HR Law

Chia sẻ kiến thức pháp lý nhân sự

  • Tính đến tại thời điểm ngày 03/03/2024, hệ thống văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành có tác động đến công tác quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp bao gồm:

    1. Bộ luật Lao động 2019 (hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2021) và các văn bản Nghị định/Thông tư hướng dẫn thi hành gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Thông tư 20/2023/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành25/12/2023
    Nghị định 70/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam18/09/2023
    Thông tư 09/2023/TT-BYT sửa đổi Thông tư 14/2013/TT-BYT hướng dẫn khám sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành20/06/2023
    Nghị định 83/2022/NĐ-CP quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý20/10/2022
    Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động01/07/2022
    Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng17/01/2022
    Thông tư 19/2021/TT-BLĐTBXH về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành30/01/2022
    Thông tư 04/2021/TT-BCT quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc trong hầm lò do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành01/09/2021
    Nghị định 152/2020/NĐ-CP về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam15/02/2021
    Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động01/02/2021
    Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu01/01/2021
    Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành01/01/2021
    Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành15/03/2021

    2. Tổng hợp Án lệ về lao động đang có hiệu lực

    Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. (Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP)

    Tên văn bảnNgày hiệu lực
    Ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-CA công bố Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 18/8/2023.18/8/2023
    Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao17/10/2018

    3. Ngoài Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật về lao động ở trên, còn có một số văn bản luật dưới đây có tác động trực tiếp đến công tác quản trị nhân sự tại doanh nghiệp:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 201501/07/2016
    Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
    Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 201401/07/2015Luật này quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
    Luật Thuế thu nhập cá nhân 200701/01/2009Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
    Luật Việc làm năm 201301/01/2015Luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
    Luật Công đoàn năm 201201/01/2013Luật này quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền, trách nhiệm của Công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với Công đoàn; bảo đảm hoạt động của Công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.
    Luật Bảo hiểm xã hội năm 201401/01/2016Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 202001/01/2022Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; chính sách đối với người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    4. Ngoài các văn bản pháp luật về lao động ở trên còn một số các văn bản khác có liên quan nhưng ít tác động đến công tác quản trị nhân sự gồm có:

    Tên văn bảnNgày hiệu lựcNội dung liên quan đến công tác nhân sự
    Luật người khuyết tật 201001/01/2011Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người khuyết tật
    Luật Trẻ em 201601/06/2017Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên
    Bộ luật Tố tụng Dân sự 201501/07/2016Một số quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động
    Luật Bình đẳng giới 200601/07/2007Một số quy định liên quan đến bình đẳng giới và lao động nữ
    Luật người cao tuổi năm 200901/07/2010Một số quy định liên quan đến sử dụng lao động là người cao tuổi
    Các văn bản quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên

    Trên đây là danh sách tổng hợp văn bản pháp luật về lao động đang có hiệu lực thi hành năm 2024. HRLegal.vn sẽ cập nhật thường xuyên khi có các văn bản pháp lý nhân sự mới ban hành, sửa đổi, bổ sung. Mọi vướng mắc, vui lòng liên hệ với HR Legal để được tư vấn pháp luật lao động miễn phí.

  • Bản tin pháp lý nhân sự – cập nhật thông tin các văn bản pháp luật lao động mới ban hành, sắp hết hiệu lực, bị thay thế, sửa đổi bổ sung.

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    1. Tài liệu chứng minh được cơ quan chức năng nước tiếp nhận lao động cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài đối với bên nước ngoài lần đầu hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam là giấy tờ sau:

    – Trường hợp bên nước ngoài là người sử dụng lao động, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp cho người sử dụng lao động thể hiện lĩnh vực kinh doanh phù hợp với ngành, nghề công việc tuyển dụng lao động nước ngoài, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Đối với nước có quy định về điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài thì cung cấp 01 bản sao tài liệu thể hiện người sử dụng lao động đáp ứng quy định này, kèm bản dịch tiếng Việt.

    – Trường hợp bên nước ngoài là tổ chức dịch vụ việc làm, tài liệu chứng minh bao gồm:

    * 01 bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ khác tương đương do cơ quan chức năng cấp hoặc xác nhận cho tổ chức dịch vụ việc làm thể hiện ngành, nghề kinh doanh bao gồm dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * 01 bản sao thỏa thuận hợp tác hoặc văn bản đề nghị chuẩn bị nguồn hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam của người sử dụng lao động cho tổ chức dịch vụ việc làm, kèm bản dịch tiếng Việt;

    * Tài liệu chứng minh đối với người sử dụng lao động quy định tại điểm a khoản này.

    2. Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc.

    3. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động.

    Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ 15/5/2024.

