HR Law

Chia sẻ kiến thức pháp lý nhân sự

  • Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:

    1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành25/12/2023
    Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam18/09/2023
    Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành20/06/2023
    Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý20/10/2022
    Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động01/07/2022
    Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng17/01/2022
    Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành30/01/2022
    Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành01/09/2021
    Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam15/02/2021
    Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động01/02/2021
    Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu01/01/2021
    Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành01/01/2021
    Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành15/03/2021

    2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực

    Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.18/8/2023
    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao17/10/2018

    3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 201501/07/2016
    Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
    Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 201401/07/2015Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
    Luật Thuế thu nhập cá nhân 200701/01/2009Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
    Luật Việc làm năm 201301/01/2015Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
    Luật Công đoàn năm 201201/01/2013Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
    Luật Bảo hiểm xã hội năm 201401/01/2016Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 202001/01/2022Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật người khuyết tật 201001/01/2011Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
    Luật Trẻ em 201601/06/2017Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
    Bộ luật Tố tụng Dân sự 201501/07/2016Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
    Luật Bình đẳng giới 200601/07/2007Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
    Luật người cao tuổi năm 200901/07/2010Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
    Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên

    Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.

  • Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:

    – Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.

    – Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.

    2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.

    3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.

    Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.

    Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

    Xem văn bản

  • HRLegal tổng hợp các tài liệu, biểu mẫu các văn bản pháp lý trong công tác quản trị nhân sự bắt buộc phải có theo quy định pháp luật, gồm có:

    • Mẫu hợp đồng lao đồng
    • Mẫu Thỏa ước lao động tập thể
    • Mẫu Nội quy lao động
    • Mẫu Quy chế dân chủ và đối thoại tại nơi làm việc
    • Mẫu Quy chế đánh giá hoàn thành công việc
    • Mẫu sổ quản lý lao động

    Các bạn tải về tại link drive này nhé. Nếu bạn tư vấn soạn thảo các văn bản pháp lý nhân sự, vui lòng liên hệ HRLegal.vn để được giải đáp nhé

  • Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lê nin và rút ra ý nghĩa của nó?
    1.1. Các quan niệm về vật chất trong triết học trước C. Mác
    * Thời kì cổ đại
    – Tương ứng với thời kì này là chế độ chiếm hữu nô lệ. Vào thời kì này, trình độ nhận thức của con người còn thấp, hiểu biết có hạn nên con người thường đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của nó.
    – Trong triết học Ấn Độ, người ta đồng nghĩa vật chất với những gì họ cho là con người cần nhất, như: nước, lửa, khí, đất.
    – Ở Trung Quốc, trường phái Âm dương cho rằng âm và dương là vật chất; còn trường phái Ngũ Hành cho rằng vật chất chính là 5 yếu tố: kim, thủy, mộc, hỏa, thổ.
    – Ở Hy Lạp, Talet nói vật chất là nước, Hê ra clit nói vật chất là lửa. Và đỉnh cao của tư tưởng duy vật cổ đại về vật chất là thuyết nguyên tử của  Đê mô crit. Ông cho rằng vật chất là nguyên tử. Ông định nghĩa nguyên tử là đơn vị (hạt) nhỏ nhất, không thể xâm nhập được, không cảm giác được. Quan niệm vật chất là nguyên tử đã trở thành quan niệm truyền thống trong nhân loại.
    * Thời kỳ trung đại
    – Tương ứng với thời kỳ này là chế độ phong kiến.
    – Ở thời kỳ này, quan niệm vật chất bị biến mất vì đây là thời kỳ của tôn giáo với những tư tưởng hoang đường về con người và thế giới. Thơi kỳ thần quyền thắng vương quyền. Triết học lúc này trỏe thành tôi tớ cho thần học (đêm trường trung cổ)
    * Thế kỷ 17, 18
    Loài người lúc này bước vào thời kỳ Phục Hưng, thời kỳ Ánh Sáng: khôi phục lại quan niệm duy vật thời cổ đại, mở ra thời kỳ ánh sáng của khoa học.
    – Thời kỳ này, khoa học đã được trỗi dậy và đi sâu nghiên cứu thế giới vi mô, các ngành khoa học cụ thể được ra đời dẫn đến quan điểm siêu hình máy móc về vật chất. Loài người đã đồng nhất các thuộc tính của vật chất là vật chất.
    – VD: người ta đồng nhất vật chất với khối lượng, trọng lượng, độ dài, tốc độ,….
    * Cuối thể kỷ 19, đầu thế kỷ 20
    – Trong vật lý học có những phát minh mang tính bước ngoặt.
    + 1895: phát hiện ra tia phóng xạ
    + 1896: phát hiện ra tia X (Rownghen)
    + 1897: phát hiện ra điện tử
    +1901 phát hiện ra thể tích của điện tử tăng khi gia tốc tăng
    – Những phát minh này đã phủ nhận quan niệm truyền thống xưa nay rằng vật chất là nguyên tử, bởi vì điện tử là một phần của nguyên tử.
    – Lợi dụng điều này, chủ nghĩa duy tâm, nhà thờ, giáo hội đã tấn công chủ nghĩa duy vật. Vật chất không phải là nguyên tử nên cơ sở của chủ nghĩa duy vật bị phá vỡ. Vật lý học rơi vào tình trạng khủng hoảng về phương pháp luận. Các nhà triết học duy vật bị lung lay, thậm chí còn chuyển sang chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy vật rơi vào bế tắc, điều này dẫn đến sự bế tắc của khoa học.
    – Đứng trước tình hình đó, V. I. Lê nin đã đưa ra định nghĩa về vật chất có tính kinh điển nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, chống chủ nghĩa duy tâm, mở đường cho khoa học phát triển.
    1.2. Quan điểm của C. Mác về vật chất
    Lê nin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ra chép lại, chụp lại. phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
    Trong định nghĩa này, Lê nin chỉ rõ:
    + “Vật chất là một phạm trù triết học”. Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày.
    + Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Đó chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.
    + “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”. “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (tính thứ hai). Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức.
    + “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh”. Điều này nói lên “thực tại khách quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạng cụ thể, bằng “cảm giác” (ý thức) con người có thể nhận thức được. Và “thực tại khách quan” chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác”.
    Định nghĩa của Lê nin về vật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
    1.3. Ý nghĩa của định nghĩa
    Định nghĩa vật chất của Lê nin có ý nghĩa:
    – Khi khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, con người có khả năng nhận thức thế giới, định nghĩa đã giải quyết được một cách triệt để vấn đề cơ bản của triết học, qua đó chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất.
    – Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học tư sản hiện đại, Do đó, định nghĩa này cũng giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.
    – Khi chỉ ra thuộc tính cơ bản của vật chất là thực tại khách quan, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác, định nghĩa đã cung cấp một cơ sở khoa học để nhận thức vật chất trong thế giới tự nhiên và xã hội. Nó còn là cơ sở, là phương pháp luận để nghiên cứu vật chất trong lĩnh vực xã hội. Đó là tồn tại xã hội.
    – Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng nên đã có rác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu ngheien cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại. Loài người sẽ tìm ra nhiều dạng lạ lùng khác nhau của vật chất nhưng định nghĩa về vật chất của Lê nin vẫn giữ nguyên giá trị.
    – Định nghĩa về vật chất của Lê nin đã khẳng đinh: trong thế giới của chúng ta không có gì khác ngoài vật chất hoặc do vật chất sinh ra.

    Câu 2: Trình bày nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức. Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn
    2.1. Nguồn gốc của ý thức
    Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của ý thức
    – Quan điểm duy tâm cho rằng: Ý thức có nguồn gốc thần thánh (VD: Chúa được sinh ra vào thứ Bảy, được tạo ra từ đất sét)
    – Ngày nay, khi khoa học phát triển, người ta cho rằng loài người là do người ngoài hành tinh sinh ra.
    – Quan điểm của Mác – Lê nin khẳng định: ý thức gồm 2 nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
    * Nguồn gốc tự nhiên
    – Muốn hiểu được nguồn gốc tự nhiên của ý thức, chứng ta phải hiểu được thuộc tính phản ánh của vật chất.
    + Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện thuộc tính kết cấu vật chất này trong kết cấu vật chất khác khi hai kết cấu vật chất đó tương tác lẫn nhau.
    VD: Khi cho 2 vật thể A, B va chạm với nhau thì cả hai đều sẽ bị tổn thương, biến dạng hoặc phân hủy ( cỏ may bám vào quần).
    + Cùng với sự tiến hóa của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh cũng có trình độ cao thấp khác nhau, kết cấu vật chất càng phát triển thì năng lực phản ánh càng cao. Trình đọ thấp nhất của phản ánh là ở giới thực vật. Đó là tính cảm ứng của thực vật.
    VD: hoa hướng dương luôn xoay về hướng có ánh nắng mặt trơi, ngọn cây luôn vươn về nơi có ánh sáng.
    Tính phản ứng ở động vật bậc thấp: khi môi trường tác động lên cơ thể động vật thì chúng phản ứng lại
    VD: mùa đông chim bay về phương nam…
    Trình độ phản ánh tâm lý ở động vật bậc cao (động vật đã có bán cầu đại não). Động vật này đã xuất hiện cảm giác, tri giác và biểu tượng.
    Trình độ phản ánh ý thức ở bộ não người. Đây là trình độ phản ánh cao nhất và chỉ có ở con người. Não người là cơ quan nhục thể, nơi sinh ra ý thức, là kết quả của quá trình phát triển hết sức lâu dài của vật chất. Não người có trọng lượng bằng 1/45 trọng lượng cơ thể. Nó có khoảng 14 – 17 tỉ tế bào thần kinh (tế bào thần kinh điều khiển mọi hoạt động của con người). Não bị tổn thương, hoạt động của ý thức sẽ bị hỗn loại. Số lượng tế bào thần kinh tham gia điều khiển hoạt động của cơ thể người là không đáng kế (khoảng 1000 tế bào). Muốn thông minh phải huy động được càng nhiều tế bào tham gia càng tốt.
    – Nguồn gốc tự nhiên của ý thức bao gồm não người và sự phản ánh của thế giới xung quanh.
    + Bộ não người là cơ quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của cộ óc con người diễn ra trên cơ sở sinh lý thần kinh của bộ óc người. Nghĩa là ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não con người, do đó, khi bọ não bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc.
    + Thế giới khách quan: Ý thức được hình thành nhờ có sự tác động của thế giới khách quan lên bộ não người. Thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan, đã tác động lên bỗ não con người, hình thành nên ý thức.
    * Nguồn gốc xã hội
    Nếu chỉ có nguồn gốc tự nhiên thì ý thức chưa thể xuất hiện, vì các loài động vật cũng bị tác động bởi thế giới xung quanh như con ngời. Cùng với nguồn gốc tự nhiên, ý thức còn có nguồn gốc xã hội. Đó là lao động và ngôn ngữ.
    – Lao động là hoạt động đặc thù của con ngwoif, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác.
    + Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ lao động và sử dụng những công cụ đó để tạo ra của cải, vật chất.
    + Lao động của con người là hành động có mục đích – tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thảo mãn nhu cầu của con người.
    + Trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trưu tượng của con người cũng ngày càng phát triển.
    – Lao động sản xuất cong là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ:
    + Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu vầu cần trao đổi kinh nghiệm. Từ đó, nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động.
    + Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quá sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ. Chính vì vậy, Ăng ghen coi lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” biến bọ não con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý  thức.
    Như vậy, nguồn gốc trực tiếp qan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và thực tiễn xã hội, Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não người, thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.

    2.1. Bản chất của ý thức
    CNDVBC cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất.
    – Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm.
    – Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan cũng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới, bởi
    + Phản ánh ý thức bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định, Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu được cái được phản ánh, Trên cơ sở đó, hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơ nhiện thực khách quan. Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh.
    + Phản ánh ý thức bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Là sản phẩ của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức có tính xã hội.
    Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy tâm, coi ý thức, tư duy là cái có  trước, dinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự pahnr ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất.
    2.3. Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn.
    MB: CNDVBC khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất. Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
    – Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức; song, ý thức có thể tác động ngược trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình.
    – Phải xuất phát từ thực tế khách quan. Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải tôn trọng thực tiễn khách quan, tuân theo các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan để đề ra các chủ trương, đường lối. Đồng thời, phải dựa trên cơ sở thực tế khách quan để kiểm nghiệm, đánh giá các chủ trương, đường lối đó. Nói cách khác, chúng ta phải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
    – Phát huy tính năng động chủ quan. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng và biết làm chủ tri thức khoa học, truyền bá tri thức đó vào trong quần chúng nhân dân để nó dẫn dắt quần chúng. Đồng thời, đòi hỏi mỗi người phải biết tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, cùng có nhân sinh quan tiến bộ và nâng cao ý chí, nghị lực trong hoạt động thực tiễn.
    – Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy luật khách quan của đối tượng. Trên cơ sở ấy, con người xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp. Tiếp theo, con người vói ý thức của mình xác định các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt động thực tiễn. Cuối cùng, bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra.
    – Nhận thức rõ vai trò tích cực của ý thức, của nhân tố chủ quan, Đảng ta đã xác định, trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay, phải “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, đồng thời phải “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài chí của người Việt Nam” (Văn kiện Đại hội Đảng VIII).
    – Phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, tức là khắc phục tình trạng không tôn trọng quy luật khách quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy tình cảm làm điểm xuât phát cho chiến lược, sách lược, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách…
    – Phải phòng, chống và khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thụ động và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường tri thức khoa học, coi thường lý luận trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

    Câu 3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất – ý thức và ý nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay / bản thân mỗi người.
    3.1. Trình bày vai trò của vật chất đối với ý thức
    Giải quyết nguyên lý mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.
    – Vật chất quyết định ý thức, điều đó được thể hiện ở chỗ:
    + Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất là nguồn gốc của ý thức, giữ vai trò quyết định đối với ý thức.
    VD: Về thế giới quan cũng như trình tự về mặt thời gian, yếu tố vật chất xuất hiện trước yếu tố ý thức. Cụ thể, phải có yếu tố vật chất mới sinh ra loài người có ý thức.
    + Trong đời sống hiện thực, nhân tố vật chất có trước nhân tố tinh thần.
    + Trong đời sống xã hội của con người, kinh tế quyết định chính trị, đời sống vật chất quyết đinh đời sống tinh thần.
    VD: các nước nhỏ, yếu về kinh tế rất sợ các cường quốc. Kinh tế Việt Nam có khởi sắc thì vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế mới được nâng cao.
    “có thực mới vực được đạo”
    – Ý thức có tính độc lập tương đối và có sự tác động ngược trở lại vật chất. Sự tác động này theo hai hướng: tích cực và tiêu cực. Có nghĩa, nếu ý thức năng động, sáng tạo, nhận thức đúng quy luật khách quan, hành động đúng thực tiễn thì sẽ thúc đẩy sự phát triển. Ngược lại, nếu không năng động sáng tạo, rơi vào tình trạng chủ quan duy ý chí sữ kìm hãm sự phát triển. Vì nói đến vai trò của ý thức đối với vật chất  là nói đến vai trò của con người trong nhận thức và trong thực tiễn. Điều đố lý giải vì sao, cùng một xuất phát điểm nhưng người tiến về phía trước, kẻ lại lùi lại phía sau.
    VD: Sau năm 1975, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều bị tàn phá bởi chiến tranh và mới giành lại độc lập, nhưng hiện nay, kinh tế Việt Namthua xa Hàn Quốc.
    Sau năm 1975, người dân Thái Lan rất ngưỡng mộ Sài Gòn – “hòn ngọc Viễn Đông”. Nhưng chỉ sau 10 năm, Việt Namsai lầm về đường lối kinh tế xã hội, còn Thái Lan nhanh chóng thể chế hóa theo đường lối kinh tế thị trường nên họ đã bứt lên nhanh chóng và vượt qua Việt Nam.
    – Trong đời sống hiện thực, với những điều kiện cụ thể, không gian và thời gian xác định, nhân tố ý thức có thể là nhân tố quyết định chứ không phải là vật chất.
    VD: Trong tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại tộc của dân tộc ta, chúng ta thường yếu hơn kẻ thù về tiềm năng vật chất, binh lực nhưng cuối cùng, chúng ta là người chiến thắng. Vì ta có sức mạnh tinh thần đoàn kết dân tộc, có lòng yêu nước nồng nàn và có nghệ thuật đánh giặc rất tài tình (lấy nhu thắng cương, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh).
    – Tuy nhiên, ý thức chỉ giữ vai trò quyết định trong những điều kiện không gian, thời gian nhất định. Vượt ra khỏi giới hạn đó, vai trò của ý thức sẽ bị mất đi.
    VD: người ta chỉ có thể chịu đựng hoàn cảnh khó khăn trong một thời gian nhất định, còn nếu hoàn cảnh khó khăn kéo dài thì sẽ không chịu được.
    Trong một khu phố, nếu tất cả mọi người cùng nghèo, người ta vẫn sống vui vẻ được, nhưng nếu chỉ cần một nhà giàu lên, cả khu phố đó sẽ có sự đố kỵ và sẽ tan rã.
    – Như vậy, ngay cả khi yếu tố ý thức trở thành yếu tố quyết định thì đã bị nhân tố vật chất quy định. Bởi tự bản thân ý thức không làm thay đổi được gì trong hiện thực nếu không có vật chất tác động, làm nền tảng
    3.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
    – Khi thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức thf trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan. Mọi hành động đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải căn cứ vào những điều kiện vật chất và năng lực vật chất hiện có khi đề ra các quyết sách; không được xuất phát từ ý chí, nguyện vọng cá nhân.
    VD: Trước thời kỳ đổi mới, đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta đã không xuất phát từ thực tế khách quan, kết quả đưa đến tình trạng khủng hoảng về mọi mặt. Và hiện nay, căn bệnh đó vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn.
    – Khi khẳng định ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất thì trong cuộc sống và trong kiến tạo các quyết định, thi hành các quyết định phải luôn luôn phát huy tính năng động của ý thức bằng cách không ngừng trau dồi nhận thức lý luận và chuyên môn, gắn bó với thực tiễn, luôn luôn năng động.
    – Đối với nước ta: Nếu khi lien hệ với Việt Nam, trong mọi đường lối chính sách, Đảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn khách quan, tôn trọng các quy luật khách quan. Vì vậy, đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhất là trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, thời kỳ trước đổi mới, nước ta đã vấp phải những sai lầm chủ quan trong hoạch định chiến lược kinh tế – xã hội. Hạn chế đó đang đượ từng bước khắc phục. Đảng ta khẳng định: mọi đường lối, chủ trương phát triển đất nước đều lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng lý luận. Đồng thời, xuất phát từ hiện thực của đất nước, quốc tế và thời đại.

    Câu 4. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
    * Phép biện chứng là gì?
    Phép biện chứng chẳng qua là khoa học về các quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng được thể hiện cô đọng trong hai nguyên lý. Đó là “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng” và “nguyên lý về sự phát triển”.
    1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
    Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
    a, Nội dung của nguyên lý
    – Các sự vật, hiện tượng trong thế giới có mối liên hệ với nhat không? Nếu có thì tính chất của các mối liên hệ đó như thế nào và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này như thế nào?
    – Phép siêu hình cho rằng: các sự vật, hiện tượng trong TGKQ không có liên hệ gì với nhau, chúng tồn tại một cách biệt lập nhau. Do đó, không có sự tác động qua lại, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau. Đây là một quan niệm sai lầm, không phản ánh đúng bản chất của thế giới.
    VD: Trong tự nhiên: Giới tự nhiên là một thể thống nhất, nó phụ thuộc lẫn nhau. Nếu một loài sinh vật tuyệt chủng thì mắt xích của sự sống trên thế giới sẽ bị tổn thương.
    Trong xã hội, các sự kiện kinh tế – chính trị ở một quốc gia nào đó không chỉ ảnh hưởng đến quốc gia đó mà còn lan tỏa khắp thế giới.
    Về tư duy, các truyền thống, phong tục tập quán ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong cộng đồng. Hay như ông cho có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
    – Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như cá bộ phận của chúng không tồn tại biệt lập với nhau mà có sự liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù mối liên hệ phổ biến để khái quát thực trạng trên.
    – Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới. Trên cơ sở đó, phép biện chứng duy vật xem xét thế giơi như một chỉnh thể. Theo đó, các sự vật, hiện tượng dù có phong phú, đa dạng thế nào thì cũng chỉ là những dạng cụ thể của một thế giới duy nhất và thống nhất – thế giới vật chất.
    – Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bội phận, yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong những mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chủ yếu được bộc lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng. Để thấy rõ hơn nội dung này, hãy xem xét các khía cạnh sau:
    – Về sự tồn tại của các mối liên hệ:
    + Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở ý thức, cảm giác của con người.
    + Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau.
    + Những người theo quan điểm biện chứng duy vật cho rằng:  các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định.
    – Về vai trò của các mối liên hệ:
    + Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau.
    + Do sự tồn tại cũng như bản chất của sự vật hiện tượng cũng chỉ bộc lộ qua các mối quan hệ, cho nên, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thưc, chúng ta không được tuyệt đối hóa, hay xem nhẹ một mối quan hệ nào, cũng không nên tách rời các mối qaun hệ với nhau mà phải tính đến tổng thể các mối liên hệ trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
    b,  Tính chất của mối liên hệ:
    Gồm 3 tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.
    – Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức con người.
    – Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác.
    – Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau. Phát triển có thể từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
    VD: sự học tập phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; sự sống phát triển từ đơn giản (đơn bào) đến phức tạp (động vật)
    2. Nguyên lý về sự phát triển
    a. Nội dung nguyên lý:
    Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như các bộ phận của chúng không tồn tại một cách tĩnh tại, bất biến mà luôn vận động, chuyển hóa lẫn nhau, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ. Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù phát triển để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng.
    – Cơ sở của nguyên lý này là quan niệm về vật chất vận động, theo đó, vật chất luôn luôn vận động, không có vận động nào lại không phải là vận động của vật chất; vận động là thuộc tính của sự vật, là phương thức tồn tại của vật chất.
    – Nội dung cơ bản của nguyên lý về sự phát triển được thể hiện ở những điểm sau:
    Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động, phát triển, trong đó phát triển được xem như trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, hoàn thiện hơn. Phương thức của sự phát triển là sự thay đổi về chất trên cơ sở những thay đổi về lượng. Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là những mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng, khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc”
    – Để hiểu rõ nội dung này, chúng ta hãy xem xét cá khía cạnh sau:
    + Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới.
    + Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lập lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn.
    + Quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển, họ cho rằng mọi sự vật, hiện tượng từ lúc sinh ra cho đến lức mất đi không hề phát triển
    b, Tính chất của sự phát triển :
    Ba tính chất cơ bản : Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
    – Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Bởi vì, theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn phát triển.
    – Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan.
    – Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú. Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau.
    3. Ý nghĩa phương pháp luận :
    – Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần có quan điểm toàn diện. Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thân sự vật với sự vật và hiện tượng khác.
    Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động và phát triển của sự vật.
    – Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong TGKQ là vận động đi lên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có những quan đểm phát triển. Quam điểm phát triển đòi hỏi: phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật.
    Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao.

    Câu 5. Nội dung và ý nghĩa của quy luật từ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại.
    Sự vật nào cũng bao hàm hai mặt: chất và lượng. Hai mặt này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành quy luật phổ biến của sự phát triển. Đó là quy luật từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
    1. Khái niệm chất và khái niệm lượng.
    – Chất:
    + Là phạm trù dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vạt, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác.
    + Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác. Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật,…
    VD: Nước nguyên chất là chất lỏng nên có khả năng hòa tan, ăn mòn kim loại, không dẫn điện, không màu, không mùi, không vị, nhiệt độ sôi là 1000C. Tập hợp tất cả những thuộc tính đó chính là nước nguyên chất.
    Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó. Muốn nhận thức đúng đắn về những thuộc tính của sự vật, chúng ta phải thông qua sự tác động qua lại của sự vật đó với các sự vật khác.
    + Chất có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản. Thuộc tính cơ bản quyết định chất của sự vật. Do vậy, nếu thuộc tính cơ bản của sự vật còn tồn tại thì chất còn tồn tại; nếu thuộc tính cơ bản của sự vật không còn thì chất cũng không còn nữa.
    VD: thuộc tính cơ bản của nước nguyên chất là không màu, không mùi, không vị dùng để phân biệt với các chất khác.
    Tuy nhiên, ranh giới giữa thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ có tính tương đối. Bởi, cũng thuộc tính ấy trong quan hệ này là thuộc tính cơ bản nhưng trong quan hệ khác nó lại không phải là thuộc tính cơ bản.
    VD: Cốc nước thủy tinh, trong quan hệ dùng để uống nước thì thuộc tính có đáy cốc là thuộc tính cơ bản, còn những thuộc tính khác như trọng lượng, chiều cao, màu sắc không phải là thuộc tính cơ bản. Nhưng khi dùng để chặn giấy thì thuộc tính trọng lượng lại là thuộc tính cơ bản.
    Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính; mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của sự vật. Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất. Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau. Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật.
    – Lượng:
    + Khái niệm: Lượng dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật.
    Lượng là cái vốn có của sự vật, song lượng chưa làm cho sự vật là nó, chưa làm cho nó khác với những cái khác. Lượng tồn tại cùng với chất của sự vật và cũng có tính khách quan như chất của sự vật.
    Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp,… trong thực tế, lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể (vd: vận tốc ánh sáng là 300000km/s). Bên cạnh đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như ý thức trách nhiệm cao hay thấp,.. Khi đó, ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa.
    – Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối. Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại (vd: số học sinh giỏi trong lớp- lượng- lại biểu thị chất lượng học tập của lớp đó-chất)
    2. Quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất.
    – Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất:
    + Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa mặt chất và mặt lượng. Chúng tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự vật, quy định về lượng không bao giờ tồn tại, nếu không có tính quy định về chất và ngược lại.
    + Sự thay đổi về lượng và về chất của sự vật diễn ra cùng với sự vận động và phát triển của sự vật. Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất và ngược lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng với thay đổi về lượng của nó.
    Để thấy rõ phương thức thay đổi này, chúng ta cần làm rõ quan hệ biện chững giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất qua các phạm trù: độ, điểm nút, bước nhảy.
    + Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy. Độ là mối liên hệ giữa lượng và chất của sự vật, ở đó thể hiện sự thống nhất giữa lượng và chất của sự vật.
    VD: chỉ khi bản án, quyết định của TA có hiệu lực thi hành thì một người mới được coi là tội phạm.
    Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật. Sự tích lũy đủ về lượng sẽ tạo ra bước nhảy, chất mới ra đời.
    VD: nhiệt độ sôi của nước là ở 99,99oC = 100oC. đây chính là điểm nút
    Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên. Bước nhảy là sự kết thúc quá trình biến đổi của lượng cũ, chất cũ; chúng sẽ mất đi và chất mới ra đời, thay thế sự vật cũ.
    VD: Cách mạng tháng 8 năm 1945 là bước nhảy về chất, nó đã kết thúc hàng nghìn năm chế độ phong kiến, hàng trăm năm chế độ thực dân, chuyển nước ta sang một giai đoạn mới của sự độc lập, hòa bình và phát triển.
    – Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng:
    Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật. Sự tác động ấy thể hiện: chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật. Như vậy, không chỉ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất mà những thay đổi về chất cũng đã dẫn đến những thay đổi về lượng.
    VD: khi đun nước đạt đến 100oC, nước sẽ bốc hơi, thể tích sẽ lớn hơn, tốc độ hoạt động cảu các phân tử nước nhanh hơn, khả năng dẫn nhiệt kém hơn.
    – Trong tính đa dạng của những hình thức thay đổi về chất, chúng ta lưu ý tới một số loại bước nhảy cơ bản sau đây:
    Bước nhảy để chuyển hóa về chất của sự vật hết sức đa dạng và phong phú với những hình thức rất khác nhau.
    Dựa theo nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật có thể phân chia thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần. Bước nhảy đột biếnlà bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật. Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi.
    Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật có bước nhảy toàn bộ  và bước nhảy cục bộ. Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật. Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự vật.
    =>  Nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa chất và lượng, chúng ta có thể phát biểu nội dung của quy luật này như sau: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới lại có chất mới cao hơn… Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi và phát triển.(quy luật này đôi khi được gọi vắn tắt là quy luật lượng, chất hoặc quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại) .

    c. Ý nghĩa phương pháp luận:
    – Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất. Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật. Trong hoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắc như “tích tiểu thành đại”, “năng nhặt chặt bị”, “góp gió thành bão”… Những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình thường của con người đó. Phương pháp này giúp chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, đốt cháy giai đoạn muốn thực hiện bước nhảy liên tục.
    – Quy luật của tự nhiên và quy luật của xã hội đều có tính khách quan. Song quy luật của tự nhiên diễn ra một cách tự phát, còn quy luật của xã hội chỉ được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Do đó, khi đã tích lũy đủ về số lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải kịp thời chuyển những sự thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính chất cách mạng.
    – Trong hoạt động con người còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy.
    – Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy để trong những điều kiện cụ thể, chúng ta có thể lựa chọn bước nhảy để trong những điều kiện cụ thể, chúng ta có thể lựa chọn bước nhảy phù hợp đem lại hiệu quả cao nhất.

