả một con người vì một sai phạm chỉ do một phần tứ chi của người ấy thực hiện.

    Quan toà cân nhắc lý luận này một hồi lâu rồi trả lời:

    – Lý luận của anh trình bày rất khéo. Xét theo lý lẽ đó tôi tuyên án cánh tay của bị cáo một năm tù giam, có đi theo cánh tay hay không là tùy ở bị cáo.

    Nghe quan toà phán xong, bị cáo mỉm cười và với sự giúp đỡ của luật sư, anh ta tháo rời cánh tay giả ra đặt nó lên trên ghế và ra về…

    *** mình đang cố nghiền ngẫm những tình huống vui cười này, cũng có nhiều điểm làm mình bất ngờ***
    —————————————

    Có 3 anh chàng sinh viên đi thi lại : 1 người thi lại môn anh, 2 người thi lại môn triết . Khi thi xong 3 chàng gặp nhau: – sv1 (thi lại môn anh ): hừ , học xong từng ấy năm đến bây giờ tao mới biết chữ hello có 2 chữ ” l” . – sv2( thi lại môn triết ) : thế thì mày vẫn còn hơn tao , đến bây giờ tao mới biết Mac – Enghen không phải là một người ! – sv3 ( cũng không thua ) : thế thì bọn mày vẫn còn hơn tao , học từng ấy năm mà bây giờ tao mới biết Lê Nin và Lê Duẩn không phải là anh em họ !
    —————————————

    đang cập nhật tiếp ( sưu tầm )

  • Hướng dẫn làm bài tập cá nhân môn Tư Pháp Quốc Tế : So sánh Tư pháp quốc tế và Luật Dân sự?

     

    Đối tượng điều chỉnh:

     Giống nhau: Mang tính chất dân sự ( các bên tham gia bình đẳng thỏa thuận và có yếu tố nhân thân, tài sản )

    Khác nhau: Tư pháp quốc tế mang tính chất Dân sự mở rộng ( không chỉ điều chỉnh nhân thân, tài sản mà còn điều chỉnh pháp luật tiền tệ, hôn nhân gia đình…)
                        Có yêu tố nước ngoài ( liên quan đên hai hoặc nhiều quốc gia )

    Phương pháp điều chỉnh:

     

    Giống nhau: thỏa thuận bình đẳng
    Khác nhau: Phương pháp Tư pháp Quốc tế có phương pháp xung đột và thực chất

    Nguồn: 

    Giống nhau: Đều là hệ thống các văn bản Pháp luật của quốc gia ( Hiến Pháp, Bộ Luật Dân sự )
    Khác nhau: Tư pháp quốc tế có điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.

  • Khái niệm:  Thương nhân là tổ chức kinh tế, được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động  thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh.

    Đặc điểm: Thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại:
    Hoạt động Thương mại là hoạt đông nhằm sinh lời, gồm bán hàng, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại…
    + Hoạt động này mang tính chất thường xuyên:
    Đó là lặp đi lặp lại

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default