    Xem và tải về Thông tư 02/2024/TT-BLĐTBXH: Bản PDF – Bản Docx

    Ngày 23/02/2024

    Ngày 23/02/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2024. Các chế độ về quỹ tiền lương, trả lương, thù lao, tiền thưởng quy định tại khoản 2 Điều 1, các khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 và khoản 10 Điều 2 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

    Xem văn bản

  • HRLegal tổng hợp các tài liệu, biểu mẫu các văn bản pháp lý trong công tác quản trị nhân sự bắt buộc phải có theo quy định pháp luật, gồm có:

    • Mẫu hợp đồng lao đồng
    • Mẫu Thỏa ước lao động tập thể
    • Mẫu Nội quy lao động
    • Mẫu Quy chế dân chủ và đối thoại tại nơi làm việc
    • Mẫu Quy chế đánh giá hoàn thành công việc
    • Mẫu sổ quản lý lao động

    Các bạn tải về tại link drive này nhé. Nếu bạn tư vấn soạn thảo các văn bản pháp lý nhân sự, vui lòng liên hệ HRLegal.vn để được giải đáp nhé

  • Bảng so sánh điểm giống nhau và khác nhau giữa xã viên Hợp tác xã và thành viên công ty.

    XÃ VIÊN HTX

    THÀNH VIÊN CÔNG TY

    Giống nhau
    Đều là người góp vốn và trở thành chủ sở hữu của tổ chức kinh tế
    Khác nhau: Chủ đầu tư
    Xã viên là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, hộ gia đình, tổ chức.
    Tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài
    Góp vốn
           Xã viên có thể góp vốn hoặc góp sức
           Pháp luật hạn chế mức vốn tối đa của mỗi xã viên ở mọi thời điểm không vượt quá 30% vốn điều lệ
           Thành viên công ty bắt buộc phải góp vốn
           Không bị hạn chế mức vốn góp tối đa
    Quản lý
           Mọi xã viên đều có quyền biểu quyết.
           Mọi xã viên đều có quyền tham gia bộ máy điều hành HTX, không phụ thuộc mức vốn góp.
           Quyền biểu quyết như nhau, thông qua nguyên tắc mỗi người 1 phiếu biểu quyết
           Một số thành viên công ty không có quyền biểu quyết (thành viên góp vốn trong công ty hợp danh).
           Quyền tham gia bộ máy quản lý có thể bị hạn chế bằng điều kiện về mức vốn góp
           Quyền biểu quyết phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp  (trừ trường hợp là thành viên hợp danh của công ty hợp danh).
    So sánh xã viên Hợp tác xã và thành viên Công ty
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Mẫu bài tập Tố tụng Hình sự  – Đây là đề thi của khoá nào trước (ko rõ) post lên cho mọi người tham khảo. Sưu tầm trên groups K38 trường Đại học Luật Hà Nội.

    I.Những khẳng định sau đây Đúng hay Sai?

    1. Đối tượng của xét xử phúc thẩm có thể là phần bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
    2. Trong mọi trường hợp, kiểm sát viên của Viện kiểm sát đã kháng nghị phúc thẩm đều phải tham gia phiên tòa phúc thẩm.
    3. Cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra nếu bị can chết trong giai đoạn điều tra.
    4. Người đại diện hợp pháp của bị can chưa thành niên không thể đồng thời tham gia tố tụng với tư cách bào chữa cho bị can đó.

    II. Viện kiểm sát cấp huyện truy tố A về tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 2 điều 135 Bộ luật Hình sự (mức hình phạt được đình chỉ đến 10 năm tù). Tòa án cùng cấp mở phiên tòa xét xử A theo điều khoản Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát đã truy tố.

    1. Nếu trong khi tiến hành xét xử, phát hiện vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án huyện khác cùng tỉnh, Hội đồng xét xử có phải chuyển vụ án hay không?
    2. Khi luận tội nếu có căn cứ, Kiểm sát viên có quyền đề nghị Hội đồng xét xử chuyển sang khoản 3 điều 135 (mức hình phạt luật định đến 15 năm tù) để xét xử A hay không? Tại sao?
    3. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, người đại diện hợp pháp của người bị hại chưa thành niên kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, ngoài ra không có kháng cáo, kháng nghị nào khác. Hội đồng xét xử nhận thấy hình phạt mà toà án cấp sơ thẩm tuyên với A là quá nhẹ thì phải giải quyết thế nào? Tại sao?
    4. Giả sử Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị yêu cầu áp dụng khoản 4 điều 135 (mức phạt tù từ 12-20 năm tù), Hội đồng xét xử phúc thẩm nếu thấy có căn cứ áp dụng theo khoản 4 điều 135 Bộ luật Hình sự thì phải giải quyết thế nào? Tại sao?