    Câu 6. nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
    1. Các khái niệm cơ bản:
    –  Mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau.
    VD: điện tích âm và điện tích dương, quá trình đồng hóa và dị hóa, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị,…
    – Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn là sự tác động qua lại giữa cá mặt đối lập bên trong của sự vật hoặc giữa các sự vật đối lập với nhau. Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau.
    – Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.
    VD: không có quá trình đồng hóa thì không có quá trình dị hóa và ngược lại.
    – Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau.
    – Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn luôn “đấu tranh” với nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau.
    VD: giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân ở nước ta luôn có khuynh hướng phủ định, bài trừ, tieu diệt nhau.
    Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, vào mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tùy điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
    2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển:
    – Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy mâu thuẫn biện chứng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống nhất cũng được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế. Lênin viết :”Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”, tuy nhiên không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng.
    Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra nội dung của quy luật này như sau: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, khuynh hướng đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng trong bản thân nó, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay thế cái cũ. Chúng ta cũng có thể diễn đạt ngắn gọn: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
    – Phân loại mâu thuẫn:
    Từ nội dung khái quát trên, để hiểu sâu hơn về quy luật này, cần tìm hiểu cụ thể hơn về các loại mâu thuẫn.
    + Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
    Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật.
    VD: Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ trong xã hội Việt Namtrước cách mạng tháng 8
    Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác.
    VD: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, mâu thuận giữa quốc gia này với quốc gia khác.
    + Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
    Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật.
    VD: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay là mâu thuẫn cơ bản, còn những mâu thuẫn khác trong thời đại ngày nay là những mâu thuẫn không cơ bản
    Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật.
    + Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành  mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu.
    Mâu thuẫn chủ  yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó.
    VD: Ở nước ta hiện nay, vấn đề tham nhũng là mâu thuẫn chủ yếu; còn các mâu thuẫn khác giữa các giai cấp, các thành phần kinh tế là mâu thuẫn thứ yếu
    Mâu thuẫn thứ  yếu là những mâu thuẫn ra đời, tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối.
    + Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
    Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau.
    Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời.
    VD: mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân trước cách mạng tháng 8 ở Việt Nam là mâu thuẫn đối kháng; còn mâu thuẫn giữa các giai cấp khác trong xã hội là mâu thuẫn không đối kháng.
    Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập. Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn. Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hóa lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
    3. Ý nghĩa phương pháp luận        :
    – Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật. Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó.
    – Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng.
    – Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn. Phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.

    Câu 7. Trình bày nội dung và ý nghĩa của quy luật phủ định của phủ định
    1. Các khái niệm phủ định, phủ định biện chứng
    –  Phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác.
    VD: đốt cháy cây, quả trứng nở thành con gà, chế độ tư bản chủ nghĩa được thay thế bằng chế độ xã hội chủ nghĩa
    – Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân vừa có kế thừa và có đổi mới, phát triển, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn cái cũ.
    Như vậy, phủ định biện chứng là quá trình vừa mang tính khách quan vừa mang tính kế thừa. Tính khách quan thể hiện ở chỗ nguyên nhân của sự phủ dịnh nằm ngay trong bản thân sự vật, do kết quả giải quyết các mâu thuẫn bên trong sự vật quyết định. Hơn nữa, phương thức phủ định sự vật cũng không tùy thuộc ý muốn của con người. Mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng tùy thuộc vào tính chất mâu thuẫn và phương thức giải quyết mâu thuẫn của bản thân sự vật. Như vậy là phủ định biện chứng được thực hiện nhờ việc giải quyết cá mâu thuẫn bên trong sự vật. Chính điều này mà phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan của sự vận động và phát triển.
    –  Phủ định biện chứng không phải là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái bị phủ định. Trái lại, để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong đó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái bị phủ định. Phủ định biện chứng do vật là sự phủ định mang tính kế thừa.
    2. Phủ định của phủ định – khuynh hướng của sự phát triển
    – Phủ định của phủ định là dùng để chỉ một vòng khâu của sự phát triển, trong đó diễn ra hai lần phủ định biện chứng, sự vật dường như quay lại cái cũ nhưng ở trên một trình độ cao hơn.
    `- Sự phủ định lần thứ nhất được thực hiện một cách căn bản sẽ làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập của mình. Sự phủ định lần thứ hai sẽ ra đời một sự vật mới mang nhiều đặc trưng giống như cái ban đầu, song thực chất, không phải giống như cái cũ, mà dường như lặp lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn. Chỉ có thông qua phủ định của phủ định mới dẫn tới việc ra đời một sự vật mới, trong đó có sự lặp lại một số đặc trưng cơ bản của cái xuất phát ban đầu, nhưng trên cơ sở cao hơn.
    VD: hạt lúa – cây lúa – bông lúa
    – Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển. Sự phát triển đi lên đó không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường “xoáy trôn ốc”. Nó nói lên tính kế thừa của quy luật này.
    Từ sự phân tích trên, có thể phát biểu quy luật này như sau: “Mọi sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển của mình đều phải trải qua một chuỗi các phủ định biện chứng, phủ định của phủ định nói lên một chu kỳ của sự phát triển, theo đó sự vật mới dường như quay trở lại cái cũ nhưng trên cơ sở ca hơn về chất, sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”
    3. Ý nghĩa phương pháp luận.
    -Quy luật này giúp chúng ta nhận thức đúng về xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự phát triển không bao giờ diễn ra theo đường thẳng, mà quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định. Vì vậy, tránh thái độ phiến diện, đơn giản trong nhận thức đối tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội. Trong sự phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn hiện nay của thời đại, chủ nghĩa xã hội với tính cách một chế độ xã hội là cái mới. Sự khủng hoảng thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện nay chỉ là một trạng thái tạm thời. Chúng ta có đủ căn cứ để khẳng định rằng sớm hay muộn, chủ nghĩa xã hội sẽ được khôi phục, được phát triển, và cuối cùng, sẽ thay thế hoàn toàn chủ nghĩa tư bản. Những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới ở nước ta, những vấn đề phát sinh trong chủ nghĩa tư bản hiện đại và tính bất lực của nó trong việc giải quyết các vấn đề đó là cơ sở cho niềm tin đó.
    – Trong quá trình phát triển luôn xuất hiện cái mới thay thế cho cái cũ, cái tiến bộ thay thế cho cái lạc hậu, vì vậy phải có thái độ ủng hộ cái mới, tạo điều kiện cho cái mới, cái tiến bộ ra đời. Trong công tác chúng ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, mặc dù lúc đầu nó còn yếu ớt, ít ỏi; phải ra sức bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ.
    – Chúng ta không  được phép có thái độ phủ định sạch trơn mà phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của cái cũ. Bên cạnh việc chống thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn qua khứ, chúng ta cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại cả những gì đã lỗi thời cản trở bước tiến của lịch sử. Quan điểm biện chứng duy vật về sự phát triển đòi hỏi trong hoạt động lý luận và thực tiễn, chúng ta phải biết kế thừa có phê phán, có chọn lọc những nhân tố tích cực của tư tưởng trước, của giai đoạn phát triển trước, của cái bị phủ định nói chung, sử dụng như là tiền đề cho sự ra đời của cái mới.

    Câu 8. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
    1. Bản chất của nhận thức
    C. Mác và Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết về nhận thức dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
    – Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con người.
    – Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người. Coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể. Không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được.
    – Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
    – Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
    Dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:
    Về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.
    2. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
    – Khái niệm:
    Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
    – Khác với hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn, là hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo những mục đích của mình. Những hoạt động ấy là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển bởi con người qua các thời kì lịch sử. Chính vì vậy mà thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất có mục đích và mang tính lịch sử – xã hội.
    – Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản là:
    + Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hoạt động thực tiễn nguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật.
    + Ngoài ra, còn có hoạt động chính trị- xã hội nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội.
    + Bên cạnh đó, với sự ra đời và phát triển khoa học, cũng đã xuất hiện thêm hoạt động thực nghiệm khoa học.
    Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau. Song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác.
    – Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
    + Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện trước hết ở chỗ: thực tiễn là cơ sở của nhận thức, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
    Sở dĩ như vậy bởi vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức. Nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tất yếu, khách quan là giải thích và cải tạo thế giới mà buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó mà hình thành nên các lý thuyết khoa học. Có thể nói, suy cho cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn. Do đó, nếu thoát ly thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát triển của mình.
    Ngoài ra, vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới.
    +Thực tiễn còn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Có nghĩa là: thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức. Mác đã viết: “vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phati là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”.
    => Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình. Lênin đã viết: “quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.

    Câu 9. Biện chứng của quá trình nhận thức
    – Nhận thức là quá trình diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu khác nhau song đây là quá trình biện chứng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ duy trừu tượng đến thực tiễn.
    1. Trực quan sinh động
    Trực quan sinh động còn được gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính; đây là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật nhằm nắm bắt các sự vật ấy. Trực quan sinh động bao gồm 3 hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
    + Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hóa những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức. Chính vì thế mà Lênin đã viết “cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
    + Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự tổng hợp của nhiều cảm giác. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật.
    + Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh động. Đó là hình ảnh có tính đặc trưng và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc con người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan. Biểu tượng được hình thành nhờ sự phối hợp, bổ sung lẫn cho nhau của các giác quan nhưng đã có sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp và ít nhiều mang tính chất trừu tượng hóa.
    2. Tư duy trừu tượng
    Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính): Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng. Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật hiện tượng. Nhận thức lý tính được thể hiện với 3 hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý.
    + Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật. Vì vậy, khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển. Nó chẳng những rất linh động, mềm dẻo, năng động mà còn là “điểm nút” của quá trình tư duy trừu tượng, là cơ sở để hình thành phán đoán.
    + Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng.
    + Suy lý là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri thức mới bằng phán đoán mới. Ví dụ, nếu liên kết phán đoán “kim loại thì dẫn điện” với phán đoán “đồng là kim loại” ta rút ra được một phán đoán mới là: “đồng dẫn điện”.
    Tùy theo sự kết hợp các phán đoán theo trật tự nào (từ phán đoán đơn nhất qua phán đoán đặc thù, rồi tới phán đoán phổ biến hoặc ngược lại) mà người ta có được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch.
    3 Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính với thực tiễn
    + Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức. Trên thực tế, chúng thường diễn ra đan xen vào nhau trong một quá trình nhận thức; song chúng có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau. Nếu nhận thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm tính, là cơ sở cho nhận thức lý tính thì nhận thức lý tính, nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu biết được bản chất, quy luật vận động và phát triển sinh động của sự vật; giúp cho nhận thức cảm tính có định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn.
    + Tuy nhiên, nếu dừng lại ở nhận thức lý tính thì con người mới chỉ có được những tri thức đối tượng, còn bản thân những tri thức ấy có chân thực hay không thì con người chưa biết được. Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải xác định xem những tri thức ấy có chân thực hay không. Để thực hiện điều đó, nhận thức nhất thiết phải trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn, làm thước đo tính chân thực của những tri thức đã đạt được trong quá trình nhận thức.

    Câu 10.Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
    1. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
    *  Khái niệm:
    Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định.
    – Phương thức sản xuất: là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
    VD: phương thức sản xuất thời nguyên thủy là săn bắt, hái lượm; thời nô lệ, phong kiến là phương thức thủ công; thời tư bản đến nay là phương thức sản xuất bằng máy móc, công nghệ
    – Lực lượng sản xuất: biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, con người kết hợp sức lao động của mình với tư liệu sản xuất tạo thành sức mạnh khai thác giới tự nhiên, tạo ra sản phẩm cần thiết cho đời sống. Như vậy, lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình.
    + Lực lượng sản xuất gồm 3 yếu tố: TLSX, người lao động và khoa học công nghệ. Trong tư liệu sản xuất thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất, nó biểu hiện cho trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Trong 3 yếu tố của lực lượng sản xuất thì người lao động giữ vai trò quan trọng nhất
    Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” – Lênin. Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất.
    Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, được con người cải tiến và hoàn thiện không ngừng. Chính điều đó đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất mà xét đến cùng nó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
    Ngày nay, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn trong sự phát triển của LLSX, nó gắn liền và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Có thể nói, khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho LLSX hiện đại.
    + Quan hệ sản xuất: là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra.
    Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất; giữa 3 mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.
    Trong 3 mặt này, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho QHSX trong từng xã hội. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là sự phân chia tư liệu sản xuất như thế nào. Nó quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ xã hội khác. Trong lịch sử có 2 loại hình sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất là: sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng (thời nguyên thủy). Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất tập trung vào trong tay một số ít người, còn đại đa số không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất (từ thời nô lệ đến nay). Tính chất của tư liệu sản xuất sẽ quyết định tính chất của quan hệ xã hội.
    + Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất.
    + Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người, nên nó tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển.
    Ba mặt trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết đinh. Bản chất của bất cứ kiểu quan hệ sản xuất nào trước hết do quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất quyết định
    * Quan hệ biện chứng: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
    LLSX và quan hệ sx là hai mặt của phương thức sx, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX- quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển xã hội.
    – Sự vận động, phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với nó:
    + Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.
    – QHSX cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của LLSX.
    Vì QHSX quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ,… do đó tác động đến sự phát triển của LLSX.
    + Do đó QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là động lực thúc đẩyLLSX phát triển.
    + Ngược lại, QHSX lỗi thời, hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX. Tuy nhiên việc giải quyết mâu thuẫn này ko phải đơn giản. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người, trong xã hội có giai cấp thì phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.
    2. Vận dụng vào điều kiện ở nước ta hiện nay:
    – Sau thời kỳ đổi mới, trên cơ sở xác định rõ trình độ của LLSX ở nước ta, Đảng ta đã chủ trương thiết lập một QHSX phù hợp với LLSX, đó là:
    + Về quan hệ sở hữu: phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
    + Về tổ chức, quản lý sản xuất: thực hiện việc quản lý, điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
    Đây là QHSX phù hợp với lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay vốn còn nhiều yếu kém có sự phát triển không đồng đều, đan xen nhiều trình độ (thủ công, cơ khí, hiện đại), do vậy nó có tác dụng giải phóng, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất.
    – Hiện nay, hai nhiệm vụ quan trọng nhất có tính quyết định đối với sự phát triển của xã hội ta:
    + Thứ nhất, đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một trong những mục tiêu cơ bản của quá trình đó là xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại (đặc biệt là tư liệu sản xuất và con  người).
    + Thứ hai, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó cần đổi mới về quan hệ sản xuất, tạo sự phù hợp của nó với lực lượng sản xuất nhằm khai thác mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước tham gia vào phát triển lực lượng sản xuất.
    3. Ý nghĩa phương pháp luận:
    –  Phải thấy được tầm quan trọng của quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất trong quan hệ sản xuất, nhưng không được tuyệt đối hóa nó. Một khi quan hệ sản xuất được thiết lập thì cần phải quan tâm thực sự đến việc củng cố, hoàn thiện quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất, phải tìm ra những hình thức quản lý đa dạng để có thể sử dụng có hiệu quả sức lao động, tư liệu sản xuất, nguồn vốn đất đai, tài nguyên.
    – Khi tiến hành hoạt động sản xuất, cùng với việc coi trọng quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất, không thể không tính đến quan hệ phân phối sản phẩm, tức là phải quan tâm thỏa đáng đến những nhu cầu, lợi ích đa dạng và cụ thể của người lao động. Phải thực hiện quan hệ phân phối công bằng, đủ sức kích thích, tạo động lực cho người lao động tích cực sản xuất, kinh doanh.
    – Trong giai đoạn cuối mỗi phương thức sản xuất, khi lực lượng sản xuất đã thay đổi về chất, mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất, thì cần phải tiến hành cách mạng xã hội để thiết lập một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
    – Trong quá trình xây dựng xã hội mới, vì lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất; do vậy, muốn phát triển kinh tế – xã hội thì trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối, tác động mạnh mẽ trở lại lực lượng sản xuất, nên cần thiết phải kịp thời phát hiện và điều chỉnh những yếu tố không phù hợp trong quan hệ sản xuất theo nguyên tắc: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    Câu 11. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
    1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
    Trên cơ sở quan hệ sản xuất hình thành nên các quan hệ về kinh tế và chính trị của xã hội. Hai mặt đó của đời sống xã hội được khái quát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
    – Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định
    + Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm QHSX thống trị, QHSX tàn dư của xã hội cũ và QHSX mầm mống của xã hội tương lai. Đặ trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng do quan hệ sản xuất thống trị
    + Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì tính chất của sự đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ trong cơ sở hạ tầng.
    – Kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,…cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
    + Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng, phảnh ánh cơ sở hạ tầng. Trong đó, Nhà nước là bộ phận có quyền lực mạnh mẽ nhất của kiến trúc thượng tầng. Chính nhờ có Nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xã hội.
    + Kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp đối kháng bao gồm hệ tư tưởng và thể chế của giai cấp thống trị tàn dư của các quan điểm của xã hội trước, các quan điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời, quan điểm tư tưởng của các tầng lớp trung gian. Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của kiến trúc thượng tầng trong một hình thái xã hội nhất định. Tính chất đối kháng về quan điểm tư tưởng và cuộc đấu tranh tư tưởng của các giai cấp đối kháng phản ánh tính chất đối kháng của cơ sở hạ tầng
    2.  Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
    – Cơ sở hạ tầng quyết định đối với kiến trúc thượng tầng:
    + Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội.
    + Cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo. Tuy sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng cũng gắn với sự phát triển của LLSX nhưng LLSX không trực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng mà nó làm thay đổi QHSX, tức là trực tiếp thay đổi cơ sở hạ tầng và thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng.
    + Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế – xã hội.
    – Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
    + Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện trước hết ở chức năng chính trị – xã hội của kiến trúc thượng tầng nhằm bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ.
    + Các bộ phận khác nhay của kiến trúc thượng tầng đều tác động dến cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong đó Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng có tác động to lớn nhất và trực tiếp đối với cơ sở hạ tầng.
    + Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều:
    Nếu kiên trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển;
    Ngược lại, nếu tác động không phù hợp với quy luật vận động của cơ sở hạ tầng, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội.
    3.  Liên hệ với Việt Nam:
    – Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam bao gồm các kiểu quan hệ sản xuất tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập nhau, cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
    Từ các kỳ Đại hội IX, X và XI, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội.
    – Về xây dựng kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Các tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị nhằm phục vụ con người, thực hiện lợi ích và quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể của nhân dân. Trong đó, Đảng đóng vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
    Để thiết lập một kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng, Đảng ta chủ trương không ngừng đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    – Trong quá trình đổi mới, chúng ta đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
    4. Ý nghĩa phương pháp luận
    – Trong nhận thức và hành động, phải thấy được vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, của kinh tế đối với chính trị. Những thay đổi trong kinh tế là cơ sở của những thay đổi trong chính trị. Tuy nhiên, không được tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế, vì nếu tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế sẽ rơi vào chủ nghĩa duy kinh tế – chủ nghĩa duy vật tầm thường, coi kinh tế là tất cả, chính trị là số không (như phái kinh tế ở Nga cuối thế kỷ XIX).
    – Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần phải nhận thức rõ vai trò to lớn của chính trị với kinh tế, song không thể tuyệt đối vai trò của chính trị với kinh tế, nếu tuyệt đối hóa sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí.

    Câu 12. Trình bày phạm trù hình thái kinh tế – xã hội của CNDVBC và sự vận dụng của Đảng đối với nước ta hiện nay
    1. Khái niệm và cấu trúc của hình thái kinh tế – xã hội
    * Khái niệm hình thái kinh tế – xã hội
    Hình thái kinh tế- xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của LLSX và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những QHSX ấy.
    * Kết cấu
    Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là LLSX, QHSX và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
    – Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế – xã hội. Hình thái kinh tế- xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội.
    –  Các quan hệ sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái kinh tế – xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho nó. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.
    – Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.
    Suy đến cùng, sự phát triển của LLSX quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội.
    – Ngoài các mặt cơ bản đã nêu trên, các hình thái kinh tế – xã hội còn có quan hệ về gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi của quan hệ sản xuất.
    2. Sự vận dụng của Đảng đối với nước ta hiện nay
    – Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hôi, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật của cách mạng VN: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
    – Quá độ ở nước ta là kiểu quá độ gián tiếp: quá độ lên CNXH từ một nước tiền tư bản, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.
    – Quá trình đi lên CNXH ở nước ta có điểm xuất phát thấp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ phù hợp. Việc thiết lập các yếu tố cơ bản của hình thái kinh tế – xã hội mới được Đảng ta xác định:
    + Về lực lượng sx: do trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp kém, cho nên, để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH,  Đảng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    + Về quan hệ sx: do lực lượng sản xuất nước ta còn thấp kém, có nhiều trình độ đan xen, nên Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở đa dạng hóa các loại hình sở hữu, vận hành cơ chế thị trường, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
    + Về KTTT: Tương ứng với cơ sở hạ tầng là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Đảng chủ trương:
    -> Lấy CN Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân; phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài.
    -> Không ngừng đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    3. Ý nghĩa phương pháp luận
    – Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử  – tự nhiên. Qúa trình này chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
    – Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội.
    + Học thuyết chỉ ra: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội. Cho nên, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất.
    + Học thuyết chỉ ra: xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Điều đó cho thấy, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Đặc biệt phải đi sâu phân tích về quan hệ sản xuất thì mới có thể hiểu đúng đắn về đời sống xã hội.
    Câu 13. Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên và sự vận dụng vấn đề này ở nước ta hiện nay
    1. Nội dung
    Khi phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo lý luận cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội, C.Mác cho rằng: “sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.23, t.r21. ).
    – Tính chất lịch sử – tự nhiên của quá trình phát triển các hình thái kinh tế- xã hội được thể hiện ở các nội dung sau:
    + Một là, sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tếxã hội mà trước hết là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng.
    + Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Theo V.I.Lênin: “Chỉ có đem quy các quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1974, t.1, tr.163. ).
    + Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội là do sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế – xã hội không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
    – Vai trò của nhân tố chủ quan đối với tiến trình lịch sử:
    + Sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử trước hết do tác động của các quy luật khách quan nhưng đồng thời còn chịu tác động của các nhân tố chủ quan như điều kiện địa lý, tương quan lực lượng giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế… Chính vì vậy, tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức phức tạp, đa dạng phong phú…Tính chất phong phú đa dạng của tiến trình phát triển các hình thái kinh tế – xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hay một vài hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Tuy nhiên sự “bỏ qua” đó phải gắn với những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định.
    + Sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan đối với sự vận động, phát triển của xã hội:
    + Lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người, từ đó lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thống nhất của nó.
    2. Vận dụng vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay
    Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta khẳng định: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau. Đó là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Việc Đảng ta luôn kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta.
    – Tuy nhiên, từ thực tiễn, nhất là thực tiễn quá trình đổi mới, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
    + Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
    + Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ.
    – Xây dựng và phát triển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay không chỉ cần chú trọng tới các nhân tố khách quan mà cũng cần quan tâm tới các nhân tố chủ quan như điều kiện địa lý, tương quan lực lượng giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế, đặc biệt là nhân tố con người… để đánh giá phù hợp tình hình của đất nước, đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm phát triển một cách toàn diện và bền vững.

    Câu 14. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
    1. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
    * Tồn tại xã hội
    – Tồn tại xã hội là toàn bộ những sinh hoạt vật chất và điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội,
    –  Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là: phương thức sản xuất ra của cải vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số,… Trong đó, phương thức sản xuất ra của cải vật chất là nhân tố quyết định đối với tồn tại xã hội.
    * Ý thức xã hội
    – Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm những tư tưởng, quan điểm, lý luận, tình cảm, tâm trạng, tập quán, truyền thống,… phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử.
    – Ý thức xã hội bao gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
    + Tâm lý xã hội là bộ phận của ý thức xã hội bao gồm tình cảm, ước muốn, thói quen, tập quán… của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn bộ xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó.
    + Hệ tư tưởng là bộ phận của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách gián tiếp, tự giác, khái quát hoá thành những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo).
    – Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội. Nó có chung một nguồn gốc là phản ánh tồn tại xã hội và giữa chúng có quan hệ tác động lẫn nhau. Hệ tư tưởng khoa học thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh có lợi cho tiến bộ xã hội. Hệ tư tưởng phản khoa học, phản động kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển.
    – Tuy nhiên, hệ tư tưởng xã hội không nảy sinh tự phát từ tâm lý xã hội và không phải là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội. Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội có tính giai cấp
    2. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
    Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội có cơ sở lý luận là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
    * Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
    – Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện: tồn tại xã hội sinh ra ý thức xã hội, còn ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội. Mỗi khi tồn tại xã hội biến đổi, đặc biệt là phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hôi, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức,… sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo.
    – Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, nhưng không phải bất cứ tư tưởng, quan điểm, lý luận xã hội nào, tác phẩm văn học nghệ thuật nào cũng nhất thiết trực tiếp phản ánh những quan hệ kinh tế của thời đại mà chỉ xét đến cùng thì các quan hệ kinh tế mới được phản ánh bằng cách này hay cách khác vào những tư tưởng đó. Bởi, ý thức xã hội trong sự phát triển của mình có tính độc lập tương đối
    * Tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức xã hội
    Tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức xã hội được biểu hiện ở 5 mặt dưới đây:
    – Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
    + Có nghĩa là khi chế độ cũ đã mất đi nhưng YTXH do nó sinh ra vẫn còn tồn tại trong một thời gian, thậm chí rất lâu.
    VD: Chế độ cũ của nước ta đã mất đi từ năm 1945 nhưng ý thức xã hội của chế độ đó vãn còn tồn tại trong xã hội mới hiện nay, như: các hủ tục ma chay, cưới xin, tính gia trưởng,…
    + Sở dĩ ý thức xã hội có những lạc hậu tương đối so với tồn tại xã hội là vì
    ~ Tính bảo thủ vốn có của một số hình thái ý thức như đạo đức, tôn giáo,…
    ~ Do truyền thống và sức mạnh của thói quen
    ~ Do các thế lực phản tiến bộ có âm mưu chống phá những chế độ mới và khôi phục ý thức xã hội cũ có hại cho cách mạng.
    – Ý thức xã hội có tính vượt trước. Đó là những tư tưởng tiến bộ, khoa học.
    + Trong những điều kiện nhất định, những tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước thời đại để phán đoán tương lai, định hướng cho sự phát triển
    VD: sự phán đoán về sự ra đời của chế độ Cộng sản chủ nghĩa đã được Mác – Ăng ghen nói từ những năm 40 của thế kỷ 19.
    – Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó. Điều này lý giải vì sao do có tính kế thừa mà 1 dân tộc kinh tế phát triển chậm lại có đời sống tinh thần phong phú hơn so với quốc gia có nền kinh tế phát triển.
    – Ý thức xã hội có nhiều hình thái khác nhau, giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau trong sự phát triển của chúng.
    + Ý thức xã hội gồm: ý thức chính trị, tư tưởng pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức về mỹ học.
    VD: tư tưởng chính trị sẽ tác động lên ý thức pháp quyền, ý thức pháp quyền tác động lên ý thức tôn giáo, mỹ học tác động vào ý thức pháp quyền.
    – Sự tác động trở lại của ý thức xã hội với tông tại xã hội là biểu hiện quan trọng nhất của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, biểu hiện tập trung vai trò của ý thức xã hội với tồn tại xã hội. Nó tác động theo hai hướng. Nếu ý thức xã hội phù hợp với tồn tại xã hội, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của tồn tại xã hội và ngược lại, nếu ý thức xã hội không phù hợp với tồn tại xã hội, nó sẽ kìm hãm sự phát triển.
    VD: Nếu vai trò của pháp quyền thực sự được phát huy mạnh mẽ sẽ làm cho hệ thống chính trị được ổn định và củng cố; còn nếu nó không phát huy được sức mạnh của mình thì hệ thống chính trị sẽ bị hỗn loạn.
    Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng xã hội đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó nảy sinh những tư tưởng nhất định. Nó phụ thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp giương cao ngọn cờ tư tưởng đó, phujthuoocj vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đó đối với các nhu cầu phát triển của xã hội, phụ thuộc vào mức độ xâm nhập của tư tưởng đó vào quần chúng nhân dân.
    13.4. Ý nghĩa thực tiễn của mối quan hệ này đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
    – Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống xã hội. Vì vậy, công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
    – Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng chủ nghĩa ở nước ta, một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa, phát huy vai trò tích cực của đời sống tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mặt khác, phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý trong việc xây dựng văn hóa, xây dựng con người mới. Cần thấy rằng chỉ có thể thực sự tạo dựng được đời sống tinh thần của xã hội XHCN trên cơ sở cải tạo triệt để  phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    Câu 15. Vấn đề về nhà nước
    1. Nguồn gốc của Nhà nước
    – Nhà nước là một phạm trù lịch sử. Nhà nước không xuất hiện cùng với sự hình thành của xã hội loài người. Lịch sử xã hội đã có một thời kỳ chưa có Nhà nước – thời kỳ cộng sản nguyên thủy. Chỉ đến khi xã hội phân chia thành giai cấp Nhà nước mới ra đời.
    – Chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia thành những giai cấp đối kháng – chủ nô và nô lệ. Mâu thuẫn giữa các giai cấp đó không ngừng diễn ra và ngày càng quyết liệt không thể điều hòa được. Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp chủ nô đã lập ra một bộ máy bạo lực. Đó là Nhà nước.
    – Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ. tiếp đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản đểu xuất hiện từ mâu thuẫn đối kháng giai cấp vốn có của mỗi xã hội. Như vậy, Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được.
    2. Bản chất của Nhà nước
    – Bản chất của Nhà nước là nền chuyên chính của một giai cấp này đối với một giai cấp khác và đối với toàn xã hội. Nhờ có bộ máy nhà nươc, giai cấp thống trị chiếm số ít trong dân cư duy trì được sự áp bức, bóc lột của mình đối với giai cấp bị trị bao giờ cũng chiếm số đông. Bản chất đó được thể hiện ở chức năng và đặc trung của nhà nước.
    – Với tính chất là nền chuyên chính của một giai cấp đối với một giai cấp khác, nhà nước của giai cấp bóc lột không thể là kẻ “công bằng” bảo vệ lợi ích cho các giai cấp trong xã hội,
    – Theo bản chất đó, Nhà nước là một bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp. Do đó, “Nhà nước nói chung chỉ là sự phản ánh dưới hình thức tập trung của những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất” (Mác – Ăngghen)
    3. Đặc trưng của Nhà nước
    Bản chất của nhà nước thể hiện ở đặc trưng của nó. Bất kì nhà nước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản sau:
    – Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định:
    Khác với tổ chức thị tộc, bộ lạc, thời nguyên thủy đươc hình thành trên cơ sở những quan hệ huyết thống, Nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà họ cư trú. Quyền lực nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên trong lãnh thổ không phân biệt huyết thống. Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong cộng đồng với nhà nước. Mỗi nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định.
    – Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội.
    Khác với các cơ quan điều hành công việc chung trong thị tộc, bộ lạc, Nhà nước của giai cấp thống trị nào cũng có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp. Bộ máy quyền lực đó bao gồm các đội vũ trang đặc biệt (quân đội, cảnh sát, nhà tù …) và bộ máy quản lý hành chính. Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật và dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trên thực tế.
    –  Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị.
    Nhà nước không thể tồn tại nếu không dựa vào thuế khóa, quốc trái và các hình thức bóc lột khác. Đó là những chế độ đóng góp có tính chất cưỡng bức để nuôi sống bộ máy cai trị. Hệ thống thuế khóa, cống nạp như vậy hoàn toàn không có trong hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc. Nó chỉ tồn tại gắn liền với hình thái tổ chức nhà nước. Bằng các hình thức khác nhau như vậy, nhà nước của giai cấp bóc lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức.
    4.  Chức năng của nhà nước
    Bản chất giai cấp của Nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó. Tùy theo góc độ khác nhau, chức năng của Nhà nước được phân chia khác nhau. Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị và chức năng xã hội; Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có các chức năng đối nội và đối ngoại.
    – Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội
    + Chức năng thống trị chính trị của giai cấp: là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành bản chất chủ yếu của nó.
    + Chức năng xã hội của nhà nước: là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn một số yêu cầu chung của cộng đồng dưới sự quản lý của nhà nước.
    Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là chức năng cơ bản nhất vì nó có vai trò chi phối chức năng xã hội, phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Song, chức năng xã hội lại là cơ sở cho việc thực hiện chức năng giai cấp. Bởi vì chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội. Ph.Ăngghen viết “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào mà nó thực hiện chức năng xã hội đó của nó”
    – Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
    Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước thể hiện trong lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại.
    + Chức năng đối nội: nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội. Thông thường điều đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác (bộ máy thông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hóa giáo dục,…) để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí giai cấp thống trị làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.
    + Chức năng đối ngoại: của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích của quốc gia. Ngày nay, việc mở rộng chức năng đối ngoại có tầm quan trọng đặc biệt.
    Cả hai chức năng này đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại, ngược lại, tính chất và nhu cầu của chức năng đối ngoại tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.
    5. Các kiểu và hình thức nhà nước
    – Kiểu nhà nước chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế xã hội nào.
    – Hình thức nhà nước chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước.
    Tùy theo tình hình kinh tế – xã hội cụ thể của mỗi quốc gia mà mỗi kiểu nhà nước được tổ chức theo những hình thức nhất định. Hình thức nhà nước bị quy định bởi bản chất giai cấp của nhà nước, bởi tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bởi cơ cấu giai cấp – xã hội, bởi đặc điểm truyền thống chính trị của đất nước. – Tương ứng với ba chế độ xã hội có giai cấp trong lịch sử là hình thái kinh tế xã hộ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, và xã hội chủ nghĩa là ba kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến và nhà nước tư sản.
    * Nhà nước chiếm hữu nô lệ:
    Là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu biểu là hình thức nhà nước chủ nô ở Hy Lạp và La Mã cổ đại như chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa, chính thể quý tộc và chính thể dân chủ. Các hình thức này chỉ khác nhau về cách thức và cơ chế hoạt động còn bản chất chúng đều là nhà nước của giai cấp chủ nô, nhằm thực hiện sự chuyên chính đối với nô lệ.
    * Nhà nước phong kiến:
    Đây là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở phương Tây, hình thức quân chủ phân quyền là hình thức nhà nước phổ biến, quyền lực nhà nước được chia thành quyền lực độc lập, mỗi chúa phong kiến là một ông vua trên lãnh thổ của mình. Mối liên hệ giữa các chúa phong kiến châu Âu được thiết lập bằng hình thức liên minh của các nhà nước cát cứ, trong đó, Thiên chúa giáo trở thành mối quan hệ tinh thần thiêng liêng giữa các tiểu vương quốc phong kiến. Ở phương Đông, hình thức quân chủ tập quyền là hình thức nhà nước phổ biến dựa trên chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất. Hoàng đế có uy quyền tuyệt đối, ý chí của vua là pháp luật. Dù tồn tại dưới bất kì hình thức nào, nhà nước phong kiến cũng chỉ là công cụ của giai cấp địa chủ phong kiến dùng để áp bức, thống trị nông nô.
    * Nhà nước tư sản
    Tồn tại với hai hình thức cơ bản: hình thức cộng hòa và hình thức quân chủ lập hiến. Hình thức cộng hòa lại được tổ chức dưới những hình thức khác nhau như: cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống. Trong đó cộng hòa đại nghị là hình thức điển hình và phổ biến nhất. Hình thức nhà nước tư sản rất phong phú nhưng không làm thay đổi bản chất của nó. Đó là công cụ của giai cấp tư sản dùng để áp bức, thống trị giai cấp vô sản và quần chúng lao động để bảo vệ lợi ích và quyền thống trị của giai cấp tư sản. Sự ra đời của chế độ dân chủ tư sản là một bước tiến về chất trong sự phát triển của nhà nước. Nó đã kết tinh được những giá trị dân chủ được sáng tạo ra trong thời kì trước khi giai cấp công nhân cầm quyền. Sự phát triển hợp quy luật của các giá trị đó là những nhân tố nội tại dẫn tới phủ định các quy luật này. Nền dân chủ vô sản với tư cách là nền dân chủ cao về chất so với dân chủ tư sản cũng chỉ ra đời một khi biết kế thừa, phát triển toàn bộ những giá trị dân chủ mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử.
    *  Nhà nước vô sản
    Là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử. Nó chỉ tồn tại trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Nó là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử của xã hội loài người. Thích ứng với thời kì ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản. Sự tồn tại của nhà nước vô sản là tất yếu vì trong thời kỳ quá độ xã hội còn tồn tại các giai cấp bóc lột và các lực lượng xã hội, chúng chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, khiến giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải trấn át chúng bằng bạo lực. Tính chất đặc biệt của nhà nước vô sản còn thể hiện ở chỗ chức năng cơ bản nhất, chủ yếu nhất của nó là chức năng tổ chức xây dựng kinh tế, xã hội. Mác – Lê nin đã khẳng định: Nhà nước vô sản là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử; đó là nhà nước không còn nguyên nghĩa, là nhà nước “nửa nhà nước”. Tính chất đặc biệt của nhà nước vô sản còn thể hiện ở cơ sở quyền lực của nhà nước. Đó là nền tảng liên minh công nông làm nòng cốt cho sự liên minh với mọi tầng lớp. Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại được nếu thiếu dân chủ, thiếu sự thực hiện một cách đầy đủ và mở rộng không ngừng dân chủ. Giai cấp công nhân không chỉ có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc mình mà còn có vai trò lịch sử toàn thế giới. Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước không chỉ là yếu tố bảo đảm bản chất giai cấp vô sản của nhà nước mà còn là điều kiện để giữ tính nhân dân của nhà nước đó. Thực tiễn xây dựng CNXH mang lại cho nhà nước vô sản nhiều hình thức mới. Tính đa dạng của nhà nước đó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của thời điểm xác lập nhà nước ấy, tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp và khối liên minh các giai cấp, tùy thuộc vào nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội. Hình thức cụ thể của nhà nước trong thời kì quá độ có thể rất khác nhau nhưng bản chất của chúng chỉ là một: Chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.

  • Hôm trước Bài tập Luật học có chia sẻ bộ Bài tập Bán Trắc Nghiệm Môn Luật Đất Đai Có Đáp Án , hôm nay Bài tập Luật học chia sẻ bản word  bộ câu hỏi gồm 69 câu ôn thi môn Luật Đất đai của trang dhluathn.com chia sẻ.

    Tải  Bộ câu hỏi ôn thi Luật Đất đai có đáp án tại đây

    Câu 1: Hãy phân tích luận đề: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”?

    Luận đề này ngày từ Luật Đất đai năm 1987 đã được khẳng định. Qua các lần sửa đổi bổ sung. Luật đất đai 1993, Luật sửa đổi bỏ sung năm 1998 và 2001. Luận đề đó vẫn tiếp tục được nhấn mạnh. Như sậy có thể thấy luận đề này là phù hợp, đúng đắn thể hiện được “ý Đảng, lòng dân” về vấn đề đất đai.
    “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân…” là nguyên tắc hiến định, được quy định tại điều 17 – Hiếp pháp 1992 “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời… cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.
    Với tư cách là chủ thể trong quan hệ sở hữu đất đai, nhân dân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Nhưng nhân dân không thể tự mình thực hiện mà chuyển giao các quyền này cho Nhà nước. Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không có mục đích tự thân. Nhà nước chỉ là công cụ là phương tiện để nhân dân thực hiện quyền chủ thẻ trong quan hệ sở hữu tài sản thuọc sở hữu toàn dân nói chung đất đai nói riêng.

    Việc quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thực chất bắt nguồn từ tính lịch sử của đất đai nói riêng.
    Việc quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thực chất bắt nguồn từ tính lịch sử của đất đai nước ta. Đất đai nước ta là thành quả trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập và abỏ vệ được vốn đất đai như ngày nay.
    “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Như đã khẳng định nhân dân đã trao quyền chủ sở hữu đất đai cho Nhà nước. Vì vậy Nhà nước với tư cách đại diện sở hữu toàn dân quản lý đất đai. Toàn bộ đất dự ở đất lièn hay ở lãnh hải, dự đất đang sử dụng hay đất chưa sử dụng đều thuộc Nhà nước. Nhà nước có trọn vẹn ba quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt.
    Mục đích của quy định “Nhà nước thống nhất quản lý” là nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả, phục vụ tốt các mục tiêu kinh tế xã hội. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai cũng là quy định cần thiết khi Nhà nước thừa nhận đất đai là hàng hoá đặc biệt, xúc tiến việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản.

    Câu 2: Tại sao nhà nước Việt Nam qui định khung giá cho từng loại đất? Nhằm mục đích gì? Quan điểm của anh, chị về khung giá như thế nào trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay?

    Điều 12 – Luật đất đai 1993 đã được sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001 quy định “Căn cứ vào quy định của Chính phủ về khung giá và nguyên tắc phương pháp xác định giá các loại đất,UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định giá các loại đất phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương để tính  thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền kh giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tiền thuế đất, lệ phí trước bạ, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thương khi Nhà nước thu hồi đất”.
    Những quy định này có thể phần nào cho chúng ta thấy lý do cùng mục đích của Nhà nước khi quy định khung giá cho từng loại đất.
    Ngoài ra Nhà nước quy định khung giá cho từng loại đất còn vì các lý do cụ thể sau đây:
    – Đó là sự cụ thể xoá sự thừa nhận của Nhà nước coi đất đai là hàng hoá đặc biệt, phục vụ cho việc hình thành thị trường bất động sản.
    – Tác động vào ý thức thái độ của người sử dụng đất để họ sử dụng đất tiết kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của việc sử dụng đất.
    Việc quy định khung giá cho từng loại đất là công cụ tài chính của Nhà nước. Việc Nhà nước sử dụng phối hợp các lợi ích kinh tế từ các quan hệ kinh tế gắn liền với đất đai nhằm mục đích cao nhất là quản lý có hiệu quả, cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất kết hợp hai hồ các lợi ích.
    + Giá đất hay còn gọi là giá quyền sử dụng đất, là số tiền tính trên một đơn vị diện tích do nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất.
    Giá đất được hình thành trong các trường hợp sau:
    – Do uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định trên cư số khung giá của chính phủ và được công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.
    – Do đánh giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.
    – Do thoả thuận về giá đất trong trường hợp chuyền quyền sử dụng đất.
    + Nhà nước ta quy định khung giá cho từng loại đất vì:
    – Nhằm thể hiện sự tập quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước đối với đất đai thông qua công cụ tài chính.
    – Đó là sự cụ thể hoá sự thừa nhận của nhà nước coi đất đai là hàng hoá đặc biệt phục vụ cho việc hình thành thị trường bất động sản. Việc nhà nước sử dụng phối hợp các lợi ích kinh tế từ các quan hệ kinh tế gắn liền với đất đai nhằm mục đích cao nhất là quản lý có hiệu quả, cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất kết hợp hài hồ các lợi ích.
    – Nhằm tác động vào ý thức thái độ của người sử dụng đất để họ sử dụng đất tiết kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của việc sử dụng đất.
    + Mục đích mà việc nhà nước quy định khung giá cho từng loại đất là làm căn cứ để.
    – Tính thuế sử dụng đất
    – Tính thuế thu nhập từ việc chuyển quyền sử dụng đất.
    – Tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất
    – Tính lệ phí chước bạ: Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
    – Tính tiền bồi dưỡng đối với người vi phạm pháp luật đất đai mà gây thiệt hại cho nhà nước.
    + Trong nền kinh tế thị trường nhà nước cần quy định khung giá vì.
    Bước sang thời kỳ kinh tế thị trường, trong cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi mạnh mẽ theo hướng kết hợp hài hồ công nông nghiệp – thương mại – dịch vụ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp  hoá – hiện đại hoá đất nước. Nhu cầu tăng trưởng kinh tế cao cùng với sự gia tăng dân số đã gây ra  sức ép to lớn cho việc khai thác và sử dụng đất. Chưa bao giờ đòi hỏi sử dụng đất đai có hiệu quả tiết kiệm để phát huy được hết các thế mạnh về kinh tế – xã hội của đất đai lại trở thành một yêu cầu bức xúc trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế như trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Để đáp ứng đòi hỏi có tính tất yếu khách quan về nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước về đất đai trong nền kinh tế thị trường nước ta, hiến pháp 1992 đã khẳng định: “nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy định và theo luật pháp, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Và, công cụ tài chính mà cụ thể là xác định khung giá thu tiền sử dụng đất là biện pháp quan trọng để nhà nước quản lý đất đai theo pháp luật.

    Câu 3: Gia đình ông A là công chức ở tỉnh H được cơ quan cấp 01 gian nhà cấp bốn năm 2000, cơ quan tiến hành thanh lý nhà cho cán bộ công chức của cơ quan, gia đình ông H nộp tiền thanh lý. Tháng 8 năm 2004, UBND tỉnh H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho gia đình ông A, đồng thời thu 10 triệu đồng tiền sử dụng đất. Ông A không nộp, với lý do ông đã nộp tiền thanh lý nhà và đất cho cơ quan? Hãy phân tích sự việc trên?

    – Cơ quan có quyền phân này cho cán bộ, công nhân viên của mình, nhưng không có thẩm quyền đất theo quy định của Luật đất đai năm 1993 (vì sự việc của gia đình ông A xảy ra năm 2000, khi đó chưa có Luật đất đai năm 2003). Cơ quan của ông A cũng không có quyền  thanh lý đất. Theo điều 4 nghị định 38 ngày 23/08/2000 của Chính phủ thì nhà nước được thanh lý phải trước ngày 05/07/1994 mới hợp lệ. Kể từ ngày 05/07/1994 sẽ áp dụng việc bán nhà và quyền sử dụng đất cho người đang thuê theo nghị định 61/CP ban hành ngày 09/07/1994. Tháng 8 năm 2004, UBND tỉnh H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho gia đình ông A và ông phải nộp khoản 1- Điều 33 (luật đất đai 2003) và khoản 1 – Điều 2 (Nghị định 198/2004) về thu tiền sử dụng đất.

    Câu 4: Điều 10 khoản 2 Luật đất đai 2004 qui định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hồ, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hồ miền Nam Việt Nam và Nhà nước CHXHCNVN”. Quan điểm của anh, chị về qui định trên?

    – Điều 4 – nghị định 181 (2004) đã cụ thể hoá luận đề trên như sau:
    “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà nhà nước đã giao cho người sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong các trường hợp sau:
    a. Đất bị tịch thu, trưng thu, trưng mua khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam.
    b. Miền Nam hiến tặng cho nhà nước, cho hợp tác xã và tổ chức khác, cho hộ gia đình, cá nhân.
    c. Đất đã góp vào hợp tác xã nông nghiệp theo quy định của điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao.
    d. Đất thổ cư mà nhà nước đã giao cho người khác để làm đất ở, đất ở và đất vườn đã giao lại cho hợp tác xã để đi khai hoang, ruộng đất đã bị thu hồi để giao cho người khác hoặc điều chỉnh cho người khác khi giải quyết tranh chấp ruộng đất.
    đ. Đất đã chia cho người khác khi hưởng cuộc vận động san sẻ bớt một phần ruộng đất để chia cho người không có ruộng và thiếu ruộng tại miền Nam sau ngày giải phóng.
    Luận đề trên vừa mang tính nguyên tắc vừa mang tính định hướng. Quy định này là cơ sở pháp lý khẳng định nhà nước ta là chủ thể duy nhất có quyền định đoạt đối với đất đai.
    – Đồng thời nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.
    + Thứ nhất: Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất để giải quyết tình trạng khiếu kiện về các tranh chấp quyền sử dụng mang tính lịch sử. Các khiếu kiện đòi lại đất có ảnh hưởng không tốt đến nhiều mặt của đời sống kinh tế – xã hội. Vì vậy, việc quy định như vậy là hết sức cần thiết để giải quyết triệt để các khiếu kiện lâu nay.
    + Thứ hai: Quy định trên là cơ sở để nắm vững số lượng, chất lượng sự biến động đất đai trong phạm vi cả nước và ở từng địa phương. Nếu chấp nhận việc đòi lại đất không nảy sinh nhiều vấn đề  phức tạp làm cho nhà nước có thể quản lý hiệu quả mà sự thay đổi về chủ sử dụng đất sẽ làm cho công tác quản lý tốn kém về thời gian, sức người và sức của.
    + Thứ ba: Quy trình này xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhà nước quy định như vậy nhằm cụ thể chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động, bảo vệ quyền lực của người sử dụng đất. Tuy nhiên quy định trên cũng có những điểm hạn chế riêng về tính lịch sử của đất đai, về chính sách người có công với cách mạng. Do đó, nhà nước cần bổ sung thêm một số văn bản mới về các vấn đề này để phát huy hiệu quả của công tác quản lý đất đai của Nhà nước.
    Tất nhiên quy định trên cũng có những điển hạn chế riêng: về tính lịch sử của đất đai, về chính sách người có công với cách mạng. Thiết nghĩ sự bổ sung một số văn bản về các vấn đề này sẽ có thể phát huy hết tác dụng vai trò của Luận đề đã nêu.

    Câu 5: Hãy cho biết quan hệ pháp luật đất đai thuộc quan hệ pháp luật hành chính hay quan hệ pháp luật dân sự, cho ví dụ minh hoạ?

    – Quan hệ pháp luật đất đai vừa thuộc quan hệ pháp luật hành chính, vừa thuộc quan hệ pháp luật dân sự.
    + Quan hệ pháp luật đất đai thuộc quan hệ đó pháp luật hành chính trong trường hợp các quan hệ đó phát sinh trên cơ sở quyết định hành chính về giao đất, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hay quyết định thu hồi đất, quyết định xử lý các hành vi về phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.
    Ví Dụ : Uỷ ban nhân dân Quận Đống Đa ra quyết định thu hồi đất mà các hộ gia đình ở 2 bên đường Ngã Tư Sở để xây dựng Cầu Vượt.
    + Quan hệ pháp luật đất đai thuộc quan hệ pháp luật dân sự trong trường hợp các quan hệ đó phát sinh trên hệ phát sinh liên quan đến quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất.
    Ví dụ: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa ông A và ông B.

    Câu 6: Hãy cho biết các trường hợp sau đây thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật đất đai hay không? giải thích tại sao?

    a. Trường hợp này vừa thuộc đối tượng điều chỉnh của luật đất đai vừa thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính.
    – Nó thuộc đối tượng điều chỉnh của luật đất đai thể hiện ở chỗ.
    + Trường hợp này thuộc nhóm thứ nhất trong đối tượng điều chỉnh  của luất đất đai đó là nhóm quan hệ xã hội, phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về đất đai.
    + Theo quy định mà luật đất đai, biểu hiện của hình thức tranh chấp thường dưới dạng.
    – Tranh chấp đất đai có liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính.
    – Tranh chấp bãi bồi ven sông, ven biển để nuôi trồng thủy hải sản.
    + Theo điều 137 – Luật đất đai 2003 quy định: tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới giữa các đơn vị hành chính do uỷ bản nhân dân của các đơn vị có cùng phối hợp giải quyết. Trường hợp không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết d được quy định: trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn thì do chính phủ quyết định.
    – Nó thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính.
    + Đây là tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính giữa hai cơ quan quản lý hành chính nhà nước diễn ra trong quá trình các cơ quan này đang thực hiện chức năng quản lý, hành chính nhà nước và nó thuộc nhóm thứ nhất trong đối tượng điều chỉnh của luật hành chính.
    + Trình tự, thủ tục và quyết định giải quyết tranh chấp giữa 2 huyện A và B do luật hành chính điều chỉnh.
    b. Trường hợp này thuộc đối tượng điều chỉnh của luật đất đai vì nó thuộc nhóm đối tượng điều chỉnh thứ 2 của luật đất đai là nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. ở đây là tranh chấp giữa hai tổ chức về việc sử dụng đất rừng sản xuất.
    c. Trường hợp này không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật đất đai mà thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hôn nhân – gia đình và luật dân sự vì:
    + Theo luật hôn nhân gia đình.
    – Điều 97 (chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng) quy định:
    + Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
    + Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
    – Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây hàng năm, môi trường thủy sản chung với hộ gia đình, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì chia đôi hoặc theo thỏa thuận và các bên.
    – Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.
    -Điều 98:
    + Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì được chia đôi hoặc theo thoả thuận của các bên.
    – Điều 99:
    + Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà nhưng phải chia cho bên kia một phần giá trị nhà.
    + Theo Bộ luật dân sự 2005:
    – Điều 219: Quy định về chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung.

    Câu 7: Hãy nêu những hành vi bị cấm trong Luật đất đai 2003, cho ví dụ minh hoạ?

    -Điều 15: Luật đất đai 2003 quy định: “Nhà nước nghiêm cấm hành vi lấn, chiếm đất đai không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố, huỷ hoại đất, không thực hiện đúng quy định mà pháp luật khi sử dụng các quyền của người sử dụng đất: không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng đất. Nhà nước nghiêm cấm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn,  vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái các quy định về quản lý đất đai”.
    – Ví dụ: Người sử dụng đất không có quyền tiêu huỷ đất đai, không có  quyền thay đổi mục đích sử dụng, không có quyền tự đặt ra các thủ tục chuyển nhượng, chuyển đổi.

    Câu 8: Phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa quyết định giao đất và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất?

    – Quyết định giao đất: là quyết định bằng văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm xác lập quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình có đủ điều kiện sử dụng đất. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất: là hành vi của một chủ thể sử dụng đất hợp pháp chuyển giao quyền và nghĩa vụ của mình  cho người khác theo quy định của pháp luật. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là hình thức của chuyển quyền sử dụng đất.
    – So sánh:
    + Giống nhau: là cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sử dụng đất.
    + Khác nhau:
    Quyết định giao đất Hợp đồng chuyển quyển 
    SD đất
    Về thẩm quyền Là quyết định hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai ra quyết định, là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của người sử dụng đất   Là hợp đồng diễn ra giữa các bên trên cơ sở bình đẳng, thoả thuận tự nguyện
    Nội dung Do luật đất đai điều chỉnh
    Bao gồm: Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, loại đất và thời hạn sử dụng đất Do luật đất đai, và luật dân sự điều chỉnh.
    Bao gồm: hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất của các bên và nó chỉ có thời hạn theo thời hạn của quyết định giao đất và cho thuê đất
    Hiệu lực Có hiệu lực trong vòng 15 ngày kể từ ngày ký Có thể có hiệu lực ngay sau khi ký kết hợp đồng hoặc sau 15 ngày kể từ ngày ký.

    Câu 9: Gia đình bà A sử dụng 1000m2 đất nông nghiệp trong đô thị, nay diện tích đó được quy hoạch thành đất ở.

    – Theo quy định tài khoản 3 và khoản 4 điều 36 – Luật đất đai năm 2003 về chuyển mục đích sử dụng đất thì gia đình  bà A được tiếp tục sử dụng diện tích đất đó.
    – Theo khoản 2 – điều 6 (Nghị định 198/2004 về thu tiền sử dụng đất quy định về thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất thì gia đình bà A phải nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đã tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.

    Câu 10: ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17 Hiến pháp 1992, Điều 5 Luật đất đai 2003) theo anh, chị sở hữu toàn dân thì người chủ sở hữu là ai? chủ sở hữu có mấy quyền năng pháp lý?

    Theo từ điển tiếng Việt, quyền sở hữu được hiểu là quyền chiếm giữ, sử dụng là định đoạt đối với tài sản của mình. Theo khoa học pháp lý, quyền sở hữu là tập hợp các quyền sử dụng, hưởng thụ, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thuế chấp, quyền tặng cho, phá hủy thủ tiêu đối tượng sở hữu theo luật định. ở nước ta vấn đề sở hữu đất đai đã được quy định trong pháp luật. Hiến pháp Việt Nam và luật đất đai 2003 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ… đều thuộc sở hữu toàn dân”. Sở hữu toàn dân là toàn thể nhân dân đều có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. Toàn thể nhân dân chính là chủ sở hữu của đất đai. Nhưng vì những lý do đặc biệt mà thực tiễn và lịch sử, ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân cho nhà nước thống nhất quản lý. Toàn dân là chủ thể của đất đai nhưng toàn dân không thể đứng ra thực hiện quyền sở hữu cụ thể mà cứ người đại diện thay mặt nhân dân thực hiện quyền này – đó là nhà nước. Vì nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhân dân chỉ được quyền sử dụng đất còn quyền định đoạt đối với đất đai thuộc về nhà nước.

    Câu 11: Tại sao Nhà nước Việt Nam qui định mức sử dụng đất nông nghiệp đối với từng vùng? Hiện nay nhà nước ta khuyến khích phát triển kinh tế trang trại thì việc qui định hạn mức sử dụng đất có hạn chế gì không?

    – Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp. Nhóm đất nông nghiệp gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất sản xuất, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất muối, đất trồng có phục vụ chăn nuôi, đất mặn nước để nuôi trồng thủy sản, đất hợp tác xã giao cho hộ gia đình làm kinh tế gia đình, đất nông nghiệp khác. Hạn mức sử dụng nông nghiệp là khoảng thời gian tối đa mà một hộ gia đình, cá nhân, tổ chức được phép sử dụng một diện tích đất nông nghiệp nhất định vào mục đích nông nghiệp mà nhà nước giao.

    – Luật đất đai 2003 quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp vì nhiều lý do khác nhau.
    + Thứ nhất, việc áp dụng hạn mức sử dụng đất nông nghiệp có tác động tích cực đến đời sống kinh tế ở nông thôn, nó bảo đảm cho người nông dân có đất đai để sản xuất, thực hiện được chính sách của Đảng và nhà nước ta là người cày có ruộng”.
    + Thứ hai, chính sách này vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội, thậm chí còn mang một số chính trị to lớn: Giải quyết hợp lý chính sách hạn mức, chúng ta vừa thúc đẩy được kinh tế nông thôn phát triển vừa bảo đảm được ổn định xã hội.
    + Thứ ba, nhằm đảm bảo sử dụng đất đai có hiệu quả, phục vụ tốt các mục tiêu, kinh tế, xã hội do nhà nước đề ra.
    + Thứ tư, đảm bảo cho người làm nông nghiệp có đất để sản xuất và nhằm khắc phục tình trạng chuyển đổi đất nông nghiệp, sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp.
    + Thứ năm, việc quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp còn xuất phát từ những nguyên nhân như tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nông thôn, môi trường quan giữa ruộng đất – dân số – lao động trở nên hết sức căng thẳng. Đa số nông dân, thu nhập của họ chỉ đủ trang trải cho những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, không có khả năng đầu tư thêm cho sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn và cũng không có khả năng đầu tư vào các lĩnh vực khác, bởi vậy việc áp dụng chính sách này là cần thiết.
    – Trong điều kiện hiện nay, nhà nước ta đang khuyến khích phát triển trang trải những việc quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp vẫn rất cần thíêt nhằm khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển, sản xuất, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối gắn với dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời còn đảm bảo cho việc sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp do nhà nước đề ra.

    Câu 12: Gia đình ông A là công chức Nhà nước, năm 1990 gia đình ông nhận chuyển nhượng một thửa đất trồng lúa diện tích 500m2 của một hộ gia đình nông dân ở ngoại thành Hà Nội, nhưng chưa sang tên chước bạ. năm 2004, diện tích đó được qui hoạch thành đất ở?

    Hỏi: Gia đình ông A có được tiếp tục sử dụng đất trồng lúa hiện nay chuyển thành đất ở không? Tại sao?
    Việc nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng lúa của ông A chiếm ra vào năm 1999 và được điều chỉnh bởi Luật đất đai 1993 ông A chưa sang tên chước bạ tức là việc nhận chuyển nhượng của ông A chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép mà mới chỉ là hợp đồng thoả thuận giữa ông với người đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa của ông A là trái pháp luật, đến năm 2004, diện tích đất đó được quy hoạch thành đất ở (đang là thời điểm Luật đất đai năm 2003 đã có hiệu lực). Theo khoản 3 – Điều 103 Nghị định 181/2004 qui định: hộ gia đình, cá nhân, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước đã được quy hoạch thành đất ở. Gia đình ông A là công chức  nhà nước tức là không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên việc ông nhận chuyển nhượng là sai. Và ông không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở. Do đó gia đình ông A không được tiếp tục sử dụng diện tích đất ở đó.

    Câu 13: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được quy định trong Luật đất đai 1993, 1998, 2001, 2003 như thế nào? Trên thực tế việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có bất cập gì?

    + Luật đất đai 1993 quy định.
    – Điều 73. Người sử dụng đất có những quyền sau đây
    1. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
    2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao
    3. Được chuyển quyền sử dụng  đất theo quy định và pháp luật.
    4. Hưởng các lợi ích cho công trình công cộng về bảo vệ, cải tạo đất mang lại.
    5. Được nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo và bồi bổ đất.
    6. Được nhà nước bảo vệ khi bị người khắc xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại về đất đai bị thu hồi.
    7. Được quyền góp đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất.
    8. Được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
    – Điều 79: Người sử dụng đất có những nghĩa vụ sau đây:
    1. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các yêu cầu khác đã được quy định, khi giao đất.
    2. Thực hiện các biện pháp để bảo vệ và làm tăng khả năng sinh lợi của đất.
    3. Tuân theo những quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.
    4. Nộp thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí địa chính theo quy định pháp luật.
    5. Nộp tiền sử dụng đất khi được giao đất theo quy định của pháp luật.
    6. Đền bù cho người có đất bị thu hồi để giao cho mình.
    7. Giao lại đất khi nhà nước cú quyết định thu hồi.
    + Luật đất đai 2003 quy định.
    – Điều 105. Quyền chung của người sử dụng đất
    1. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất
    3. Hưởng các lợi thế do công trình của nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.
    4. Được nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất, bồi bổ đất nông nghiệp.
    5. Được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình.
    6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
    – Điều 107. Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất.
    1. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật.
    2. Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
    3. Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật.
    4. Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất.
    5. Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất có liên quan.
    6. Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.
    7. Giao lại đất khi nhà nước cú quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất.
    + Trên thực tế việc thực hiện quyền và nghĩa vụ có bất cập ở chỗ quyền được sử dụng vượt giới hạn mà pháp luật cho phép còn nghĩa vụ thì không được thực hiện đầy đủ. Bất cập nông nghiệp cho các nguyên nhân.
    – Trình độ nhận thức về pháp luật đất đai của người dân còn kém.
    – Do sự ảnh hưởng của sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
    – Do nội dung luật đất đai còn yếu và thiếu mang tính chung chung, khó hiểu.

    Câu 14: Căn cứ để phân loại đất theo Luật đất đai năm 2003  là gì? Theo anh, chị cách phân loại như vậy đã phù hợp với điều kiện ở Việt Nam chưa.

    – Điều 13 – Luật đất đai 2003 quy định.
    Căn cứ vào mục đích sử dụng đất đai được phân loại như sau:
    1. Nhóm đất nông nghiệp.
    2. Nhóm đất phi nông nghiệp
    3. Nhóm đất chưa sử dụng
    – Cách phân loại như vậy chưa thật sự phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. Nước ta trong thời kỳ quá độ có sự đan xen, chuyển giao giữa cái…. và còn mới nên giữa các loạiđất có sự đan xen, ranh giới không rõ ràng. Do đó, chúng ta cần phân loại đất cụ thể hơn và sự phân biệt rõ ràng giữa các loại đất.

    Câu 15: Vợ chồng ông A và bà C có 4 con, hai người con đã định cư ơ nước ngoài, hai người con ở trong nước cùng sử dụng chung với vợ chồng ông là 18.000m2, đất nông nghiệp. Mảnh đất trên do ông A đứng tên chủ hộ, năm 1996 ông A mất, bà C làm thủ tục sang tên bà là chủ hộ. Năm 1997, bà sang tên cho con trai lớn là anh T với diện tích là 7/500m2 đất, con trai thứ hai là K sử dụng chung với bà là 10.500m2. Năm 2002 bà C chuyển về ở với T và muốn lấy bớt một phần đất do anh K sử dụng cho anh T, nhưng anh K không đồng ý và đòi chia thừa kế quyền sử dụng đất, Bà C gửi đơn kiện lên Toà án.

    Theo anh (chị) vụ việc trên sẽ được giải quyết như thế nào theo quy định của luật đất đai hiện hành?
    Theo quy định của Luật đất đai 2003 nếu bà C đã sang tên làm thủ tục sang tên hợp pháp cho anh K có quyền sử dụng 10,500m2 mà anh K đã sử dụng ổn định lâu dài và không có tranh chấp với anh T thì bà C sẽ không có quyền đòi lại 10.500m2 mà bà và anh K sử dụng chung. Còn trong trường hợp mảnh đất ấy vẫn do bà đứng tên thì bà có toàn quyền đối với mảnh đất ấy và K sẽ không được quyền đòi chia thừa quyền kế quyền sử dụng đất.

    Câu 16: Quy hoạch sử dụng đất là gì? Anh, chị có nhận xét gì về việc lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất hiện nay?

    – Quy hoạch sử dụng đất là sự tính toán phân bố đất đai cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian… cho các mục tiêu kinh tế – xã hội. Quy hoạch sử dụng đất bao giờ cũng gắn liền với kế hoạch sử dụng đất, bởi vì kế hoạch sử dụng đất là biện pháp để thực hiện quy hoạch. Quy hoạch sử dụng được lập cho thời hạn 10 năm phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Kỳ quy hoạch sử dụng đát trong phạm vi cả nước là 5 năm. Nguyên tắc lập quy hoạch phải công khai, dân chủ, cơ quan tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất phải tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong vùng quy hoạch. Việc lập quy hoạch còn phải tuân theo các nguyên tắc khác quy định tại điều 21 – luật Đất đai 2003 (tính phù hợp, tính khả thi, tính tiết kiệm, hiệu quả). Căn cứ để lập quy hoạch sử dụng bao gồm: chiến lược, quy hoạch tổng thể phát  triển kinh tế – xã hội quốc phòng an ninh của cả  nước, quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu của thị trường, hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất, định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước. Về thẩm quyền sử dụng đất cho nước, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đát của địa phương; UBND cấp huyện  thuộc tính lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đát mà địa phương mình, UBND xã không thuộc khu vực phát triển đô thị trong kỳ quy hoạch (xã thuộc khu vực nông thôn) thì tổ chức, thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất trong địa phương mình. Về thẩm quyền, Quốc hội, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do chính phủ trình; chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới, trực tiếp UBND cấp huyện xét quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã tại vùng nông thôn. Nội dung quy hoạch sử dụng đất gồm: điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai, xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong quy hoạch, xác định diện tích các loại đất phân bố cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án, xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường, giải phóng tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
    Thực trạng quy hoạch đất đai đang là vấn đề nổi cộm ở nước ta. Bởi vì thực tế cho thấy việc quy hoạch sử dụng đất còn tràn lan (hiện trong cả nước có tới 9 viện quy hoạch chuyên trách, hàng năm công ty tư vấn vừa thiết kế công trình, vừa quy hoạch) chưa sát thực tế, thiếu tính khả thi. Nhìn chung công tác quy hoạch mới chỉ dừng lại ở mục tiêu về giao thông, phân khu chức năng mà chưa có tính toán cao cho sử dụng đất có hiệu quả. Thời gian thực hiện quy hoạch còn chưa rõ hoặc bị kéo dài làm cho hiệu qủa quản lý thấp. Quy hoạch chi tiết cho quận, huyện, thị xã, xã, phường đến nay nhiều địa phương chưa làm. Do đó, công tác quy hoạch chưa trở thành công cụ quản lý thực sự có hiệu quả.

    Câu 17: Thẩm quyền và thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được qui hoạch trong Luật đất đai 2003 như thế nào? Anh, chị có nhận xét gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở địa phương mình?

    – Điều 52 – Luật đất đai 2003 về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy hoạch.
    1. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trong cương cấp giấy chứng nhận và quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này.
    2. UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
    3. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy hoạch tại khoản 1 điều này được uỷ quyền cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp. Chính phủ quy định điều kiện được uỷ quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng đất.
    – Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    a. Người xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nộp hồ sơ tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất,trường hợp hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nộp hồ sơ tại UBND xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng, đăng ký quyền sử dụng đất.
    b. Hồ sơ  xin cấp giấy chứng nhận sử dụng đất gồm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giấy tờ về: quyền sử dụng đất quy hoạch tại các khoản 1, 2 và 5 điều của Luật đất đai 2003 (nếu có), văn bản uỷ quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).
    – Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay nhìn chung là tiến độ chậm, năm 2001 mới khoảng 641.000 hộ trong tổng số 4.547.000 hộ sử dụng đất đô thị được cấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 14% tổng số. Qua thực tế đền bù giải phóng mặt bằng thì nhiều tình phía Nam trong tổng số 100% nhà đất được đền bù chỉ 30% là có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Có rất nhiều người dân không muốn nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND cấp xã do số tiền thuế về đất đai mà họ phải nộp là quá lớn.

    Câu 18: Ông A có diện tích đất ở là 250m2, năm 2000 ông chuyển nhượng diện tích đất trên cho người khác để vào Nam sinh sống, UBND xã yêu cầu ông A phải nộp 3 triệu đồng tiền lệ phí đất?

    – Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự  thoả thuận giữa các bên tuân theo các điều kiện, nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng đất theo quy định mà bộ luật DS và pháp luật về đất đai, theo đó bên chuyển quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng còn người được chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng.
    a.Việc UBND xã thu 3 triệu đồng của ông A là sai v ỡ chì có UBND huyện mới có thẩm quyền thu 3 triệu đồng của ông A.
    b. Theo quy định của pháp luật đất đai, ông A phải nộp thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng tỉ lệ phần trăm trên trị giá đất chuyển quyền sử dụng.
    c. Một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện.
    + Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo mẫu do Bộ tài nguyên và môi trường ban hành, đối tượng của hợp pháp.
    + Chủ thể hợp đồng hợp pháp.
    – Người chuyển nhượng có giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được phép chuyển nhượng.
    – Người được chuyển nhượng có quyền chuyển nhượng.

    Câu 19: Hãy trình bày và phân tích nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo Luật đất đai 2003? theo anh, chị nội dung quản lý nào quan trọng nhất? Tại sao?

    + Điều 6 – Luật đát đai 2003 quy định nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
    a. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, nó là cơ sở pháp lý trong quy trình quản lý nhà nước về đất đai.
    b. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.
    Địa giới hành chính là sự phân định về ranh giới đất đai trên thực địa giữa các tỉnh, huyện, xã với nhau theo thẩm quyền quản lý. Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ quản lý, nhà nước đối với gia đình địa giới hành chính. Bản đồ hành chính là bản đồ thẻ hiện ranh giới các đơn vị hành chính và yếu tố địa lý, địa hình có liên quan đến mốc địa giới hành chính.
    c. “Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất”.
    Các hoạt động khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất trên là những việc làm hết sức quan trọng, nó tạo cơ sở ban đầu cho công tác quản lý đất đai, đặc biệt trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất  và xác định giá đất. Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, đựoc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Bản đồ  hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất đai một thời điểm xác định được lập theo đơn vị hành chính.
    d. “Quản lý quy hoạch kế hoạch sử dụng đất”; quy hoạch sử dụng đất là sự tính toán phân bố đất đai cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian… cho các mục tiêu kinh tế – xã hội. Quy hoạch sử dụng đất bao giờ cũng gắn với kế hoạch sử dụng đất, bởi vì kế hoạch sử dụng đất là biên pháp để thực hiện quy hoạch.
    e. “Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất”.
    Giao đất là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất. Thuê đất là nhà nước trực tiếp cho người có nhu cầu sử dụng đất được thuê đất có nhu cầu sử dụng đất  đựơc thuê đất theo thời hạn và theo mục đích mà nhà nước quy định. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng có thể chuyển mục đích sử dụng từ đất này sang đất khác. Thu hồi đất là việc nhà nước  ra quyết định hành chính để nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai.
    f. “Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
    g. “Thống kê, kiểm kê đất đai”.
    h. “Quản lý tài chính về đất đai”.
    i. “Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản”
    k. “Quản lý giám sát việc thực hiện và nghĩa vụ của người sử dụng đất”
    l. “thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định  của pháp luật về đất đaivà xử lý vi phạm luật về đất”.
    m. “Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai”
    * Nội dung: “Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó” là quan trọng nhất vì:
    – Các văn bản pháp luật là nơi các đường lối chính sách đất đai của Đảng được quy phạm hoá, pháp luật là công cụ quan trọng nhất để quản lý nhà nước về đất đai và hoạt động ban hành văn bản pháp luật về đất đai không thể không chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.
    – Nó là cơ sở pháp lý trong quá trình quản lý nhà nước về đất đai và chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến các nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
    – Nó góp phần ổn định các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai.

    Câu 20: Phân tích mối quan hệ giữa ngành luật đất đai và ngành luật dân sự? Cho ví dụ minh hoạ?

    + Luật ĐĐ: là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt nam, là tổng thể các quy phạm pháp luật đất dai do nhà nước ban hành nhằm đìeu chỉnh các quan hệ XH phát sinh, trong quá trình quản lý NN về ĐĐ và quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất  của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhằm mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Luật dân sự: là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều kiện các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân.
    + Như vậy giữa hai ngành luật này có mối quan hệ đan xen với nhau.
    – Chế định quyền sở hữu của hai ngành luật đều được hiến pháp và Bộ luật dân sự ghi nhận, song chế định và quyền sở hữu đối với đất đai lại là một quyền đặc biệt (chỉ nhà nứoc mới có) còn quyền sở hữu về tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự lại chuyển nhượng cho, tặng, một cách tự do (VD: người dân không có người huỷ hoại đất đai nhưng họ lại có quyền tiêu hủy các tài sản khác thuộc sở hữu của mình như xe máy, ô tô, đồ dùng gia đình…).
    – Tài sản đất đai khi được NN cho phép chuyển quyền sử dụng từ chủ sử dụng đất này sang SD đất khác thì thủ tục chuyển quyền sử dụng đất là một hình thức hợp đồng được quy định trong Bộ luật dân sự, nhưng thi thực hiện các thủ tục chủ SD đất phải tuân theo các quy định của PL đất đai (VD: anh A muốn chuyển nhượng quyền SD cho anh B thì phải lập hồ sơ chuyển nhượng quyền SD đất theo thoả thuận mà 2 bên. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng giữa hai bên phải thực hiện đúng quy định mà PL đất đai về chuyền nhượng quyền SD đất).
    – Hai ngành luật DS và luật Đất đai đều có chung phương pháp điều chỉnh là phương pháp  thoả thuận, song mức độ thoả thuận mà ngành luật đất đai áp dụng bị hạn chế bởi ý chí của NN – chủ sử dụng đất chỉ được thoả thuận trong phạm NN cho  phép. Tuy nhiên trên thực tế do sự vận động của nền kinh tế thị trường, một số quan hệ đất đai chuyển dần thành quan hệ dân sự do NN đang dân sự hoá các quan hệ pháp luật đất đai. (VD: hợp đồng chuyển quyền, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho quyền sử dụng đất…).

    Câu 21: Việc quy hoạch khung giá cho từng loại đất của NN nhằm mục đích gì? anh, chị có bình luận gì về khung  giá đất đai?

    a. Quyết định này là sai vì theo quy định tại điều 37 – luật đất đai 2003 thì chỉ có UBND tỉnh mới có thẩm quyền cho tổ chức thuê đất để dựng cơ sở phục vụ cho việc sản xuất, KD.
    b. Quyết định này là sai vì theo quy định  tại điều 37 – luật đất đai 2003 thì chỉ có UBND cấp tỉnh  mưói có thẩm quyền cho tổ chức thuê đất.
    c. Quyết định này là đúng (theo quy định tại điều 37 – luật đất đai 2003).
    d. Quyết định này là sai vì theo quy định mà điều 37 –  Luật đất đai 2003 thì chỉ có UBND tỉnh mới có thẩm quyền cho tổ chức nước ngoàicó chức năng ngoại giao thuê đất để xây dựng sở làm việc.

    Câu 22: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được qui định trong Luật đất đai năm 2003 như thế nào? anh chị có nhận xét gì về việc giải quyết các tranh chấp đất đai hiện nay?

    + Điều 136 -Luật đất đai 2003 qui định.
    Tranh chấp đất đai đã được hồ giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
    Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 của  Luật này và tranh chấp tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết.
    2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự  không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định  tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 của luật này được giải quýet như sau:
    a. Trường hợp chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì  có quyền khiếu nại đến chủ tịch UBND tỉnh, thành phố thuộc TW là quyết định giải quyết mỗi vùng.
    b. Trường hợp Chủ tịch UBND tỉnh, TP  trực thuôc TW giảiquyết lần đầu mà một bên hoặc có bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đồng bộ trưởng bộ tài nguyên và môi trường, QĐ mà Bộ trưởng Bộ tàinguyên và môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.
    – Điều 37 – luật đất đai 2003 quy định:
    1. Tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới giữa các đơn vị hành chính do UBND của các đơn vị  đó cùng phối hợp giải quyết. Trường hợp không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết đựoc quy định như sau:
    a. Trường hợp tranh  chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh, TP trực thuộc trung ương thì do QH quyết định.
    b. Trường hợp tranh chấp có liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính quận, huyện, thị xã, TP thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn do CP quyết định.
    2. Bộ TN và MT, cơ quan quản lý đất đai  mà tỉnh, TP trực thuộc TW, huyện, quận, thị xã, TP thuộc tỉnh có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với cơ quan NN có thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp đất đai có liên quan địa giới hành chính.
    + Thực tiễn giải quyết tranh chấp đát đai hiện nay còn có nhiều bất cập, hạn chế. Nhiều tranh chấp đát đã không được giải quyết một cách thoả đáng và hầu hết các cơ quan NN có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đều lúng túng, khó khăn khi giải quyết các tranh chấp phức tạp. Điều này do trình độ năng lực chuyên môn về quản lý đất đai của cán bộ, công chức trong cơ quan quản lý NN về đát đai còn yếu, và thiếu. Đồng thời, PL về đất đai của nước ta còn chung chung, khó hiểu nên khó áp dụng trong thực tế đời sống.

    Câu 23: Gia đình ông D hiện đang sinh sống tại tỉnh 11 năm 1990, gia đình ông khai hoang được 5ha đất hoang hoá và đưa vào sản xuất nông nghiệp. Tháng 8 năm 2004, UBND tỉnh H ra quyết định thu hồi, sau đó giao cho bộ quốc phòng xâydựng nhà ở cho cán bộ quân đội, nhưng không đền bù mà chỉ được hỗ trợ công khai phá là 25.000đ/m2 với ký do đát khai hoang trên sử dụng không hợp pháp?

    Hãy phân tích sự việc trên và nêu rõ hướng giải quyết?
    Việc UBND tỉnh H ra quyết định thu hồi 5ha do gia đình ông  khai hoang cho thấy sự yếu kém trong công tác quản lý đất dai của UBND tỉnh H, luật đất đai 2003 không có quy định về khai hoang, phục hóa. Do đó việc gia đình sản xuất NN là trường hợp sử dụng đất bất hợp pháp vì vậy việc UBND tỉnh H  ra  quyết định thu hồi, sau đó giao cho Bộ quốc phòng XD nhà ở cho cán bộ quân đội, nhưng không đền bù mà chỉ hỗ trợ công khai phá là 25.000đ/m2 là hoàn toàn đúng.

    Câu 24: Hãy phân tích công cụ tài chính  trong hoạt động quản lý NN về đát đai? theo anh, chị trong điều kiện hiện nay NN ta nên sử dụng công cụ nào để quản lý đất đai cho hiệu quả nhất? 

    + Sử dụng công cụ tài chính trong QLNN về đất đai là việcu NN sử dụng phối hợp các lợi ích KTế từ các mối quan hệ KT gắn với đất đai được tác động đến các chủ thể SD đất để đạt được mục đích quản lý tài chính là công cụ quản lý quan trọng họ cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất, kết hợp hài hồ các lợi ích kinh tế.
    Các công cụ TC chủ yếu được sử dụng  trong QL đất đai hiện nay bao gồm:
    * Thuế: Là công cụ tài chính được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý NN đất đai. Theo luật đất đai hiện hành NN sử dụng các loại thuế sau:
    + Thuế sử dụng đất NNghiệp.
    +Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
    + Thuế nhà đất.
    * Lệ phí địa chính: là khoản người sử dụng đất phải nộp khi được cơ quan NN phục vụ các công việc về địa chính (dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực đát đai), đó là khi được cấp giấy chứng nhận quyền SD đất, trích lục hồ sơ địa chính,  chứng nhận biến động về đất đai.
    * Giá quyền sử dụng đất: đất có giá trị nghĩa là nhà nước đã thừa nhận đất đai là hàng hoá được phép lưu thông trên thị trường, giá đất là cơ sở để tính các loại thuế, lệ phí, phí và thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất… chính phủ đã quy định khung giá cụ thể phù hợp với tình hình thực tế đối với các loại đất đai địa phương mình. Tuy nhiên, trong các quy định về cách tính giá các loại đất hiện nay còn có những điểm chưa phù hợp với thực tế. thường các loại thấp hơn giá trị thị trường rất nhiều làm giảm hiệu lực của công cụ giá cả và PS nhiều tiêu cực, NN cần phải sớm bổ sung hoàn thiện các quy định về thuế, lệ phí, và giá đất, để bảo đảm cơ sở khoa học vững chắc cho việc SD.

    Câu 25: Thị trường bất động sản là gì? những loại đất nàoa được tham gia thị trường bất động sản? anh, chị có nhận xét gì về  thị trường BĐS  ở nước ta hiện nay?

    + Theo quy định của Bộ luật dân sự BĐS là những tài sản không chờ đợi được bao gồm: đất đai, nhà ở, các công trình  gắn liền với đát và các tài sản là thị trường trong đó có mối quan hệ giữa các bên giao dịch khi chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, cầm cố, thế chấp… các quan hệ trong thị trường BĐS là quan hệ thương lượng, bình đẳng dưới hình thức hợp đồng trên cơ sở các quy định mà pháp luật dân sự. Tuy nhiên, quyền SD đất là một loại hàng hoá đặc biệt cần sự quản lý của NN. NN quy định cụ thể những loại đất được tham gia thị trường BĐS gồm:
    – Đất nông nghiệp được NN giao cho hộ gia đình, cá nhân…
    – Đất NN do hộ gia đình đang sử dụng ổn định vào mục đích NN đx d được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.
    – Đất NN được Nhà nước giao có thu tiền cho tổ chức KT, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
    – Đất NN mà Nhà nước cho thuê mà đã trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
    – Đất ở.
    – Đất phi NN, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh do NNước giao có thu tiền có Nhà nước cho thuê đã trả tiền một lần cho cả thời gian thuê và các loại đất khác mà người sử dụng đựoc phép chuyển quyền.
    * Hiện nay thị trường BĐS ở nước ta vẫn là thị trường phi chính quy. Việc  mua bán trao đổi đất đai, nhà ở chủ yếu diễn ra  dưới các hình thức viết trao tay mà không có xác nhận của chính quyền sở tại ở cả thành thị và nông thôn và cả ở những nơi quy hoạch, đang ở quy hoạch và còn chưa quy hoạch. Việc chậm cấp giấy chứng nhận quyền SD đát làm cho các chủ sử dụng đất không có điều kiện pháp lý để tham gia giao dịch chuyển quyền sử dụng đất. Do đó hình thức chuyển nhượng này đẩy những yếu tố rủi ro mà NN không thể kiểm soát nổi, dẫn tới tình trạng đang phát triển tự phát, giao dịch ngầm,  phi chính quy về BĐS, phát triển theo hướng dẫn và thiếu lành mạnh gây thất thu lớn cho ngân sách NN, đồng thời phát sinh  nhiều tranh chấp dẫn tới khiếu kiện, nhất là khiếu kiện trong việc bồi thường thiệt hại khi NN thu hồi đất. Trong quá trình vận động để đạt được những kết quả hữu hiệu mà các chủ thể tham gia hoạt động thì chúng ta lại thiếu một yếu tố hết sức cơ bản là vấn đề thông tin thị trường BĐS như: thông tin về quy hoạch về giao đất, thu hồi đất. Những thông tin sai lệch về quy hoạch về kế hoạch, vì sự thay đổi chính sách của NN đã làm cho các quan hệ  cung cầu, biến động mạnh tạo ra các “cơn sốt” về đất trong đó có cả những “cơn sốt ảo” về đất.

    Câu 26: Năm 1979 gia đình ông A được cơ quan B phân cho một gian nhà cấp bốn diện tích 40m2. Năm 1996, cơ quan B tiến thành  thanh lý nhà và đất cho các hộ gia đình đang ở, ông A đã trả toàn bộ tiền thanh lý cho cơ quan B. Tháng 8 năm 2004, UBND thành phố H (đô thị đặc biệt)  tiến hành giải toả khu nhà ông A đang ở, đồng thời lên phương án đền bù cho mỗi m2 đất ở đó có  giấy tờ  hợp lệ là 13.000.000đ, trong khi đó giá chuyển nhượng trên thị trường ở vị trí nhà ông A tại thời điểm cú quyết định thu hồi đất và đền bù là 50.000.000đ trên một m2, ông A và một số gia đình không đồng ý với mức đền bù trên.

    Theo anh, chị giá đền bù như vậy đã thoả đáng chưa? ý kiến của anh, chị như thế nào về việc đền bù giải phóng mặt bằng hiện nay?
    Ông A phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?
    + Điều 105 – Luật đất đai 2003 quy định
    Người sử dụng đất có các quyền chung sau đây”
    1. Được cấp giấy CNQSDĐ
    2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.
    3. Hưởng các lợi ích do công trình của nhà nước về bảo vệ cải tạo đất nông nghiệp.
    4. ĐượcNhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.
    5. Được NN bảo hộ khi người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình.
    6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi, vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
    – Điều 107 – Luật đất đai 2003 quy định
    Người sử dụng đất có các nghĩa vụ chung sau đây:
    1. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới đất thửa và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong bóng đất và tuân theo các quy định khác của PL.
    2. Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng  đất theo quy định của pháp luật.
    3. Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của páp luật
    4. Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất.
    5. Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan.
    6. Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.
    7. Giao lại đất khi NN cú quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất.
    + Trong thực tế việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu xem xét. Người sử dụng đất nhiều khi còn chưa sử dụng hết quyền năng của mình. Ví dụ như: quyền chuyển đổi đất nông nghiệp. Các hộ nông nghiệp ít khi quan tâm đến việc chuyển đổi để đầu tư sản xuất trên quy mô lớn. Ngoài ra còn có tình trạng người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình không trình tự thủ tục quy định (VD: chuyển nhượng ngầm quyền SDĐ…) người sử dụng đất vẫn còn có sự vi phạm về nghĩa vụ. Tình trạng lấn chiếm đất “nhảy dù” xuống các diện tích chưa sử dụng khá phổ biến. Người sử dụng đất do nguyên nhân khác mà chưa thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ đất, chậm trễ trong việc giao lại đát khi bị tịch thu.

    Câu 27: Người SD đất phải thực hiện những nghĩa vụ tài chính đôí với NN? mục đích của qui định về nghĩa vụ tài chính là gì?

    + người SD đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với NN gồm:
    – Tiền SD đất khi được NN giao đất.
    – Tiền SD đất khi chuyển mục đích sử dụng đất.
    – Lệ phí địa chính khi được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, trích lục hồ sơ chính…
    – Thuế 
    + Thuế sử dụng đất Nông nghiệp
    + Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
    + Thuế SD đất
    –  Mục đích của việc quy định nghĩa vụ tài chính:
    + Sử dụng làm công cụ tài chính phục vụ QLNN về đất đai.
    +Tác động vào ý thức người SD đất để họ SD tiết kiệm có hiệu quả.
    +Thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng SD đất kết hợp hài hồ các lợi ích.
    + Tạo ra nguồn thu cho ngân sách phục vụ cho phúc lơị XH.

    Câu 28: Chủ tịch UBND tỉnh H uỷ quyền cho chủ tịch UBND huyện K ký kết quyết định cho 19ha đất nông nghiệp cho trường trung học NN để XD khu nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, đồng thời thu của trường 300 triệu đồng tiền giao đất. Sau khi được giao đất, trường trung học nông nghiệp tự ý san lấp 2 ha đất nông nghiệp để cấp cho cán bộ, nhân viên nhà trường làm nhà ở.

    Anh, chị hãy phân tích sự việc trên?
    Khoản 1 – điều 37 (luật đất đai 2003) quy định “UBND tỉnh, TP trực thuộc TW quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức…”. Như vậy  việc chủ tịch UBND tỉnh H uỷ quyền cho chủ tịch UBND huyện K ký quyết định giao đất là trái pháp luật. Mặt khác, việc UBND huyện K thu 300 triệu đồng tiền giao đất trong là hành động trái pháp luật vì theo khoản 2 – điều 33 (Luật ĐĐ 2003) quy định: “Nhà nước không thu tiền sử dụng đất giao đất trong trường hợp tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệpu nuôi trồng thủy sản, làm muối”. Việc trường THNN tự ý san lấp 2 ha đất NN để cấp cho cán bộ, nhân viên nhà trường làm đất là trái pháp luật vì theo quy định của LĐĐ 2003 thì tổ chức hộ gia đình, cá nhân không được tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

    Câu 29: Trường hợp nào NN thu hồi đất của người đang sử dụng đất? Khi phát triển kinh tế như XD khu đô thị mới, xây nhà để bán hoặc cho thuê có cần áp dụng thủ tục thu hồi đất không? Quan điểm của anh, chị  như thế nào về việc thu hồi đất ở các khu đô thị mới hiện nay?

    + Thu hồi đất: là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai.
    – Các trường hợp NN thu hồi đất:
    + NN sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế.
    * Tổ chức được NN giao đất không thu tiền SD Đất, được NN giao đất có thu tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ NSNN hoặc cho thuê đất trả tiền thuế đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn  nhu cầu sử dụng nữa.
    3. SD đất không đúng mục đích
    4. Người SD đất cố ý huỷ hoại đất.
    5. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền.
    6. Đất bị lấn chiếm trong các trường hợp sau đây.
    a. Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm
    b. Đất không được chuyên quyền SDĐ theo quy định của luật này mà người SD đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm.
    7. Cá nhân SD đất chết mà không có người thừa kế
    8. Người SDĐ tự nguyện trả lại đất.
    9. Người SDĐ có ý không thực hiện nghĩa vụ đối với NN.
    10. Đất được NN giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khó hết thời hạn.
    11. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mưòi hai tháng liền: đất trồng cây ngày năm không được SD trong thời hạn mười tám tháng liền.
    12. Đất được NN giao, cho thuế để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đát chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan NN có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất cho phép.
    + Khi kinh tế càng phát sinh thì nhu cầu về XD khi đô thị mới, xây nhà để bán hoặc cho thuê càng lớn dẫn đến việc thu hồi đất công nhiều do đó tất yếu yêu cầu phát triển rất cần thiết phải áp dụng thủ tục thu hồi nhằm đảm bảo việc thu hồi và sử dụng đất tiết kiệm và  hiệu quả. HIện nay việc thu hồi đất ở các khu đô thị mới, tiến độ diễn ra chậm do mức giá đền bù của chủ đầu tư cho các hộ gia đình không thoả đáng.

    Câu 30: khi được cấp giấy chứng nhận về quyền SDĐ, người SD cần có  những loại giấy tờ gì, anh chị có nhận xét  gì về tình hình cấp giấy chứng nhận QSDĐ hiện nay?

    1. Các loại giấy tờ cần có khi người SD đất được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
    – Quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan NN có thẩm quyền theo quy định  của pháp luật về đất đai.
    – Những loại giấy tờ được cấp quyền nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai trong từng thời kỳ của nhà nước VNDCCH, CPCM lâm thời CHMNVN, nhà nước CHXHCNVN mà người được giao đất, cho thuê đất liên tục sử dụng đất từ đó đến nay.
    – Giấy chứng nhận QSDĐ tạm thời do cơ quan có thẩm quyền cấp có tên trong số địa chính mà không có tranh chấp.
    – Giấy tờ do cơ quan thuộc chế độ cũ cấp cho người SD đất mà người đó vẫn sử dụng đất liên tục từ đó đến nay và không có tranh chấp.
    – Bản án vào quyết định của TAND đã có hiệu lực PL  và quyết định  giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan NN có thẩm quyền đã có hiệu lực PL.
    – Giấy tờ giao nhà tình nghĩa.
    – Giấy tờ chuyển nhượng đất mua bán nhà ở kèm theo chuyển nhượng quyền SD đất được UBND xã, phường, thị trấn thẩm tra là đất không có tranh chấp và được UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác nhận kết quả thẩm tra của UBND xã, phường, thị trấn.
    2. Nhận xét.
    – Nhìn chung việc cấp GCN QSD Đất hiện nay vẫn chậm.
    + Theo báo cáo công tác 9 tháng đầu năm của Tổng cục địa chính năm 2001 mới khoảng 641.000 hộ trong tổng số 4.547.000 hộ sử dụng đất đô thị được cấp giấy chứng nhận QSD Đất đạt 14%.
    + Thực tế trong việc đền bù giải phóng mặt bằng thì nhiều tỉnh phía Nam trong tổng số 100% nhà đất được đền bù chỉ có 30% là có giấy chứng nhận QSD Đất.
    + Thủ tục giải quyết vấn đề cấp giấy chứng nhận QSD Đất còn rườm rà, phức tạp. Cán bộ quan liêu, sách nhiễu và không thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Bên cạnh đó người dân có tâm lý không muốn nhận giấy CNQSD đất. Vì vậy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần đựoc xem xét  giải quyết.

    Câu 31: Hãy cho biết các quyết định giao đất, cho thuê đất sau đây đúng hay sai? giải thích rõ, tại sao?

    a. UBND quận ký hợp đồng cho 1 công ty trách nhiệm hữu hạn thuê 5000m2 đất để XD nhà xưởng SX trong thời hạn 10 năm.
    Quyết định cho thuê đất trên là sai về thẩm quyền.Bởi theo quy định của LĐĐ 2003 – điều 37 thì:chỉ có UBND tỉnh mới  có  thẩm quyền cho thuê đất đối với tổ chức.Còn UBND quận chỉ có thẩm quyền cho thuê đất đối với hộ gia đình cá nhân.
    b. UBND xã cho 1 cán bộ về hưu thuê 5%đất công ích làm xưởng  mộc. UBND xã có thẩm quyền cho thuê đất công ích của xã. Tuy nhiên theo điều 74, NĐ 181đất công ích của xã chỉ được sử dụng vào mục đích: để xây dựng các công trình công cộng, XD nhà tình nghĩa, bồi thường cho người có đất được sử dụng để XD các công trình công cộng.
    – Trường hợp diện tích đất chưa sử dụng vào mục đích trên thì UBND xã, phường,  thị trấn có thể cho hộ gia đình, cá nhân ở địa phương để SX nông nghiệpu. NTTS theo hình thức đấu giá để nhận thầu.
    Vì vậy, đây là quyết định sai.

    c. UBND huyện cho 1 doanh nghiệp tư nhân thuê 100ha đất để trồng rừng quyết định cho thuê đất trên sai vì:
    – Không đúng thẩm quyền UBND cấp huyện chỉ có thể cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân.
    – Cho thuê vượt quá hạn mức quy định vì quyết định hạn mức đất rừng cao nhất là 30ha.
    d. UBND xã và HĐND xã ra nghị quyết bán đất nông nghiệp cho nhân dân trong xã để lấy tiền làm đường của xã.
    – Quyết định trên sai về thẩm quyền vì UBND – HĐND xã không có thẩm quyền bán đất mà chỉ có quyền cho thuê đất công ích. Bán đất thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện.

    Câu 32: Trình tự và thủ tục giao đất, cho thuê đất chưa được giải phóng mặt bằng đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo người Việt Nam định cư ở nước người, cá nhân nước ngoài?

    Điều 126 Nghị định 181 quy định trình tự và thủ tục………..nước ngoài?
    1. Người có nhu cầu xin giao đất, thuê đất liên hệ với cơ quan được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW giao nhiệm vụ thoả thuận địa điểm để được giới thiệu địa điểm sử dụng đất.
    2. Người xin giao đất, cho  thuê đất nộp hồ sơ theo quyết định tại khoản 2 điều 125 của NĐ này.
    3. Việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng được thời hạn theo trình tự quy định  tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6, và 7 điều 130 của Nghị định jvà  quyết định của CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
    4. Việc giao đất cho thuê đất sau khi đã giải phóng mặt bằng được thời hạn theo quyết định tại khoản 3 điều 125 của NĐ này.
    5. Thời gian làm việc (không kể ngày sử dụng đất thời hạn nghĩa vụ tài chính)kể từ ngày giải phóng xong mặt bằng và sở tàinguyên môi trường nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho tới ngày người sử dụng đất nhận được giấy chứng nhận QSD Đất.

    Câu 33: Luật đất đai 2003 quy định những trường hợp nào để đòi lại đất khi cho mượn, cho thuê đất ? liên hệ tại địa phương  anh, chị?

    + Theo quy định của LĐĐ 2003 thì những trường hợp được đòi lại đất khi cho mượn, cho thuê đất gồm:
    – Nhà nước SD đất vào mục đích Quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế.
    – Ngườimượn, thuê đất.
    – Tổ chức, cá nhân mượn, thuê đất của nhà nước sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả.
    – Người SD cố ý huỷ hoại đất.
    – Người sử dụng đất có ý không trả tiền thuê đất.
    – Đất được cho mượn, cho thuê đã hết thời hạn.
    Các thủ tục về mượn, cho thuê đất vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc và đầy đủ dẫn đến xảy ra nhiều tranh chấp phức tạp về mượn, thuê đất giữa những người SD đất. Mặt khác, những người mượn, thuê đất thường không thực hiện đúng về thời hạn nộp tiền thuê đất. và việc đòi lại đất cho mượn, cho thuê cũng gặp rất nhiều khó khăn.

    Câu 34: Xã D có 1.200m2 đất ao hồ, dự định sẽ san lấp để chia cho các hộ gia đình trong xã xây dựng nhà ở. Trong khi đang chờ ý kiến của UBND tính, thị xã D đã thuê công ty B san lấp ao hồ và phân lô chỉ cho các hộ gia đình có khó khăn trong xã, đồng thời thu hồi mỗi hồ 70 triệu đồng  tiền sanlấp mặt bằng. Sau khi nhận đất một số hộ đã chuyển nhượng cho người khác để kiếm lười. Anh, chị hãy phân tích sự việc nói trên cơ sở pháp luật đất đai  hiện hành?

    Việc sử dụng đất của UBND xã D phân bổ chia cho các hộ gia đình khó khăn trong xã đồng thời có thu mỗi hộ 70 triệu đồng tiền san lấp mặt  bằng là trái thẩm quyền. Theo quy định điều 37 – LĐĐ 2003 thì chỉ có UBND cấp huyện mới có thẩm quyền bán đất cho các hộ gia đình, cá nhân. Việc một số hộ đã chuyển nhượng cho người khác để kiếm lời là hành vi vi phạm pháp luật đất đai, vì giấy chứng nhận QSD Đất.

    Câu 35: Phân tích nội dung quản lý NN về đất đai? Trong các nội dung đó nội dung nào NNQL yếu nhất ở thời điểm hiện nay?

    1. Nội dung QLNN về đất đai
    – Ban hành các VBCPPL về đất đai
    – Xác định địa giới hành chính, lập ra và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.
    – Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
    – Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
    – QL việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
    – Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    – Thống kê, kiểm kê đất đai.
    – Quản lý tài chính đất đai.
    – Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong vùng BĐộng sản.
    – Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
    – Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về Đất đai và xử lý VPPL về đất đai.
    Trong các nội dung về quản lý trên thì việc giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các VP  trong việc quản lý đất đai là nội dung quản lý yếu nhất của NN. Do tính chất phức tạp của sự việc mà nhà nước có quyền địa phương khó có thể áp dụng trong phạm vi cụ thể, rộng lớn.

    Câu 36: Hãy nêu các nguyên tắc trong việc thu hồi về đền bù giải phóng mặt bằng? quan điểm của anh, chị như thế nào về việc đền bù hiện nay, đền bù theo quan hệ dân sự hay  quan hệ hành chính?

    + Các nguyên tắc trong việc thu hồi và đèn bù giải phóng mặt bằng.
    – Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bưàng loại đát tương ứng (VD: thì thu hồi bằng đất ở thì sẽ được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm cú quyết định thu hồi.
    – Người bị thu hồi phải di chuyển chỗ ở thì được bồi thường bằng nhà ở, đất ở trong khu tái định cư, bồi thường bằng tiền hợac được ưu tiên mua hoặc thuê nhà thuộc sở hữu NN (nếu không có nhà tái định cư).
    – NN có trách nhiệm hỗ trợ người bị thu hồi đất ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới, trong trường hợp thu hồi đất mà hộ gia đình cá nhân trực tiếp SXKD.
    Việc đền bù hiện nay còn có nhiều bất cập, hạn chế. Mức đền bù chưa thoả đáng nên các hộ gia đình, cá nhân không chịu di dời đi chỗ khác, đồng thời các khu tái định cư có chất lượng kém, NN vẫn chưa có nhiều chính sách hỗ trợ hợp lý cho các đối tượng di dời. Điều này đã làm gián đoạn tiến độ giải phóng mặt bằng ảnh hưởng xấu tới việc đầu tư, xây dựng các dự án đã đề ra vf gây thiệt hại thất thoát lớn cho ngân sách NN.
    Đền bù vừa thuộc quan hệ dân sự, vừa thuộc quan hệ hành chính. Nó thuộc quan hệ dân sự vì mức đền bù là sự thoả thuận thoả đáng, hợp lý giữa các bên, đền bù thuocọ quan hệ hành chính vì quyết định thu hồi đất, quyết định mà NNđối với các trường hợp đã được đền bù nhưng không chịu di dời xuất phát từ ý chí, mệnh lệnh đơn phương của NN và nó chịu sự điều chỉnh của LHC.

    Câu 37: Gia đình ông A có 500m2 đất nông nghiệp trồng lúa đã đượcu cấp GCN QSD Đất. Cuối năm 2001, xảy ra cơn sốt đất gia đình ông đã  tự ý san lấp toàn bộ 500m2 đất nông nghiệp để chuyển nhượng cho gia đình ông B với giá 5 triệu đồng 1m2. Tháng 8 năm 2004, chủ đầu tư tiến hành triển khai dự án này XD khu đô thị mới, và bồi thường cho gia đìnhông B mỗi m2 đất NN là 135.000đồng, ông B khiếu kiện lên Hội đồng đền bù và giải phóng mặt bằng của quận. Anh, chị hãy bình luận, phân tích sự việc trên?

    Điều 36 – LĐĐ 2003 quy định
    “1trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan NN có thẩm quyền bao gồm:
    a. Chuyển đổi chuyên trồng  lúa nước sang đất trồng cây lâu năm đát trồng rừng đất nuôi trồng thủy sản.
    b. Chuyển đất NN sang đất phi nông nghiệp. Như vậy việc gia đình ông A tự ý san lấp toàn bộ 500m2 đất NN là trái pháp luật và ông không được chuyển nhượng mảnh đất trên cho ông B. Do ông không được nằm trong diện đền bù.

    Câu 38: Hãy Phân tích thẩm quyền của các cơ quan NN trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai?  Hiện nay tranh chấp loại nào hay xảy ra nhiều nhất? vì sao?

    1. TRanh chấp đất đai đã được hồ giải tại UBND cấp xã mà 2 trong các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
    – Trường hợp tranh chấp ĐĐ đương sự có giấy chứng nhận QSD đất thì thẩm quyền giải quyết thuộc TAND, kể cả trường hợp tài sản gắn với đất.
    – trường hợp không có giấy chứng nhận quyền SD đất thì thẩm quyền thu nhập của nông dân vẫn thấp. Hơn nữa họ lại quá phụ thuộc vào ruộng đất, không có khả năng đầu tư vào các lĩnh vực khác. Bởi vậy việc áp dụng chính sách hạn mức giao đất NN vẫn rất cần thiết.

    Câu 39: Khi nào một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được coi là hợp pháp? tại sao trên thực tế thường xảy ra hiện tượng chuyển nhượng ngầm đất đai?

    1. Hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên tuân theo các điều kiện, nội dung hình thức chuyển quyền sử dụng đất được BLDS và páp luật đất đai quy định, theođó người sử dụng đất (gọi là bên nhận quyền sử dụng đất) còn người được chuyển nhượng trả tiền cho người được chuyển nhượng.
    – Mỗi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau:
    + Hợp đồng chuyển nhượng quyền SD đất phải được thành lập VB theomẫu do Tổng cục chính trị ban hành.
    – phải có sự xác nhận của UBND nơi có đất chuyển nhượng đó.
    + Đối tượng của hợp đồng phải hợp pháp không thuộc diện tranh chấp diện tích đất quy hoạch và được UBND xã xác nhận.
    + Chủ thể của hợp đồng
    + Phải là người có đầy đủ năng lực chủ thể.
    + người chuyển nhượng phải có giấy chuyển quyền sử dụng đất và được phép chuyển nhượng.
    + Người được chuyển nhượng có quyền nhận quyền chuyển nhượng.
    2. Trên thực tế hiện nay vẫn thường xảy ra hiện tượng chuyển nhượng ngầm đất đai là do:
    – Các bên muốn trốn thuế chuyển quyền
    – Do thủ tục chuyển nhượng rườm rà phức tạp
    – Do bên chuyển nhượng không có giấy chứng nhận quyền SD đất nên không chuyển nhượng ngầm thì việc  chuyển nhượng không xảy ra được. Đây là hậu quả của công tác cấp giấy CN QSD đất chậm trễ gây khó khăn cho người sử dụng đất đai cho việc thực hiện các quyền.

    Câu 40: Một doanh nghiệp tư nhân thuê đất của NN để làm xưởng phục vụ mục đích SXKD với thời hạn 20 năm kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1998, một công ty nước ngoài ngỏ ý muốn liên doanh với DN tư nhân này theo hình thức bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, bên nước ngoài góp vốn bằng tiền và máy móc thiết bị. Hỏi: doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam có được góp vốn bằng giá trị quyền SD đất thuê của NN để liên doanh với nước ngoài không? tại sao?

    Theo quyết định của luật đất đai 2003 tổ chức kinh tế đựoc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác SXKD với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khi có 1 trong những điều kiện sau:
    + NN giao đất không thu tiền SDĐ  nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản làm muối.
    + Đất được NN giao có thu tiền sử dụng đất.
    + Đất nhận chuyển nhượng hợp pháp từ người khác.
    + Đã được NN cho thuê đã trả tiền cho cả thời gian và trả nhiều năm thời hạn trả tiền còn lại ít nhất 5 năm.
    Doanh nghiệp trên thuê đất làm nhà xưởng và trả tiền thuê đất hàng năm cho nhà nước nên đáp ứng một trong các điều kiện trên. Do vậy DN tư nhân đó được góp vốn bằng giá trị quyền SD đất thuê của NN để liên doanh với nước ngoài.

    Câu 41: Hãy nêu các điều kiện về việc sở hữu nhà và quyền SD đất của người VN ở nước ngoài? người nước ngoài có được nhận chuyển nhượng đất ở VN không? tại sao?

    + Khoản 1 – điều 121 (LĐĐ 2003) quyết định:
    “Người Việt nam định cư ơ nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây thì được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
    a. Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại VN
    b. Ngưòi có công đóng góp đất nước

    c. Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại VN nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước. 

    Câu 42: Phân biệt ngành Luật đất đai với Luật Hành Chính?

    Luật hành chính là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trinh hình quản lý hành chính Nhà nước. 
    Luật đất đai là ngành luật độc lập trọng hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước về đất đai và quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất đai của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. 
    Rõ ràng có sự phân biệt về đối tượng điều chỉnh cảu hai ngành luật. Đối với Luật hành chính đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội xuất hiện trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước. Luật hành chính là ngành luật về quản lý hành chính Nhà nước. 
    Đối tượng điều chỉnh của Luật đất đai là các quan hệ xã hội trong quản lý Nhà nước về đất đai và quá trình sử dụng đất đai của người sử dụng đất. 
    Trong đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính luôn có sự hiện diện củacơ quan hành chính Nhà nước, còn ở Luật đât đai thì không hoàn toàn như vậy,có thể có trong quan hệ quản lý nhưng trong quan hệ sử dụng đất thì không có cơ quan quản lý hành chính Nhà nước(nếu xuất hiện thì chỉ với tư cách người sử dụng đất). 
    Luật Hành chính và Luật đất đai. Có phương pháp điều chỉnh vừa tương đồng, vừa khác biệt. Luật hành chính phương pháp điều chỉnh chủ yếu la mệnh lệnh đơn phương,còn Luật đất đai có hai phương pháp điều chỉnh chủ yếu: mệnh lệnh hành chính và bình đẳng. Giới Luật định cho rằng Luật đất đai có sự giao kết với Luật hành chính và Luật dân sự có thể vì lý do phương pháp điều chỉnh của ngành Luật này. 

    Câu 43 : Hãy nêu những điều cấm trong Luật đất đai 1993 và phân tích các điều khoản cấm đó?

    Điều 6 Luật đất đai quy định: “Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, huỷ hoại đất”. 
    Trước hết phải khẳng định rằng những điều cấm này là cần thiết đê Nhà nước quản lý đất đai có hiệu quả, đất đai được sử dụng hữu ích phục vụ tốt cho mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước đề ra. 
    5. 1. “Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai. . “Nhà nước quy định việc này nhằm nhiều mục đích . Xuất phát từ nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai thì đất đai là tài sản quốc gia, là lãnh thổ bất khả xâm phạm của quốc gia,không thể có bất kỳ cá nhân,tổ chức nào được tự ý chiếm hữu, sử dụng mà không được sự đồng sý (cho phép) của Nhà nước. Điều cấm này cũng nhằm bảo đảm về sự bình đẳng về quyền chiếm hữu đất đai của người khác đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất. 
    Một điều đáng lưu ý là điều cấm này cầm phải được quy định cụ thể hơn nữa là đất bị lấn chiếm là đất nào: đất của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình được Nhà nước giao đất, cho thê đất hay đất chưa sử dụng. . . 
    5. 2. “Nghiêm cấm. . . chuyển quyền sử dụng đất trái phép”. Nhà nước phải nghiêm cấm chuyển quyền sử dụng đất trái phép để quản lý số lượng và sự biến động đất đai. Nhà nước nghiêm cấm điều này cũng chính là biện pháp để bảo đảm cho quy định về hạn mực sử dụng đất, tránh tình trạng đất đai tập trung vào một số cá nhân còn nhiều người không có đất để sử dụng. 
    Cụ thể hoá việc nghiêm cấm chuyển quyền sử dụng tái phép Điều 30 Luật đất đai 1993 quy định không được chuyển quyền sử dụng đất trong những trường hợp sau dây. 
    1. Đất đã sử dụng không có giấy tờ hợp pháp. 
    2. Đất giao cho các tổ chức mà pháp luật quy định không được chuyển quyền sử dụng. 
    3. Đất đang có tranh chấp. 
    5. 3. Nghiêm cấm “Sử dụng đất không đúng mục đích được giao”. Mục đích sử dụng đất có liên quan đế quy họch, kế hoạch sử dụng đất. Đất được sử dụng vào mục đích nào đó được điều tra, nghiên cứu phân tích tổng hợp các điều kiện tự nhiên, xã hội, tiềm năng của đất. Mục đích sử dụng đã tính toán, vì vậy không được sử dụng đất không đúng mục dích được giao. 
    Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quy định nghiêm cấm này nên chăng “mục đích được giao” phải được làm rõ là mục đích trong quyết định giao đất, cho thuê đất. . . 
    5. 4. Nghiêm cấm “huỷ hoại đất”. 
    Một nguyên tắc của Luật đất đai là nguyên tắc cải tạo và bồi bổ và bảo vệ môi trường. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, là môi trường sống của hàng triệu người, là một trong các thành phần quan trọng của môi trường sống, là nơi diễn ra các hoạt động của con người. Vì vậy cần phải nghiêm cấm huỷ hoại đất. Không ai có quyền huỷ hoại đất. 

    Câu 44: Phân tích điểm giống và khác nhau giữa quyết định giao đất và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất?

    Quyết định giao đất là quyết định bằng văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyề ban hành xác lập quyền sử dụng đất ở cá nhân, tổ chức, các nhân có đủ điều kiện sử dụng đất. 
    Chuyển quyền sử dụng đất là hành vi của một chủ thể sử dụng đất hợp pháp chuyển giao quyền và nghĩa vụ của mình cho người khác theo quy định của pháp luật. 
    Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là hình thức của chuyển quyền sử dụng đất. 
    Điểm chung cơ bản nhất giữa quyết định giao đất và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là xác lập quyền sử dụng đất ở các chủ thể có đủ điều kiện sử dụng đất. 
    Những điểm khác nhau:
    *Quyết định giao đất
    – Chủ thể: Cơ quan Nhà n¬ớc có thẩm quyền
    – Tính chất: Mang tính mệnh lệnh đơn ph¬ơng
    – Nội dung do Luật đất đai điều chỉnh
    *Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất
    – Chủ thể: Cá nhân, tổ chức, hộ gia đình (ng¬ời sử dụng). 
    – Tính chất: thoả thuận, bình đẳng, tự nguyện
    – Nội dung: Luật dân sự điều chỉnh

    Câu 45: ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Theo anh(chị) việc hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân trong cơ chế thị trường hiện nay như thế nào?

    ở nước ta, đất đai là tài sản chung của quốc gia và Nhà nước là đại diện cho nhân dân thực hiện quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt toàn bộ đất đai trên lãnh thổ nước. Vì vậy có thể coi hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân chính là việc hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu của Nhà nước, cơ chế quản lý của Nhà nước đối với đất đai. 
    Thứ nhất pháp luật đất đai cần phải được xây dựng, bổ xung toàn diện và ổn định trong thời kỳ dài với mức độ sâu sắc hơn. Thống nhất các quy định về đất đai cần được ghi nhận trong Bộ Luật đất đa, không để các quy định rải rác ở Bộ luật dân sự và một số luật chuyên nhành có liên quan. 
    Pháp luật đất đai cần phải thể hiện rõ nội dung kinh tế trong quản lý và sử dụng đất tạo cơ sở cho thị trường bất động sản hình thành và phát triển mộtcác lành mạnh. Quy định hợp lý hơn về giá đất, góp phần thúc đẩy các hoạt động tài chính đất đai trong một trật tự nhất định. 
    Luật hoá các quy định của Chính phủ đã được chính sách chấp nhận bảo đảm của tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, giảm bớt các văn bản dưới luật, tránh tình trọng văn bản chồng chéo, “giật gấu vá vai”, “sự vụ cá biệt”. 
    Thứ hai, công tác quy hoạch việc sử dụng đất phải được thực hiện có hiệu quả hơn thiết thực hơn. Quy hoạc phải được công khai. Trong tập quy hoạch phải có quy trình tham gia ý kiến của nhan dân, tránh tình trạng thiếu công khai là một trong những nguyên nhân của tệ tham nhũng, hối lộ. 
    Thứ ba, các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai phải nâng cao năng lực trình độ quản lý sử dụng phối hợp có hiệu quả các công cụ quản lý. 
    Thứ tư, thay đổi cơ chế giao đất. Việc quy định giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu thực hiện theo cơ chế “xin cho”. Thực chất là chưa trú trọng tới các yếu tố kinh tế của đất đai, chưa thực sự thấy được đất đai là hàng hoá đặc biệt trong cơ chế thị trường. Từ đó việc giao đất không thu tiền sử dụng đất để tạo điều kiện chi tình trạng tham nhũng và lãng phí đất ngày càng tăng, trang khi Nhà nước khong thu được thuế cho ngân sách, thâm chớ kể cả 1% lệ phí địa chính. 
    Trong văn kiện Đại hội IX nêu rõ: “Phát triển thị trường bất động sản trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển quyền sử dụng đất. . . ,mở rộng thị trường bất động sản cho các thành phần kinh tế, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài ở Việt Nam tham gia đầu tư. . . “. Đây có thể coi là một xu hướng hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. 

    Câu 46: Tại sao Nhà nước quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp đối với từng vùng?

    Hạn mức đất là giới hạn diện tích tối đa mà hộ gia đình, cá nhân được sử dụng vào mục đích nông nghiệp trên cơ sở Nhà nước giao và được nhận quyền chuyển nhượng đất hợp pháp từ người khác. 
    Hạn mức sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm: Các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu long, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh không quá 3 ha. Các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương khác không qua 2 ha. 
    Hạn mức sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lâu năm. 
    – Các xã đồng bằng không quá 10 ha. 
    – Các xã trung du miền núi không quá 20 ha. 
    Việc áp dụng chế độ hạn mức sử dụng đất nông nghiệp có tác động tích cực đến đời sống kinh tế ở nông thôn, nó bảo đảm cho người nông dân có đất đai để sản xuất,thực hiện được chính sách của Đảng và Nhà nước ta là:”người cày có ruộng”. 
    Việc pháp luật đưa ra hạn mức sử dụng đất nông nghiệp còn xuất phát từ những nguyên nhân như tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nông thôn, phần lớn người nông dân không có đủ việc làm. Mật độ dân cư nông thôn quá dày đặc trên 1 ha, đất canh tác(khoảng 2 người/ ha đất canh tác). Tình trạng khan hiếm ruộng đất trong nông nghiệp đặc biệt là ở miền Bắc đã dẫn đến mối tương quan giữa ruộng đất- dân số- lao động trở lên hết sức căng thẳng. Trong những năm gần đây mặc dù sản lượng lương thực của cả nước nói chung là tăng nhưng đa số nông dân vẫn có mức thu nhập thấp vì nguồn sống của hộ chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Tách khỏi ruộng đất người nông dân mất luôn nguồn sống chính. Đa số nông dân có thu nhập thấp,chỉ đủ trang trải cho những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, không có khả năng đầu tư thêm chosản xuất trên quy mô lớn và cũng không có khả năng đầu từ vào các lĩnh vực khác, bởi vậy việc áp dụng chính sách hạn mức sử dụng đất nông nghiệp là cần thiết. 

    Câu 47: Chứng minh Luật đất đai 1993, Luật sửa đổi bổ sung 1998 và 2001 quan tâm đế quyền và lợi ích của người sử dụng đất?

    Trước Luật đất đai 1993 chúng ta đã có Luật đất đai 1987. Luật đất đai 1987 khẳng định. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thong snhất quản lý, Nhà nước giao đât cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xí nghiệp đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có hạn hoặc tạm thời. 
    Nhà nước bảo đảm cho người sử dụng đất được hưởng quyền lợi hợp pháp trên đất được giao kể cả quyền chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kêt quả đầu tư khi thấy còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Luật đất đai 1993 mở rộng hơn hình thức giao quyền cho người sử dụng đất. Ngoài việc Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân thuê đất. 
    Luật đất đai 1993 mở rộng hơn các quyền đối với người sử dụng đất. Ngoài quyền sử dụng đất đúng mục đích được giao hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất trong thời hậngio đất. 
    Luật đất đai sửa đổi bỏ sung 1998 cho phép gia đình, cá nhân có quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất thuê cùng với tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê để hợp tác sản xuất kinh doanh, cho thuê lại quyền sử dụng đất trong thời hạn thuê đất. 
    Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối thì được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với quyền sử dụng đó tại tổ chức tín dụng Việt Nam để vay vốn được góp bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất kinh doanh với tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp lâm nghiập nuôi trồng thuỷ sản làm muối mở rộng công nghiệp chế biên dịch vụ nằhm phát triển sản xuất. 
    Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền có quyền chuyển nhượng, quyền sử dụng đất gắn liền với công trình kiến trúc, với kết cấu hạ tầng đã được xây dựng trên đất đó cho thuê quyền sử dụng gắn liền với công trình kiến trúc, với kết cấu hạ tầng đã được xây dựng trên đất đó, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất lại tổ chức tín dụng Việt Nam; góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất cùng với tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất. 
    Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất mà trả tiền thuê đất hàng năm có quyền thế chấp tài sản thuộc sở dhữu của mình gắn liền với đất thuế tại tổ chức tín dụng Việt Nam để vay tiền chuyển nhượng tài sản thuốc ở hữu của mình gắn liền với đất thuê; Doanh nghiệp Nhà nước có quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng thuê để hợp tác sản xuất kinh doanh với tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. 
    Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất mà trả tiền thuê cho cả thời gian thuê, đã trả trước tiền thuê đất nhiều năm nếu thời hạn thuê đất đã trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm có quyền: thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê tại tổ chức tín dụng Việt Nam để vay vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuê cùng với tài sản thuọc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất thuê trong thời hạn thuê ùng với tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê, cho thuê lại quỳen sử dụng. 
    Luật đất đai sửa đổi, bổ sung 2001 quy định thế chấp quyền sử dụng đất cho phép tổ chức kinh tế hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp haợc bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại Việt Nam không phân biệt đó là tổ chức tín dụng đó là của Việt Nam hay của nước ngoài. 

    Câu 48: Căn cứ đê phân biệt loại đất theo Luật đất đai 1993 là gì? Theo anh (chị) cách phân loại đã khoa học chưa?

    Căn cứ để phân loại đất theo Luật đất đai 1993 là mcụ đích sử dụng chủ yếy của đất. Điều 11 Luật đất đai 1993 nêu rõ: “Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu được phân thành các loại sau đây”:
    1. Đất nông nghiệp. 
    2. Đất lâm nghiệp. 
    3. Đất khu dân cư nông thôn. 
    4. Đất đô thị
    5. Đất chuyên dùng. 
    6. Đất chưa sử dụng. 
    Nhìn chung cho đến nay cách phân loại này vẫn được các nhà làm luật các nhà quản lý chấp nhận xem là khoa học. Trải qua các lần sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2001. Điều 11- Luật đất đai 1993 vẫn được giữ nguyên đã nói lên điều đó. 
    Mặt khác các loại đất cũng có thể được phân loại theo một cách khác gồm 5 loại sau đây:
    1. Đất nông nghiệp. 
    2. Đất lâm nghiệp. 
    3. Đất ở
    4. Đất chuyên dùng. 
    5. Đất chưa sử dụng. 
    Cách phân loại này sẽ không phân biệt đất dân cư nông thôn và đất đo thị thuần tuý căn cứ vào mục đích sử dụng của đất. Mục đích nông nghiệp lâm nghiệp đất ở rõ ràng nên phân thành một loại đất. Các mục đích khác tập trung vào loại đất chuyên dùng còn các loại đất chưa được sử dụng ở các vùng sữ quy mô vào loại đất chưa sử dụng. 

    Câu 49: Nhà nước cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý toàn bộ đất đai thông qua hai công cụ quan trọng là quy hoạch và pháp luật. Anh (chị) có nhận xét gì về hai công cụ quản lý này trong giai đoạn hiện nay?

    Pháp luật và quy hoạch là hai công cụ quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất đai: Pháp luật có vai trò duy trì mọi trật tự kỷ cương cần thiết cho quản lý và sử dụng đất đai trong xã hội. 
    Quy hoạch đất đai chính là sự tính toán phân bổ đất đai cụ thể và hợp lý về số lượng, chất lượng, vị trí không gian cho các mục tiêu kinh tế xã hội của cả nước và từng địa phương ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. 
    Quy hoạch là sự tính toán sử dụng quỹ đất sao cho tiết kiệm, hiệu quả. 
    Pháp luật và quy hoạch đã được Nhà nước xác định là công cụ quản lý Nhà nước về đất đai. Tuy nhiên trong thực tế hai công cụ này còn nhiều bất cập. 
    Đất đai là một vấn đề phức tạp và rất nhạy cảm trong đời sống xã hội, do sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường những năm gần đây nảy sanh nhiều vấn đề phức tạp mà các quy định pháp luật đất đai hoặc là không có, chưa được ban hành kịp thời hoặc có nhưng nhưng không phù hợp chòng chéo gây khó khăn cho công tác quản lý và sử dụng đất. 
    Các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai được ban hành nhiều: ở Trung ương có 100 văn bản trong đó có 19 văn bản của Quốc hội và UBTVQH, văn bản của Chính phủ gồm 23 Nghị định,6 công văn,3 Nghị quyết,12 chỉ thị,10 Quyết định thong tư và Thông tư liên bộ. Tuy nhiên thực tế hệ thống văn bản pháp luật trên vẫn chưa bao quát toàn diện những vấn đề, những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. 
    Mặt khác do tình trạng ban hành nhiều văn bản pháp luật đất đai từ Trung ương đến địa phương nên kể cả người quản lý lẫn người sử dụng đất khó mà cập nhật, kiểm kỹ, nắm chắc được khết những quy định trong lĩnh vực này. 
    Quy hoạch đất đai quả thực đang là vấn đề nổi cộm ở nước ta. Bởi vì thực tế cho thấy việc quy hoạch sử dụng đất còn tràn lan (hiện trong cả nước có tới 9 viện quy hoạch chuyên trách hàng trăm Công ty tư vấn vừa thiết kế công trình vừa quy hoạch), chưa sát thực tế, thiếu tính khả thi. Nhìn chung công tác quy hoạch mới chỉ dừng lại ở mục tiêu về giao thông, phân khu chức năng mà chưa có sự tính toán sao cho sử dụng đất có quả. Thời gian thực hiện quy hoạch còn chưa rõ hoặc bị kéo dài làm cho hiệu quả quản lý thấp. Hiện nay trong 61 tỉnh thành phố mới có 47 tỉnh thành phố được Chính phủ xét duyệt việc lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất. Còn về quy hoạch chi tiết cho quận huyện, thị xã, xã, phường đến nay nhiều địa phương chưa làm. do đó công tác quy hoạch chưa trở thành công cụ quản lý thực sự có hiệu quả. 
    Bên cạnh những bất cập trong pháp luật, quy hoạch sử dụng đất hai công cụ này cũng đã có những mặt tiến bộ phù hợp với tình hình thực tế. Về cơ bản pháp luật đất đai đã tạo điều kiện thực hiện việc giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật tạo điều kiện quan trọng cho việc sử dụng đất có hiệu quả và hình thành thị trường quyền sử dụng đất. . . 

    Câu 50: Hãy trình bày và phân tích nội dung quản lý Nhà nước về đất đai theo Luật đất đai 1993?

    Điều 13 – Luật đất đai 1993 quy định: “Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm”. 
    1. Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất,lập bản đồ địa chính. 
    2. Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất. 
    3. Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý,sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó. 
    4. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất. 
    5. Đăng ký đất đai, lập và quả lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê kiểm kê đất,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 
    6. Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể kệ về quản lý, sử dụng đất. 
    7. Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. 
    – Hoạt động đánh giá đất và lập bản đồ địa chính. Đây là việc làm hết sức quan trọng,nó tạo cơ sở ban đầu cho công tác quản lý đất đai, đặc biệt trọng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xác định giá đất. 
    – Quy hoạch kế hoạch hồ việc sử dụng đất. Quyhoạch sử dụng đất là sự tính toán phân bổ đất đai cụ thể về số lượng,chất lượng, vị trí, không gian. . . cho các mục tiêu kinh tế xã hội. Quy hoạch sử dụng đất bao giờ cũng gắn liền với kế hoạch sử dụng đất bởi bì kế hoạch sử dụng đất là biện pháp để thựch hiện quy hoạch. 
    – Hoạt động của Nhà nước trong việc ban hành các văn bản pháp luật:Quản lý Nhà nước về đất đai không thể thiếu văn bản pháp luật. Nó là cơ sở pháp lý trng quy trình quản lý Nhà nước về đất đai. Chính vì vậy văn bản yâu cầu của thực tế. 
    – Giao đất,cho thuê đất, thu hồi đất. 
    + Giao đất là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho tổ chức,hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất. Căn cứ để giao đất,cho thuê đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt và yêu cầu sử dụng đất ghi trong dự án đầu tư, ghi trong thiết kế dã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc chấp nhận bằng văn bản về địa diểm diện tích đất, đơn xin giao đất. 
    + Thuê đất là việcNhà nước thực hiện cho người có nhu cầu sử dụng đất thuê đất trong thời hạn và theo mục đích mà Nhà nước quy định. Trong một số trường hợp Nhà nước cho phép người sử dụng đất được quỳen cho thuê lại đất đã thuê của Nhà nước. 
    + Thu hồi đất:Trong trường hợp cần thiết vì lý do an ninh quốc phòng, lợi ích công cộng,lợi ích quốc gia Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất. Người sử dụng đất được bồi thường hoặc hỗ trợ. 
    Ngoài ra,Nhà nước thu hồi đất theo các quy định khác của pháp luật. 
    Tổ chức sử dụng đất bị giải thể, phá sản chuyển đi nơi khác, giảm nhu cầu sử dụng đất, cá nhân sử dụng đất chết mà không có người tiếp tục sử dụng đất đó. 
    Đất không được sử dụng trong thời hạn12tháng liền mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quỳen cho phép. 
    Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất được giao. 
    Sử dụng đất không đúng mục đích được giao. 
    Người sử dụng đất cố ý khôg thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. 
    Đất giao không đúng thẩm quyền. 
    – Đăng ký đất đai:Khi cơ quan Nhà nước có thầm quyền giao đất cho phép thay đổi mục đích sử dụng đất hoặc đang sử dụng đất mà chưa đăng ký thì người sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 
    – Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thực pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai ởTrung ương phát hành. Cơ quan nào có thẩm quyền quyết dịnh giao đất thì có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 
    – Thống kê, kiểm kê đất đai: Thống kê, kiểm kê đất đai là tổng hợp các số liệu tập hợp từ việc theo dõi quá trình biến động đất đai, từ quá trình sử dụng đất đai việc thúng kê đất đai tiến hành một năm một lần, kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần do UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện. 
    – Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quả lý sử dụng đất. Hoạt động này có ý nghĩa nhiều mặt trong công tác quản lý Nhà nước đối với đất dai. Nó bảo đảm cho các văn bản quản lý Nhà nước về đất dai,các chính sách về đất đai được thực hiện nghiêm chỉnh bởi các chủ thể quản lý và người sử dụng đất. Hoạt động này cho phép Nhà nước có sự điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với thực tế. 
    – Giải quyết tranh chấp về đất đai: đất đai là vấn đề phức tạp. Trong thực tiễn tranh chấp về đất dai thường xuyên xảy ra. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai phải tìm ra biện pháp giải quyết để phát triển sản xuất ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

    Câu 51: Phân tích mối quan hệ giữa Luật đất đai với Luật dân sự?

    Luật dân sự là một ngành luật trog hệ thống pháp luật của Việt Nam bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản và các qun hệ nhân thân. 
    Xét về bản chất, quyền sở hữu đất đai là một quyền đặc biệt, chỉ thuộc về Nhà nước. Mặc dù nó không thuộc sở hữu của chủ sử dụng đất,nhưng họ được Nhà nước cho phép chiếm hữu, sử dụng khai thức các lợi ích từ đất được phép chuyển quyền sử dụng đất từ chủ sử dụng đất này sang chủ sử dụng đất khác. 

    Quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất (Tổ chức, cá nhân hộ gia đình) được quy định trong hiến pháp 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai 1995, 2001 và trong Bộ Luật dân sự 1995. Các quy định của ngành Luật đất đai là cơ sở cho các quy định của ngành Luật dân sự về quyền sử dụng đất. Bộ Luật dân sự cụ thể hoá quyền năng của chủ sử dụng đất trong ngành Luật đất đai. Bộ Luật dân sự là phương tiện để các quy định của Luật đất đai về quyề sử dụng đất đi vào cuộc sống, hiện thực hoá trong đời sống. 

    Câu 52: Hãy phân tích khía cạnh kinh tế trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai?

    Trong quản lý Nhà nước về đất đai, Nhà nước sử dụng nhiều phương pháp quản lý, nhiều công cụ quản lý khác nhau. Đó là phương pháp hành chính, giáo dục thuyết phục, phương pháp cưỡng chế và bên cạnh đó có phương pháp kinh tế. Các công cụ quan trọng đó là công cụ tài chính. Sự hiện diện của phương pháp kinh tế, công cụ tài chính trong quản lý Nhà nước về đất đai đã phản ánh khía cạnh kinh tế trong hoạt động quản lý của Nhà nước. 
    Phương pháp kinh tế là cách thức Nhà nước tác động gián tiếp vào các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thông qu các lợi ích kinh tế để họ tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất, nhưng phải bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích theo quyêt định giao đất haợc thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 
    Biểu hiện thành công nhất của phương pháp kinh tế trong quản lý Nhà nước về đất đai là việc áp dụng khoán sản phẩm trong nông nghiệp phối hợp với việcgiao quyền sử dụng đất lâu dài cho tổ chức cá nhân, hộ gia đình để phục vụ cho sản xuất. Đây thực sự là động lực to lớn thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển và sử dụng có hiệu quả đất đai. 
    Khía cạnh kinh tế trong quản lý Nhà nước về đất đai được biểu hiện cụ thể nhất trong việc Nhà nước sử dụng công cụ tài chính làm công cụ quản lý. 
    Sử dụng công cụ tài chính trong quản lý Nhà nước về đất đai là việc Nhà nước sử dụng phối hợp các lợi ích kinh tế từ các mối quan hệ kinh tế gắn liền với đất đai để tác động đến các chủ thể sử dụng đất để đạt được mục tiêu quản lý. 
    Nhà nước đã sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính để thực hiện công tác quản lý của mình. Công cụ tài chính được sử dụng rộng rãi nhất trương công tác quản lý về đất đai là thuế . Theo Luật đất đai kiện hành Nhà nước sử dụng các loại thuế. Thuế sử dụng đất nông nghiệp. 
    – Thuế chuyển quyền sử dụng đất. 
    – Thuế nhà đất. 
    Bên cạnh công cụ thuế Nhà nước còn quy định lệ phí địa chính, giá cả cho từng loại đất để quản lý. 
    Lệ phí địa chính là khoản tiền người sử dụng đất phải nộp khi được cơ quan Nhà nước phục vụ các công việc về địa chính đó là khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trích lục hồ sơ địa chính, chứng nhận biến động về đất đai. 
    Giá cả đất đai là biểu hiện cụ thể của việc thừa nhận “đất đai là hàng hoá đặc biệt” để tạo cơ sở để tính các loại thuế đặc biệt là thuế chuyển quyền sử dụng đất. 
    Ngoài các công cụ tài chính vơ bản trên tín dụng ngân hàng cũng đang đượcnghiên cứu ứng dụng vào quản lý Nhà nước về đất đai và bước đầu phát huy tác dụng trên thực tế. 

    Câu 53: Người sử dụng đất nông nghiệp muốn chuyển dổi phải làm thủ tục tại cơ quan nào? Nhà nước có khuyến khích việc chuyển đổi hay không?

    Pháp luật đất đai quy định hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đất ở được chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau khi có đủ các điều kiện sau:
    – Thuận tiên cho sản xuất và đời sống. 
    – Sau khi chuyển đổi đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn theo quy dịnh của pháp luật. 
    Theo khoản1- Điều31- Luật đất đai1993: “Thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại UBND xã, ở đô thị làm tại UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”. 
    Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp phải thông qua hợp đồng chuyển đổi theo mẫu do tổng cục địa chính ban hành. Hồsơ chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp gồm:Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất; giấy chứn nhận quyền sử dụng đất. Hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất nộp tạiUBND xã,phường,Thị trấn nơi có đất chuyển đổi. Sau khi các nhận vào văn bản hợp đồng chuyển đổ quyền sử dụng đất trong trường hợp đươc chuyển đổi quyền sử dụng đất các bên chuyển đổi quỳen sử dụng đất (nộp thuế chuyển quyền) nộp lệ phí trước bạ theo quy định của pháp luật. 
    Chuyển đổi quyền sử dụng đất chủ yếu diễn ra với đất nông nghiệp. Trong quá trình giao đất nông nghiệp tất cả các loại đất xấu, tốt, xa, gần đen ra chia đều cho các hộ nông dân, vì vậy sự manh mún về đất nông nghiệp là phổ biến. Một hộ gia đình có tới 20 thửa ruộng, ở trung du miền núi có hộ đạt mức kỷ lục 53 thửa tổng diện tích cộng lại khoảng dưới 2 ha. Việc chia đất manh mún ảnh hưởng lớn đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá tác của người nong dân, làm giảm năng suất lao động gây cản trở trong việc sản xuất kinh tế hàng hoá nông nghiệp. Bởi vậy Nhà nước khuyến khích các hộ gia đình nông dân chuyển đổi ruộng cho nhau. 
    *Chuyển đổi đất nông nghiệp không phải nộp thuế chuyển quyền. Đất ở phải nộp thuế. 

    Câu 54: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được quy định trong pháp luật đất đai. Nhận xét về quyền và nghĩa vụ trong thực tế?

    Điều73- Luật đất đai1993 sửa đổi bổ sung một số điều năm1998và2001 quy định người sử dụng đất có những quyền sau đây:
    1. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 
    2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao. 
    3. Được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 
    4. Hưởng các lợi ích do công trình công cộng về bảo vệ cải tạo đất mang lại. 
    5. Được Nhà nước hướng dẫ và giúp đỡ trong việc cải tạo và bồi bổ đất. 
    6. Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đế quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, đươc bồi thường về đất khi bị thu hồi. 
    7. Được quyền góp đất để hợp tác sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất. 
    8. Đươc quyền khiếu nại tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp luât về đất đai. 
    Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành người sử dụng đất không chỉ có quyền chiếm hữu sử dụng mà còn có các quyền ăng khác là: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, cho thuê cho thuê lại, thừa kế, thế chấp hoặc bảo lãnh và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để liên doanh liên kết. 
    Các quyền này được biểu hiện ở hộ gia đình cá nhân tổ chức sử dụng đất khác nhau
    Trước Luật đất đai 1993 chúng ta đã có Luật đất đai 1987. Luật đất đai 1987 khẳng định. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thong snhất quản lý, Nhà nước giao đât cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xí nghiệp đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có hạn hoặc tạm thời. 
    Nhà nước bảo đảm cho người sử dụng đất được hưởng quyền lợi hợp pháp trên đất được giao kể cả quyền chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kêt quả đầu tư khi thấy còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Luật đất đai 1993 mở rộng hơn hình thức giao quyền cho người sử dụng đất. Ngoài việc Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân thuê đất. 
    Điều79- Luật đất đai 1993 quy định: “Người sử dụng đất có những nghĩa vụ sau đây”. 
    1. Sử dụng đất đơn mục đích, đơn ranh giới và các yêu cầu khác đã được quy định khi giao đất. 
    2. Thực hiện các biện pháp để bảo vệ và tăng khả nang sinh lợi của đất. 
    3. Tuân theo những quy định vè bảo vệ môi trường khong làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh. 
    4. Nộp thuế sử dụng đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất; lệ phí địa chính theo quy định của của pháp luật. 
    5. Nộp tiền sử dụng đất khi được nhà nước giao đất theo quy định của pháp luật. 
    6. Bồi thường cho người có đất bị thu hổi để giao cho mình. 
    7. Giao lại đất khi Nhà nước cú quyết định thu hồi. 
    Trong thực tế việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu xem xét. Người sử dụng đất nhiều khi chưa sử dụng các quyền năng của mình. Ví dụ như quyền chuyển đổi đất nông nghiệp. Các hộ nông dân ít sản xuất trên quy mô lớn. Ngoài ra còn có tình trạng người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình khong đúng trình tự thủ tục quy định (chuyển nhượng ngầm quyền sử dụng đất). 
    Người sử dụng đất nhìn chung còn có sự vi phạm về nghĩa vụ. Tình trạng lấn chiếm đất, “nhảy dù” xuống các diện tích đất chưa sử dụng khá phổ biến. Người sử dụng đất do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chưa thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ đất, chậm trễ trong việc giao lại đất khi bị thu hồi. 

    Câu 55: Người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính nào với Nhà nước. Mục đích của việc quy định các nghĩa vụ tài chính. 

    Các nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất phải thực hiện với Nhà nước. 
    – Tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, người sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất sử dụng vào mục đích. Hộ gia đình cá nhân làm nhà ở. Tổ chức kinh tế đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê. Tổ chức kinh tế đầu từ xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất gán liền với kết cấu hạ tầng đó. Tổ chức kinh tế được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất có thu tiền để chi phí quyết định mà không phải đền bù thiệt hại về đất cho người bị thu hồi phải nộp 100% tiền sử dụng đất và trường hợp bồi thường đền bù thiệt hại về đất thì được trừ số tiền thực tế đã đền bù nhưng mức độ tối đa không quá 90% tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách. 
    – Tiền sử dụng đất khi được chuyển mục đích sử dụng đất. 
    + Đối với hộ gia đình cá nhân. 
    Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp đất lâm ngiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ và đất làm muối khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển sang làm đất ở theo quy hoạch được duyệt phải nộp 40% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức đất ở. 
    + Đối với tổ chức. 
    Tổ chức đan sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trong thủy sản và làm muối, đất sử dụng vào mục đích an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,đất chuyên dùng khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang thành đất ở, xây dựng kết cấu hạ tầng phải nộ 100% tiền sử dụng. 
    + Tổ chức đang sử dụng đất thuê khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép snag xây dựng nhà ở, xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng cho thuê phải nộp 100% tiền sử dụng đất vào ngân sách Nhà nước trường hợp tổ chức đã nộp tiền thuê đất tính đến thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất mà còn dư thì được trừ số tiền thuê còn dư đó vào tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách, trường hợp phải đền bù thiệt hại về đất thuê thì được trừ số tiền thực tế đã đến bù nhưng không qua 90% số tiền sử dụng đất phải nộp vào ngân sách. 
    – Lệ phí địa chính khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trích lục hồ sơ địa chính, chứng nhận biến đọng về đất đai. 
    Người sử dụng đất mà không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất nhưng phù hợp với quy hoạc, không có tranh chấp khi được cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất như sau:
    + Đối với đất đô thị:
    Trường hợp sử dụng đất ở ổn định trước ngày18/12/1980 thì không phải nộp tiền sử dụng đất. 
    Trường hợp sử dụng đất ở ổn đinh từ ngày18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993 (ngày Luật đất đai có hiệu lực) thì phải nộp 20% tiền sử dụng đất. 
    Trường hợp sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 trở về trước sau thì phải nộp 100% tiền sử dụng đất. 
    Nếu do chuyển nhượng của người sử dụng đất trước đó không có giấy tờ hợp lệ chỉ có giấy tờ mua,bán chuyển nhượng giữa hai bên được UBND xã, phường thị trấn xác nhận phải nộp tiền sử dụng đất. 
    – Đối với đất khu dân cư nông thôn. 
    Trường hợp sử dụng đất ở ổn định trước ngày31/5/1990 thì không phải nộp tiền sử dụng đất. 
    Trường hợp sử dụng đất ở ổn định từ ngày31/5/1990 đến trước ngày15/10/1993 thì phải nộp 20% tiền sử dụng đất. 
    Trường hợp sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 trở về trước sau thì phải nộp 100% tiền sử dụng đất. 
    Nếu do nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất trước đó không có giấy tờ hợp lệ chỉ có giấy mua, bán, chuyển nhượng giứa hai bên UBND xã, phường, thị trấn xác nhận thì phải nộp 40% tiền sử dụng đất. 
    – Thuế: 
    + Thuế sử dụng đất nông nghiệp. 
    + Thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất. 
    + Thuế nhà đất. 
    Mục đích của quy định nghĩa vụ tài chính. 
    – Sử dụng làm công cụ tài chính phục vụ cho quảnlý Nhà nước về đất đai. 
    – Tác động vào ý thức người sử dụng đất đẻ họ sử dụng tiết kiệm có hiệu quả. 
    – Thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất kết hợp hài hồ các lớiich. 
    – Tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước phục vụ cho phúc lợi xã hội. 

    Câu 56: Luật đất đai quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết,Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bịt hu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ “Phân tích quy định này?

    Thực chất quy định này là một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với đất đai. Nguyên tắc bảo đảm sự kết hợp hài hồ giữa các lợi ích. Trong quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và về đất đai nói riêng cần phải trú trọng việc kết hợp hài hồ giữa lợi ích của Nhà nước lợi ích của người sản xuất đất bởi vì đât đai không chủ là tài sản chung của quốc gia của cộng đồng, mà còn là tư liệu sản xuất và là cơ sở vật chata quan trọng của bản thân người sử dụng đất. 
    Quy định trên nhằm mục đích xử lý tốt mối quan hệ giữa các lợi ích để tỏa động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng thời giảm bớt xung đột giữa người quản lý và người sử dụng đất đai loại trừ dần những nguyên nhân làm nảy sinh tiêu cực trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. 
    Quy định này củng để gián tiếp khẳng định quy định Nhà nước giao đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình , cá nhân tổ chức sử dụng. Việc quy định về thu hồi đất có đền bù nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất ổn định đời sống của người có đất bị thu hồi. Quy định này cũng cho thấy được bản chất của Nhà nước cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do dân và vì nhân dân. 

    Câu 57: Anh (chị) có nhận xét gì về tình hình giao đất, cho thuê đất hiện nay?

    Giao đất là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho tổ chức hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất. 
    Thuê đất là Nhà nước trực tiếp cho người có nhu cầu sử dụng đất được thuê đất theo thời hạn và theo mục đích mà Nhà nước cho phép sử dụng đất được quyền cho thuê lại đất đã thuê của Nhà nước. 
    Trong thực tế trong những năm qua việc giao đất, cho thuê đất có những tiến bộ đáng kể. Các quyết định giao đất đã xác lập quyền sử dụng đất cho nhiều hộ gia đình, cá nhân tổ chức phù hợp nguyện vọng mong muốn của người sử dụng đất, từ đó đất đai được giao sử dụng có hiệu quả thiết thực. 
    Việc cho thuê đất cũng có nhièu cải tiến. Thời gian giải quyết đơn xin thuê đất được rút ngắn phù hợp với nhu cầu của cơ chế thị trường. 
    Tuy nhiên trong việc giao đất cho thuê đất vẫn còn những vướng mắc. Việc giao đất cho thuê đất căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong khi quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của chúng ta còn quá nhiều hạn chế điều chỉnh liên tục làm cho việc giao đất cho thuê đất gặp khó khăn hiệu quả thấp. Đất đã giao, đã cho thuê chậm được đưa vào sử dụng. 
    Một vấn đề nữa là sự vi phạm thẩm quyền giao đất, cho thuê đất. Có tình trạng UBND phường xã đã có nơi ra quyết đinh giao đất. . . Việc giao đất chưa được quy định cụ thể rõ ràng về mục đích sử dụng dẫn đến tình trạng người thực hiện đợc giao đất rồi để đất đó mà không thực hiện các hoạt động sản xuất. Đất đô thị khi quy hoạch các khu đo thị các khu công nghiệp giao đất rừng cho dân dẫn đến hậu quả là người sử dụng đất có cơ hội chuyển mục đích đất trái phép. 

    Câu 58: Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nười sử dụng đất phải có giấy tờ gì? Nhân xét về tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

    (Theo công văn số 1427/ĐC ngày 3. 10. 1995 của Tổng cục Địa chính). 
    Người sử dụng đất có một trong các giấy tờ sau được cơ quan Nhà nước cơ thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 
    – Quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quỳen theo quy định của pháp luật về đất đai. 
    – Những loại giấy tờ được cơ quan Nhà nước có thểm quyền giao đất cho thuê đất trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai trong từng thời kỳ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hồ,Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hồ miền nam Việt Nam, Nhà nước cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà người được giao đất, thuê đất vẫn liên tục sử dụng đất, từ đó đến nay. 
    – Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ địa chính mà không có tranh chấp. 
    – Giấy tờ do cơ quan thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất ở mà người đó vẫn sử dụng đất liên tục từ đó đến nay và không có tranh chấp. 
    – Giấy tờ thừa kế nhà đất, tặng, cho nhà đất đưa UBND xã phường thị trấn xác nhận và đất đó không có tranh chấp. 
    – Bản án hoặc quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. 
    – Giấy tờ giao nhà tình nghĩa. 
    – Giấy tờ chuyển nhượng đất đai mua bán nhà ở kèm theo chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã phường, thị trấn thẩm tra là đất đó không có tranh chấp và được UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác nhận kết quả thẩm tra của UBND xã, phường, thị trấn. 
    Tham khảo: Người sử dụng đất không có giấy tờ hợp pháp được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 
    – Người được thừa kế quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở hoặc tài sản mà khong có tranh chấp về thừa kế nhưng chưa làm thủ tục sang tên trước bạ. 
    – Người khai hoang đất đai từ 1980 trở về trước phù hợp với quy hoạch liên tục sử dụng và không có tranh chấp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước. 
    – Người nhận chuyển nhượng đất ở thực sự có yêu cầu được chính quyền địa phương xác nhận. 
    – Người sử dụng đất ổn định không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch được chính quyền cấp xã xác nhận, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. 
    Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay nhìn chung là tiến độ chậm. Theo báo cáo công tác 9 tháng đầu năm của Tổng cục địa chính năm 2001 mới khoảng 641. 000 hộ trong tổng số4. 547. 000 hộ sử dụng đất đô thị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 14% tổng số Qua thực tế đền bù giải phóng mặt bằng thì nhiều tỉnh phía nam trong tổng số100% nhà đất được đền bù chỉ30% là có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. . . Có thể khẳng định rừng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều vấn đề cần xem xét, giải quyết. Bên cạnh đó, việc người dân không muốn nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng là điều cần phải được lý giải cặn kẽ và sâu sắc. 

    Câu 59: Căn cứ để các cơ quan Nhà nước ra quyết định giao đất cho thuê đất?

    Căn cứ chung nhất để Nhà nước ra quyết định giao đất, cho thuê đất. 
    – Văn cứ vào quỹ đất của địa phương. 
    – Trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất của từng địa phương đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. 
    – Căn cứ vào nhu cầu, khả năng sử dụng đât của người sử dụng đất được ghi trong luận chứng kinh tế , kỹ thuật, ghi trong dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 
    – Đơn xin giao đất của người sử dụng. 
    + Căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất lâm nghiệp. 
    – Tuỳ thuộc vồ quỹ đất lâm nghiệp của địa phương. 
    – Trên cơ sở quy hoạch đất lâm nghiệp, quy hoạch rừng các loại của từng địa phương đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. 
    – Căn cứ vào nhu cầu khả năng sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức được ghi trong dự án quản lý xây dựng khu rừng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. 
    – Căn cứ vào đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú xác nhận. 
    + Căn cứ để giao đất ở khu dân cư nông thôn. 
    – Dựa vào quy hoạch kế hoạch sử dụng đất khu dân cư nông thông đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. 
    – Căn cứ vào mức đất ở nông thôn cho mỗi hộ gia đình theo quy định của chính phủ. 
    – Căn cứ vào đơn xin giao đất của hộ gia đình có nhân khẩu thường trú tại địa phương. 
    + Căn cứ để giao đất đo thị: Cơ bản gióng như giao đất khu dân cư nông thôn. 

    Câu 60: Đối tượng nào được giao đất lâm nghiệp?

    Nhà nước giao đất lâm nghiệp không thu tiền CD Đ cho các đối tượng sau:
    – Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp lâm nghiệp, ngư nghiệp, làm muối mà có nguồn sống chính (chủ yéu) là thu nhập có đưọctwf các hoạt động sản xuất đó, được UBND xã, phwongf, thịt rấ nơi có đất lâm nghiệp xác nhận. 
    – Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. 
    – Doanh nghiệp Nhà nước đang sử dụng đất lâm nghiệp do Nhà nước giao trước ngày01/01/1999. 
    – Trạm, trại, xí nghiệp giống lâm nghiệp, trường học trường dạy nghề. 
    – Tổ chức khác thuộc các thành phần kinh tế đã được Nhà nước giao đất lâm nghiệp theo nghị định số02/NĐChính phủ ngày15/10/1994 của Chính phủ trước ngày 01/01/1995 được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn giao đất khi hết thời hạn đã giao phải chuyển sang thuê đất. 
    – Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng đất lâm nghiệp kết hợp với quốc phòng. 
    – Nhà nước cho tổ chức, hộ gia đình các nhân trong nước, tổ chưc và cá nhân nước ngoài thuê đất để sử dụng vào mục địch lâm nghiệp. 
    – Đất được quy hoạch để gây dựng, phát triển rừng sản xuất. 
    – Đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít rung yếu. 
    – Đất rừng đặc dụng để kinh doanh cảnh quan du lịch sinh thaní dưới tán rừng theo quy định của Bộ nông nghiệp phát triển và nông thôn.

    Câu 61: Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai quan trọng nhất, yếu nhất?

    Nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai xem câu 12.

    Có thể khẳng định rằng trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, thì lĩnh vực hoạt động của Nhà nước trong việc ban hành các văn bản pháp luật là nội dung quan trọng nhất. Nó quan trọng nhất bởi các lý do sau đây:

    – Các văn bản pháp luật là nơi các chính sách đất đai của Đảng được quy phạm hoá. Chúng ta khẳng định chính sách và pháp luật là công cụ quan trọng nhất để quản lý nhà nước về đất đai thì hoạt động ban hành văn bản pháp luật về đất đai không thể khong chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.

    – Quản lý Nhà nước nói chung, quản lý Nhà nước vì đất đai nói riêng không thể thiếu các văn bản pháp luật. Nó ổn định các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai, nó là cơ sở pháp lý trong quy trình quản lý Nhà nước về đất đai.

    – Các văn bản pháp luật còn chi phối ảnh hưởng trực tiếp đến các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.

    Mặc dù hoạt động ban hành văn bản pháp luật là nội dung quan trọng nhất trong quản lý Nhà nước về đất đai nhưng nó cũng là một trong những khâu yếu nhất.

    Văn bản ban hành nhiều mà khôg đồng bộ, toàn diện.

    – Các văn bản có tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn.

    – Nhiều văn bản ban hành không phù hợp với thực tế, thiếu tính khả thi.

    Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta cũng là một nội dung quản lý còn nhiều yếu kém. Các quy hoạch, kế hoạch còn tản mạn, tính khả thi thấp chỉ trú trọng phân khu chức năng mà chưa tính toán để sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và hợp lý.

    Câu 62: Khi thu hồi đất Nhà nước dền bù theo nguyên tắc nào?

    Các nguyên tắc đền bù khi Nhà nước thu hồi đất.

    – Nguyên tắc công bằng, dân chủ: Đây là nguyên tắc cơ bản trong đền bù khi thu hồi đất. Việc thu hồi đất phải dựa vào hiện trạng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, quy định của pháp luật để đối xử công bằng với các đối tượng sử dụng đất có đất bị tu hồi. Phải quán triệt từ tưởng lấy dân làm gốc đề bàn bạc dân chủ, công khai, công khai hoá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đẻ tìm ra giải pháp mực đền bù hợp lý khi các văn bản pháp luật chưa phù hợp.

    – Nguyên tắc pháp chế: Việc đền bù cho người sử dụng đát có đất bị thu hồi phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện, đối tượng được đền bù không được “tách luật” để làm sai ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, chính sách của Nhà nước.

    – Nguyên tắc kết hợp hài hồ các lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng và lợi íc của người sử dụng đất. Khi đền bù nếu chỉ coi trọng lợi tích của Nhà nước thì việc thu hồi đất khó thực hiện. Ngược lại chỉ quan tâm đến lợi ích của người sử dụng đất thì sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia. Nguyên tắc này nếu được thực hiẹn tốt sẽ góp phần ổn định đời sống người sử dụng đất bịt hu hồi đất đồng thời chính sách của Nhà nước được thực hiện hiệu quả.

    – Nguyên tắc đền bù hợp lý.

    Câu 63: Phân tích thẩm quyền của cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp về đất đai. Hiện nay tranh chấp loại nào hay xảy ra nhiều nhất?

    Giải quyết tranh chấp về đất đai là một nọi dung quan trọng trong quản lý Nhà nước vè đất đai.

    Theo khoản 2,3 Điều 38 Luật đất đai 1993 thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai của cơ quan Nhà nước được quy định như sau:

    Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất khôg có giấy chứng nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì do UBND giải quyết theo quy định:

    – UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân hộ gia đình với nhau, giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức giữa tổ chức với tổ chức nếu tổ chức đó thuộc quyền quản lý của mình.

    – UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết các tranh chấp giữa tổ chức với tổ chức, giữa tổ chức, hộ gia đình cá nhân nếu tổ chức đó thuộc quyền quản lý của mình hoặc của Trung ương.

    Trong trường hợp không đồng ý với quyết đinh của UBND đã giải quyết tranh chấp, đương sự có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên. Quyết định của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên cớ hiệu lực thi hành.

    Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì do toà án quyết định.

    Quán triệt từ tưởng lấy dân làm gốc Nhà nước khuyến khích hồ giải đất đai trongnhân dân. Việc quy định thẩm quyền giải quyết cho các cơ quan Nhà nước để tránh tình tạn đơn từ khiếu kiện khiếu nại về đất đai, chuyển lòng vòng chậm được giải quyết ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của nhân dân.

    Về tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến địa giới hành chính. Đ39 Luật đất đai1993 quy định do đó UBND các đơn vị hành chính có tranh chấp cũng phối hợp giải quyết. Trong trường hợp không đạt được sự nhất trí haợc viẹc tự giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định.

    – Nếu việc tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh thì do chính phủ quyết định.

    – Nếu việc tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội quyết định.

    – Hiện nay các tranh chấp về địa giới là tranh chấp xảy ra nhiều nhất do tính lịch sử của đất đai.

    Câu 64: Khi nào một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp. Tại sao trên thực tế thường xảy ra hiện tượng chuyển nhượng ngầm đất đai?

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên tuân theo các điều kiện, nội dung hình thức chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật dân sự và pháp luật đất đai quy định theo đó người sử dụng đất (gọi là bên nhận quyền sử dụng đất) còn người được chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng.

    Một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện:

    – Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng dất phải được lập thành văn bản theo mẫu do Tổng cục địa chính ban hành, đối tượng của hợp đồng hợp pháp.

    – Chủ thể hợp đồng hợp pháp:

    + Người được chuyển nhượng có giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được phép chuyển nhượng.

    + Người được chuyển nhượng có quyền nhận chuyển nhượng.

    Thực tế thường xảy ra hiện tượng chuyển ngầm đất đai là do các nguyên nhân:

    – Các bên muốn trốn khoản thuế chuyển quyền.

    – Do thủ tục chuyển nhượng rườm rà, phức tạp.

    – Do bên chuyển nhượng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu không chuyển nhượng ngầm thì việc chuyển nhượng không thể thực hiện được. Đây là hậu quả của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chạm trễ gây khó khăn cho người sử dụng đất trong việc thực hiện các quyền.

    Câu 65: Hãy nêu các điều kiện sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nướn ngoài. Người nước ngoài có được nhận chuyển nhượng đất đai ở Việt Nam?

    Theo Điều6- Nghị dịnh số81/2001/NĐ- CP ngày 5/11/2002 của Chính phủ về viẹc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mu nhà ở tại Việt Nam thì điều kiện để được mua nàh tại Việt Nam phải có đủ các giấy tờ sau:

    – Hộ chiếu hợp lệ của Việt Nam haợc họ chiếu, giấy tờ hợp lệ của nước ngoài cấp. Trong trường hợp sử dụng hộ chiếu giấy tờ hợp lệ của người nước ngoài thì phải có giấy chứng nhận có quôc tịch Việt Nam haợc giấy xác nhận mất quốc tích Việt Nam hoặc giấy xác nhận đăng ký công dân. Giấy tờ được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận thuộc các đối tượg được mua nhà ở Việt Nam.

    Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành Nhà nước chỉ cho phép chuyển nhượng: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất ở. Điều kiện được nhận chuyển quỳen sử dụng đất được quy định: có nhu cầu sử dụng đất, đất dưới hạn mức vấn đề về hộ khẩu. Chính vì vậy người nươc ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

    Câu 66: Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất phải nộp các khoản tiền gì?Tại sao hiẹn nay có hiện tượng người dân không muốn nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

    Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất người sử dụng đất nộp các khoản tiền sau đây:

    – Lệ phí địa chính (tiền sử dụng đất).

    – Trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa nộp tiền sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất phải nộp tiều sử dụng đất, thuế chuyển quyền.

    – Chi phí cần thiết cho việc đăng ký kê khai đo vẽ nhà, đất.

    Người dân không muốn nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do:

    – Tình trạng vi phạm pháp luật của những cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực tế là vấn đề hạn mức đất theo quy định chỉ áp dụng cho các trường hợp giao đất mới mà không áp dụng đối với các trường hợp đã giao trước Nghị định 04năm2002 nhiều địa phương lại ấp dụng hạn mức khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với những trường hợp trước đó kể cả đó là dất thổ cư gia đình đã sinh sống nhiều đời.

    – Thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    – Tiền sử dụng đất phải nộp khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Câu 67: Quy hoạch sử dụng đất nhằm mục đích gì? Tại sao một quy hoạch sử dụng đất có thể được điều chỉnh nhiều lần. Phân tích ưu và nhược điểm của việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết?

    Quy hoạch sử dụng đấtchính à sự tính toán phần đất đai cụt hể và hợp lý về sĩ lượng, chất lượng vị trí không gian cho các mục tiêu kinh tế xã hội của cả nước và từng địa phương ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

    Nhà nước đặt vấn đề quy hoạch sử dụng đất vì các mục đích cơ bản sau đây.

    – Sử dụng đất có hiệu quả cao nhất.

    – Bảo đẩm đất được sử dụng tiết kiệm.

    – Bảo đảm cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

    – Đưa vào sử dụng các diện tích chưa sử dụng.

    – Phân khu chức năng giải quyết các vấn đề giao thông.

    – Chực hiện các chính sách đầu tư, xây dựng sản xuất theo ý đồ của Nhà nước . . .

    Thực tế là các quy hoạch sử dụng đất ơ nước ta thường bị điều chỉnh nhiều lần. Hiện trạng trên bắt nguồn từ sự thay đổi các điều kiện kinh tế xã hội trong từng thời kỳ khác nhau, sự biến động về chính sách phát triển, sự yếu kém trong công tác quy hoạch dẫn đến các quy hoạch khi thực hiện không hiệu quả và phải điều chỉnh.

    Việc điều chỉnh các quy hoạch chi tiết có những ưu và nhược điểm riêng.

    *Ưu điểm: – Tạo ra tính thiết thực, tính khả thi của quy hoạch. Quy hoạch ngày càng phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội.

    *Nhược điểm:

    – Chi phí tốn kém cho công tác ưuy hoạch.

    – Làm cho các dự án chậm được triển khai, đóng băng các dự án.

    – Tạo kẽ hở cho những tiêu cự trong quản lý Nhà nước về đất đai.

    – Thời gian điều chỉnh quy hoạch kéo dài có thể quy hoạch được xây dựng lại không còn thiết thực khả thi và phải tiếp tục điều chỉnh.

    Câu 68: Anh (chị) có nhận xét gì về thị trường bất động sản ở nước ta hiện nay?

    Thị trường bất đông sản ở nước ta đã được hình thành từ cuối những năm 1980 dưới các hình thức chuyển nhượng mua bán dưới dạng “xác nhậ tay” mà không cần thông qua các thủ tục pháp lý. Điều đó đã làm cho thị trường bất đông sản vốn đã phức tạp lạ càng thêm rối ren. Để điều tiết thị trường bất đông sản hoạt động theo đúng quy luật thị trường Nhà nước đã có những công cụ và phương thức điều tiết thiết thực, thừa nhận đất đai là hàng hoá đặc biệt ban hành các quy định về đăng ký bất đông sản, thuế chuyển quyền, giá đến bù đất khi thu hồi giải phóng mặt bằng. . Tuy vậy thị trường bất đông sản của nước ta vẫn còn nhiều “vấn đề”.

    Cho đến nay thị trường bất đông sản ở nước ta vấn là thị trường phi chính quy. Việc mua bán,trao đổi đất đai, nhà ở chủ yếu diễn ra dưới các hình thức viết trao tay mà khong có xác nhận của chính quyền sở tại ở cả thành thị và nông thôn và cả ở những nơi đã quy hoạch đang quy hoạch và còn chưa quy hoạch. Việc chậm chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cho các chủ sử dụng đất không có điều kiện pháp lý để tham gia giao dịch chuyển quyền sử dụng đất. Do đó hình thức chuyển nhượng này đầy những yếu tố rỉu ro mà Nhà nước không thể kiểm soát nổi dẫn tới tình trạng phát triển tự phát, giao dich ngầm – phi chính quy về bất đông sản, phát triển theo hướng đầu cơ, thiếu lành mạnh gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước, đồng thời làm phát sinh nhiều tranh chấp dẫn đến khiếu kiện nhất là khiếu kiện trong việc bồi thười thiệt hạ khi Nhà nước thu hồi đất.

    Trong quá trình vận động, để đạt được những kết quả hữu hiệu mà cac chủ thể tham gia hoạt động thì chúng ta lại thiết một yếu tố hết sức cơ bản là vấn đề thông tin thị trường bất động sản như thông tin về quy hạch, về giao đất, thu hồi đất. Những thông tin sai lệch về quy hoạch về kế hoạch, về sự thay đổi chính sách của Nhà nước đã làm cho các quan hệ cung cầu biến đụng mạnh tạo ra các “cơn sốt” về đất trong đó có cả những “cơn sốt ảo” về đất.

    Thị trường bất động sản ở nước ta chưa được định hướng bởi một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, bởi hệ thống các cơ quan quản lý có đủ năng lực để phát triển toàn diện lành mạnh.

    Các giải pháp.

    – Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    – Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai.

    – Quy định rõ ràng về chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý đất đai.

    – Xây dựng khung giá cho từng loại đất phù hợp.

    Câu 69: Chính quyền xã có nhiệm vụ gì trong quản lý Nhà nước về đất đai. Nhân xét về tình hình quản lý của chính quyền cấp xã?

    Theo quy định của pháp luật hiện hành thì UBND xã là cấp quản lý và sử dụng 5% đất công ích do HDND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. UBND xã có thể cho hộ gia đình, cá nhận thuê để sử dụng vào sử dụng nông nghiệp nuôi trồng thuỷ dản . Tiền thu được từ việc cho thuê đất được sử dụng cho nhu cầu công ích của cấp xã theo quy định của pháp luật hoặc lấy tiền đó xây dựng các công trình tại xã khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. UBND không được dựng quỹ đất 5% để giao cho nhân khẩu tăng thêm hàng năm trong xã.

    UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội nông dân, các tổ chức thành viên khác của Mặt trên tổ quốc và công dân hồ giải các tranh chấp đất đai. UBND xã lập và quản lý sổ địa chính, đăng ký vào sổ địa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về việc sử dụng đất.

    Chính quyền cấp xã trong những năm qua nhìn chung đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý của mình. Diện tích quỹ đất công ích đã được cho thuê đem lại những hiệu quả thiết thực đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, vấn đền là có những chính quyền cấp xã đã cấp đất trái pháp luật, sử dụng tiền cho thuê 5% quỹ đất công tích còn có nhiều vấn đề phải nghiên cứu, xem xét.

    [right-post]

    Bộ câu hỏi ôn thi Luật Đất đai có đáp án
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • 1. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ

    Nghĩa vụ theo hợp đồng
    (nv phát sinh theo ý chí của chủ thể thgia qhệ nv)
    Nghĩa cụ ngoài hợp đồng
    (nv phát sinh theo ý chí của nhà nước)
    Nv phát sinh trên cơ sở thỏa thuận giữa các chủ thể trong qhệ ngvụ.
    Quyền và nv được xác lập hoàn toàn phụ thuộc vào ý chỉ của chủ thể tham gia qhệ nv
    Nv phát sinh theo ý chí của nhà nước
    Gồm:
             Thực hiện cv ko có ủy quyền
             Chiếm hữu, sử dụng ts or được lợi về ts ko có căn cứ pháp luật.
             Gây thiệt hại do hv trái pháp luật.

    2. căn cứ đối tượng của nghĩa vụ

    Đối tượng là ts
    Đối tượng là cv
    Đối tượng là cv phải thực hiện
    Đối tượng là cv ko được thực hiện
    Bên có nv phải chuyển giao một ts cho bên có quyền
    Bên có nv phải thực hiện một cv được xđịnh cụ thể trước bên có quyền
    Bên có nv ko được thực hiện một cv được xđịnh cụ thể trước bên có quyền

    3. căn cứ phạm vi chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ và mối liên quan giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ

    NVDS riêng rẽ
    NVDS liên đới
             Có nhiều chủ thể cùng đứng về một bên của qhệ nv.
             Quyền và nv của các chủ thể hoàn toàn độc lập với nhau
             Nhiều chủ thể cùng đứng về một bên của quan hệ  nghĩa vụ.
             Quyền và nv của các chủ thể có mối liên hệ chặt chẽ
    + TH có nhiều ng mang quyền liên đới: 1 trog số những ng mang quyền có thể yêu cầu ng mang nghĩa vụ phải th.hiện toàn bộ nd của nv đối với mình -> quan hệ  nghĩa vụ chấm dứt cả với những ng khác.
    -> phát sinh qhệ nv hoàn lại giữa ng có quyền liên đới đã nhận toàn bộ nd nv với những ng còn lại
    + TH có nhiều ng có nv liên đới: từng ng th.hiện phần nv của mình. Or 1 ng có thể th.hiện tòan bộ nv -> qhệ nv chấm dứt cả với những ng khác.
    1 ng th.hiện xong phần nv của mình, những ng khác chưa xong -> qhệ nv chưa chấm dứt

    4. căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc giữa các nghĩa vụ 

    nghĩa vụ chính
    nghĩa vụ phụ
    Tồn tại hiệu lực một cách độc lập ko phụ thuộc vào nghĩa vụ khác
    Sự tồn tại hiệu lực của nghĩa vụ phụ thuộc vào nghĩa vụ chính

     5. Căn cứ đặc điểm đối tượng của nghĩa vụ

    nghĩa vụ thực hiện được theo phấn
    nghĩa vụ ko thực hiện được theo phần
    Đối tượng của nghĩa vụ là ts có thể chia được or công việc có thể được thực hiện theo nhiều công đoạn khác nhau
    Đối tượng của nghĩa vụ là vật ko chia được or công việc phải thực hiện cùng lúc


    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • 1.     Quyềnđối với hình ảnh của cá nhân trong BLDS 2005

                 Quyền cá nhân đối với hình ảnh là một nội dung quan trọng trong quyền nhân thân của con người. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại Điều 31 BLDS 2005 đã thể hiện sự tiến bộ của BLDS Việt Nam bởi lẽ không phải ở nước nào quyền của cá nhân đối với hình ảnh cũng được quy định cụ thể trong BLDS như vậy. Ngay như BLDS tiêu biểu nhất thế giới hiện nay là BLDS của Pháp cũng không có điều nào quy định về quyền đối với hình ảnh của cá nhân mà quyền này chỉ được pháp luật Pháp ghi nhận thông qua án lệ. Điều 31 BLDS 2005 quy định: “1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; 2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác; 3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.

               Trong quy định này, BLDS 2005 đã bổ sung thêm một số nội dung mới so với BLDS 1995. Đó là việc quy định rõ việc sử dụng hình ảnh của người dưới 15 tuổi phải được cha, mẹ hoặc người đại diện của người đó đồng ý, nhằm điều chỉnh hiện tượng một số lịch in hình trẻ em mà không xin phép. Như vậy, theo quy định về quyền đối với hình ảnh của cá nhân tại Điều 31 BLDS 2005 thì về nguyên tắc cá nhân đều có quyền đối với hình ảnh của mình. Mỗi người đều có quyền cho hay không cho người khác sử dụng hình ảnh của mình. Nếu chưa được sự đồng ý mà sử dụng đã là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Trường hợp người trong ảnh đã chết hoặc mất trí, không chủ động quyết định được hoặc đối với hình ảnh của trẻ dưới 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con (đã thành niên) hoặc người đại diện của họ đồng ý. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 31 BLDS 2005, pháp luật còn nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của cá nhân mà xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và uy tín của người có ảnh.

                 Thông qua quy định về quyền đối với hình ảnh của cá nhân tại Điều 31 BLDS 2005 có thể thấy pháp luật dân sự Việt Nam đã thực sự thể hiện sự quan tâm, tôn trọng bảo vệ của pháp luật đối với hình ảnh của cá nhân.

            2.     Quyền đăng hình của báo chí

                   Theo Điều 4 Luật báo chí thì công dân có quyền được thông tin qua báo về tình hình mọi mặt của đất nước và thế giới. Tương ứng với quyền đó, báo chí có nhiệm vụ thông tin trung thực, làm diễn đàn ngôn luận của nhân dân. Trong tác nghiệp, báo chí có quyền đăng hình để chuyển tải thông tin tới người dân. Theo khoản 6 Điều 4 Nghị định 133/HĐBT ngày 20/4/1992 của Hội đồng bộ trưởng, thì việc đăng, phát ảnh người thật phải được chủ nhân hoặc người được giao quyền sử dụng đồng ý “trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn văn nghệ, thể dục thể thao”. Có thể thấy quy định này theo xu hướng bảo vệ quyền hình ảnh rất chặt chẽ trong pháp luật Pháp: việc đăng phát hình ảnh không cần sự đồng ý của chủ nhân chỉ giới hạn trong các hoạt động chính thức và các sinh hoạt tập thể. Tuy nhiên, việc liệt kê đóng kín các trường hợp này sẽ dẫn đến sự hạn chế đáng kể trong hoạt động của báo chí, mâu thuẫn với quyền được thông tin của công dân về mọi mặt của đời sống xã hội. Nhận thức được vấn đề này, Nghị định 21/2002/NĐCP ngày 26/4/2002 của Chính phủ đã điều chỉnh vấn đề này theo hướng tạo thuận lợi cho cơ quan báo chí. Khoản 3 Điều 5 của nghị định này quy định, báo chí “không được đăng, phát ảnh của cá nhân mà không có chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín danh dự của cá nhân đó”, trừ một số trường hợp cụ thể . Theo quy định này thì báo chí có quyền đăng ảnh của cá nhân mà không cần xin phép nhưng phải có ghi chú thích hợp và không làm ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó. Việc đăng, phát hình ảnh không hạn chế trong các sự kiện chính thức và hoạt động tập thể mà có thể bao gồm cả sinh hoạt hàng ngày và đời sống riêng tư. Khoản 3 Điều 5 nghị định này đã chủ động loại bỏ yêu cầu phải có được sự đồng ý của chủ nhân hoặc người được giao quyền sử dụng hình ảnh.

                 Như vậy có thể thấy rằng, quy định trên tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 21/2002/NĐ-CP dường như không phù hợp với tinh thần của BLDS 2005 về quyền đối với hình ảnh của cá nhân. Dù khoản 2 Điều 5 của nghị định này nghiêm cấm việc đăng, phát hình ảnh khỏa thân có tính chất khiêu dâm hay hình ảnh không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam nhưng điều này không đủ để bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Việc pháp luật cho phép báo chí có quyền đăng phát hình ảnh về đời sống riêng tư mà không cần có sự đồng ý của người đó là hoàn toàn không phù hợp với tinh thần bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân trong BLDS 2005. Chính những quy định này sẽ dẫn đến thực trạng báo chí có thể lợi dụng quyền này để xâm phạm bí mật đời tư, đăng phát những hình ảnh câu khách, chạy theo thị hiếu tầm thường của một số độc giả.

            3.     Phương thức bảo vệ quyền cá nhân đối với hình ảnh.

                  Quyền cá nhân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân quan trọng. Khác các quyền dân sự khác, quyền nhân thân thể hiện trong nhiều lĩnh vực đời sống của cá nhân, đặc biệt có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần của cá nhân. Mỗi hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người bị xâm phạm. Vì vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong trường hợp bị xâm phạm có ý nghĩa rất quan trọng.
                Trước hết, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân có tác dụng kịp thời ngăn chặn các hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân, bảo đảm trật tự pháp lý xã hội và giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân. Mặt khác, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân tạo điều kiện thuận lợi cho các quyền nhân thân của cá nhân được thực hiện trên thực tế, khắc phục những hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt góp phần bảo đảm đời sống tinh thần cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho cá nhân lao động và sáng tạo. Tuy vậy, quyền nhân thân của cá nhân có những điểm khác các quyền dân sự khác như không thể trị giá được bằng tiền, không thể chuyển giao cho người khác, trừ những ngoại lệ do pháp luật quy định… Vì vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong trường hợp bị xâm phạm có một số khác biệt với việc bảo vệ các quyền dân sự khác như các biện pháp bảo vệ được áp dụng đa dạng, việc khắc phục thiệt hại về quyền nhân thân bị xâm phạm trong một số trường hợp phải do chính những người hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân phải thực hiện, việc bồi thường thiệt hại khắc phục thiệt hại về quyền nhân thân không thể tính toán cụ thể, chỉ là tương đối và mang tính giáo dục là chủ yếu…
                Ngoài ra, hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân chịu sự ảnh hưởng rất lớn của cả các quy định pháp luật và những điều kiện xã hội. Để nâng cao được hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân ngoài góc độ pháp lý thì vấn đề này cũng cần phải được quan tâm nghiên cứu, xem xét kỹ cả dưới góc độ xã hội.
                 Để đảm bảo cho quyền nhân thân nói chung và quyền của cá nhân đối với hình ảnh nói riêng được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, thì pháp luật quy định: “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:
    1. Tự cải chính;
    2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;
    3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại” (Điều 25 BLDS 2005).
              Theo quy định tại điều luật này thì cá nhân có quyền đối với hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm được áp dụng các biện pháp dân sự sau để bảo vệ quyền của mình như tự cải chính; yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.
                “Tự mình cải chính” là biện pháp biện pháp cho phép người có quyền đối với hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm kịp thời bảo vệ quyền của mình, hạn chế được hậu quả thiệt hại cả về vật chất và tinh thần do những tin tức không đúng ra gây ra.
               “Yêu cầu người có vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm” là biện pháp bảo vệ quyền của cá nhân có thể áp dụng trong mọi trường hợp quyền đối với hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm. So với biện pháp tự cải chính thì biện pháp này được áp dụng trong một phạm vi rộng hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này thông thường chỉ có hiệu quả trong trường hợp người có hành vi xâm phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân sớm nhận thức được hành vi trái pháp luật của họ. Nếu người có hành vi xâm phạm không nhận thức được hành vi trái pháp luật của họ thì người có quyền đối với hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm phải áp dụng biện pháp bảo vệ khác mới bảo vệ được quyền lợi của mình.
                “Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm” cũng là biện pháp bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân có thể áp dụng. Đây là biện pháp bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân có hiệu quả cao vì sau khi nhận được yêu cầu thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp đủ mạnh do pháp luật quy định buộc người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền đối với hình ảnh của cá nhân chấm dứt hành vi xâm phạm hình ảnh của cá nhân đó. Trên thực tế, biện pháp này thường được người có hình ảnh cá nhân bị xâm phạm áp dụng trong trường hợp đã yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật nhưng không được đáp ứng. Trong các cơ quan Nhà nước áp dụng biện pháp dân sự thì Tòa án được xem là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân có hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân thông qua việc yêu cầu Tòa án bảo vệ được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và đòi hỏi người có quyền với hình ảnh bị xâm phạm yêu cầu Tòa án bảo vệ phải chứng minh được quyền đối với hình ảnh của mình bị xâm phạm và hành vi xâm phạm đó là trái pháp luật.
               “Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại” là biện pháp bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân được thực hiện khi người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền này của cá nhân gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho họ. Nếu có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền đối với hình ảnh của cá nhân gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần thì cá nhân đó có quyền yêu cầu người có hành vi trái pháp luật bồi thường thiệt hại. Nếu người có hành vi trái pháp luật đó không chịu bồi thường thì người có quyền quyền đối với hình ảnh cá nhân bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.

               Như vậy có thể nhận thấy rằng, bảo vệ quyền nhân thân nói chung và bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân nói riêng có thể được chia thành hai phương thức, đó là: Tự bảo vệ và bảo vệ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi quyền đối với hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm thì cá nhân đó có quyền lựa chọn biện pháp bảo vệ phù hợp để giúp cho việc bảo vệ quyền của cá nhân đạt được hiệu quả.

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  •  Hướng dẫn trả lời câu hỏi bài tập Luật môn Tư tưởng Hồ Chí Minh: Vì sao Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành thành lập Quốc tế Cộng Sản?

    Trả lời:

       1. Quốc tế Cộng sản do Liên minh sáng lập ( do LeNin sáng lập )

    quốc tế cộng sản, hồ chí minh, bài tập luật học
    Nguyễn Ái Quốc tại ĐH lần XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua

          Tại Đại hội đại biểu Đảng Xã hội Pháp lần thứ 18 (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lê-nin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và cũng là người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

    2 . Quốc tế Cộng sản là 1 tổ chức khác  tổ chức quốc tế I, II ( không những nhằm ủng hộ đấu tranh cho nhân dân thế giới mà còn đấu tranh cho nhân dân thuộc địa ) 

          Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nói với nữ đồng chí Rôdơ (Rose), người ghi biên bản tốc ký đại hội khi cô ấy hỏi vì sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III rằng: Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác! Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  •  Hướng dẫn trả lời câu hỏi bài tập môn Thương Mại 1: Công ty hợp danh không có quyền thuê giám đốc?

    Đúng.

    Khoản 1, Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2014 ghi rõ:  Tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.

    Mặt khác tại điềm b, khoản 2 điều Điều 182. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn.
    Thành viên góp vốn có các nghĩa vụ sau đây: Không được tham gia quản lý công ty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công ty.

    Công ty hợp danh có những ràng buộc mà chỉ thành viên mới đáp ứng được. “Điều lệ công ty quy định khác” là không cho giám đốc hoặc tổng giám đốc kiêm nhiệm mà chỉ giữ chức chủ tịch hội đồng thành viên thôi.

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • – Quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
    – Đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có người đại diện theo pháp luật
    – Báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
    – Đề nghị Thẩm phán tiến hành các công việc sau: Thu thập tài liệu, chứng cứ; Tuyên bố giao dịch vô hiệu và quyết định thu hồi tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp; Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp xử phạt hành chính; chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật
    – Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự

    Căn cứ vào điều 16 Luật Phá sản 2014, quy định về Quyền, nghĩa vụ của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Cụ thể như sau:

    Điều 16. Quyền, nghĩa vụ của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

    1. Quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, gồm:

    a) Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã;

    b) Lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ;

    c) Bảo quản tài sản; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của Thẩm phán; ngăn chặn việc tẩu tán tài sản; tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi bán, thanh lý tài sản;

    d) Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật;

    đ) Được thuê cá nhân, tổ chức thực hiện công việc theo quy định của pháp luật;

    e) Đề xuất với Thẩm phán về việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm chi phí phá sản;

    g) Bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán để bảo đảm chi phí phá sản;

    h) Tổ chức việc định giá, thanh lý tài sản theo quy định của Luật này; báo cáo cơ quan thi hành án dân sự, thông báo đến người tham gia thủ tục phá sản có liên quan về việc giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện thanh lý tài sản;

    i) Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng.

    2. Đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có người đại diện theo pháp luật.

    3. Báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

    4. Đề nghị Thẩm phán tiến hành các công việc sau:

    a) Thu thập tài liệu, chứng cứ;

    b) Tuyên bố giao dịch vô hiệu và quyết định thu hồi tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp;

    c) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp xử phạt hành chính; chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật.

    5. Được hưởng thù lao và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

    6. Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự; chịu trách nhiệm trước Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

    Vai trò của chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là gì?
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Tổng hợp một số câu hỏi bán trắc nghiệm và 1 số câu hỏi phụ được bạn Vân Tém ghi lại được trong giờ thảo luận môn Luật Thương Mại.

    1. Tất cả các doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đăng kí Doanh nghiệp mới được hoạt động ?

    Sai . 1 số Doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện phải có giấy chứng nhận kinh doanh ngành ngành nghề có điều kiện thì mới được hoạt động chứ không chỉ cần mỗi Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp

      VD: công ty luật ko phải mang hồ sơ đến cơ quan đăng kí kinh doanh nữa mà sẽ mang hồ sơ tới Bộ tự pháp làm thủ tục thành lập doanh nghiệp

    2. Cổ đông liên tục chuyển nhượng cổ phần => đến kì họp cổ đông => mời ai ? cách gửi giấy mời họp? Điều kiện hợp lệ của cuộc họp ?

    Mời cổ đông có tên trong danh sách cổ đông. Cách gửi: bằng mọi cách: thư, giấy mời, email, đt, thông báo,… Luật ko quy định cụ thể => cứ làm. Điều lệ quy định: làm theo điều lệ. Điều kiện hợp lệ của cuộc họp thì trong luật có.

    3. Ban kiểm soát có quyền yêu cầu triệu tập cuộc họp đại hội đồng cổ đông cổ tức hay không ? trong trường hợp nào ?

    4. Công ty TNHH nhà nước 1 thành viên có giống công ty TNHH 1 thành viên không ?

    5. Một người có thể làm giám đốc hoặc tổng giám đốc của nhiều công ty hay không ? 

     đúng 

    6. Giám đốc hoặc tổng Giám đốc công ty TNHH phải sở hữu ít nhất 10% vốn điền lệ của cty ?

    Sai. nếu có năng lực hoặc ít nhất 10%, Theo Điều 65 và Điều 81

    7. Trong ban kiểm soát phải có ít nhất một thành viên trong ban kế toán ?

    8. Mọi thành viên công ty hợp danh đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty đó ?

    9. Doanh nghiệp Hợp tác xã mất khả năng thanh toán có thể ko đồng nghĩa vs việcDoanh nghiệp Hợp tác xã ko còn tiền để thanh toán nợ ?

    Sai. “mất khả năng thanh toán” và “không còn tiền để thanh toán nợ” là hai khái niệm khác nhau. mất khả năng thanh toán là ko thực hiện thanh toán nợ trong vòng 03 kể từ ngày đến hạn thanh toán. còn “không còn tiền để thanh toán nợ” thì chỉ cần là ko có tiền để thanh toán nợ ngay thời điểm đó thôi.

    10. Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là thủ tục bắt buộc khi giải quyết yêu cầu phá sản ?

     Sai. Thủ tục phá sản rút gọn ở Điều 105 Luật Phá sản không yêu cầu bước phục hồi hoạt động kinh doanh đã cho phá sản rồi

    11. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được quyền tự do kinh doanh sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản

    Sai. Có thể hạn chế nếu hd đó gây ảnh hg tới trả nợ

    12. Trong mọi trường hợp, chủ Doanh nghiệp tư nhân bị phá sản đều bị cấm thành lập quản lí Doanh nghiệp

    Sai. Chủ Doanh nghiệp tư nhân bị phá sản rồi sau đó vẫn có quyền thành lập, thành lập quản lý DN vì Điều 18 Luật DN ko cấm và Điều 130 Luật PS chỉ quy định như vậy về Doanh nghiệp tư nhân thôi.

    13. Mọi thương nhân đều có thể được giải quyết phá sản theo quy định của Luật phá sản 2014

    14. Trường Đại học luật có được góp vốn vào Hợp tác xã không ?

    15. 1 cá nhân có thể thành lập nhiều Doanh nghiệp tư nhân hay không?

    16.Người đang chấp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo có quyền thành lập Doanh nghiệp ko ?

    17. Người vừa chấp hành xong hình phạt tù có quyền thành lập Doanh nghiệp không ?

     

    Một số câu hỏi bán trắc nghiệm môn Luật thương mại
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  •  Điều kiện thành lập một doanh nghiệp được quy định tại điều 28 Luật doanh nghiệp 2014. Cụ thể như sau:

    Về chủ thể: 

    Tổ chức, cá nhân tham gia có đầy đủ năng lực hành vi dân sư và không thuộc đối tượng bị cấm ( thành lập ) hoặc ( tham gia ) mà nhà nước quy định.

    Về vốn:

     Vốn đầu tư phù hợp với lĩnh vực, loại hình Doanh nghiệp;  và đối với Doanh nghiệp kinh doanh một ngành nghề cần có vốn pháp định ( Vốn điều lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định )

    Về ngành nghề kinh doanh:

    Ngành nghề đó không bị pháp luật cấm; trừ trường hợp những ngành nghề đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề ( thường đòi hỏi chứng chỉ hành nghề đối của những người đứng đầu doanh nghiệp )

    Trụ sở, địa chỉ Doanh nghiệp đảm bảo các điều kiện: 

    Thuộc lãnh thổ Việt Nam, thuộc quyền sử dụng hợp pháp.

    Tên Doanh nghiệp: 

    Đúng, không trùng với tên Doanh nghiệp khác.

    Hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ và nộp đầy đủ lệ phí đăng kí Doanh nghiệp

    Trình tự thủ túc đăng kí kinh doanh quy định tại điều 27 của Luật này.

    Điều 27. Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp

    1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền gửi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Luật này cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.

    2. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ. Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì phải thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ.

    3. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, sự phối hợp liên thông giữa các cơ quan trong cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký lao động, bảo hiểm xã hội và đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử.


    Điều 28. Cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

    1. Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không bị cấm đầu tư kinh doanh;

    b) Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định tại các Điều 38, 39, 40 và 42 của Luật này;

    c) Có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ;

    d) Nộp đủ lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định pháp luật về phí và lệ phí.

    2. Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, doanh nghiệp được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và phải trả lệ phí theo quy định pháp luật về phí và lệ phí.

    Điều kiện thành lập Doanh nghiệp
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Khẳng định trên là Đúng vì:

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 42 bộ Luật Tố tụng Hình sự 

    Điều 42. Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng

    Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

    1. Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo;

    2. Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;

    3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

    Thẩm phán bị thay đổi nếu là người thân thích của người bị hại
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default