    III. Anh (chị) hãy giải thích tại sao khoản 2 điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự lại quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa nếu bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, không mời người bào chữa

     

    Đáp án do các bạn trên K38 làm:

    I. Câu 1 đúng ( điều 234,235,240 ) 

    Khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị mà không có kháng cáo kháng nghị thì bản án, quyết định có hiệu lực. Nhưng có quy định về kháng cáo quá hạn nghĩa là kháng cáo vào thời điểm bản án, quyết định đã có hiệu lực, nếu kháng cáo đó đc chấp nhận và vụ án được đưa ra xét xử phúc thầm thì đối tượng của xét xử phúc thẩm sẽ là bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật

    Mẫu bài tập Tố tụng Hình sự ( tham khảo )
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Vì viết lại theo trí nhớ của các bạn nên có thể có sai sót

    Câu 1 : Khẳng định sau đây đúng hay sai? Vì sao ?

    a, Thẩm phán bị thay đổi nếu là người thân thích của bị đơn dân sự trong vụ án mà mình đang tiến hành tố tụng
    b, Trong mọi trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm có quyền xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật.

    Câu 2 : A và B bị VKS truy tố về tội trộm cắp TS ( người bị hại là C ) theo khoản 2 điều 138 BLHS ( có mức phạt cao nhất là 7 năm tù )

    a, Khi nghiên cứu hồ sơ VA, nếu xác định khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, A mới 15t 11 tháng còn việc truy tố B là chính xác, Thẩm phán sẽ phải ra quyết định gì để giải quyết vụ án ?
    b, Khi xét xử ST có căn cứ xác định trc khi trộm cắp TS của C, B còn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của một người khác, HDXX sẽ phải giải quyết tnao ?
    c, Giả sử VKS kháng nghị bản án theo hướng tăng nặng hình phạt đối vs B. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại đề nghị giảm hình phạt vs B. Tòa án cấp phúc thẩm có quyết định tnao nếu lời đề nghị của người bị hại có căn cứ ?
    d, VKS phúc thẩm giải quyết tnao nếu sau phiên tòa phúc thẩm, phát hiện 1 Hội thẩm tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm là anh ruột của B.
    Câu 3 : Tại sao luật lại quy định không được bắt người vào ban đêm trừ TH bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang ?
    ———————————————-

    Còn đây là đáp án mình làm, mọi người nêu ý kiến luôn nhé

    [lock] Câu 1 :

    a, Đúng, khoản 3 Điều 42
    b, Sai, Điều 196
    Câu 2 :

    a, Ra quyết định đình chỉ vụ án với A theo điều 180 và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo điều 178
    b, Hội đồng XX tiếp tục xét xử theo đoạn 3 khoản 1 điều 104
    c, TA phúc thẩm giảm hình phạt theo khoản 2 điều 249
    d, Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo khoản 3 điều 273
    Câu 3 :Vì mục đích ko gây rối trật tự công cộng[/lock]

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Từ điển Triết học định nghĩa: tư duy “là hình thức cao nhất của sự phản ánh tích cực hiện thực khách quan – quá trình trong đó con người so sánh các tài liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau, phân tích chúng, suy xét, luận chứng để từ các tài liệu hoặc các ý nghĩ đó rút ra các ý nghĩ khác với tri thức mới. Tư duy diễn ra dưới các hình thức khái niệm, phán đoán, suy lý, giả thuyết, lý luận”. Tư duy là hoạt động nhận thức con người trước thế giới. Trong mọi hành vi sống đều đòi hỏi con người phải không ngừng suy nghĩ, tư duy (“Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” – R. Descartes). Tư duy – đó là quá trình nhận thức vấn đề và ra quyết định để giải quyết vấn đề. Tư duy cũng là hoạt động mà qua đó, và nhờ đó mà con người tự khám phá, tìm kiếm và phát hiện cái mới để tái tạo lại những tri thức của xã hội cho bản thân mình. Tư duy mở đường cho sự phát triển của con người. Chỉ khi kiểm soát được tư duy, con người mới có thể kiểm soát và điều khiển được các hoạt động của mình.

    + Xét từ phương diện kiểu loại, để đáp ứng nhu cầu nhận thức về những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, người ta chia tư duy của con người thành ba loại với những đặc trưng cơ bản khác nhau:

    – Tư duy hành động – trực quan: là kiểu tư duy trực tiếp, cảm tính, được dùng trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn hàng ngày.
    – Tư duy hình tượng – cảm tính: là kiểu tư duy vừa cụ thể – cảm tính vừa khái quát, là loại tư duy chủ yếu dành cho lĩnh vực hoạt động sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật.
    – Tư duy khái niệm – logic: là kiểu tư duy trừu tượng, dành cho việc nhận thức các qui luật, tiếp cận chân lý khách quan về đối tượng.
     Mỗi kiểu loại tư duy trên đây nhằm đáp ứng những nhu cầu nhận thức về những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.

    + Xét từ phương thức tiếp cận đối tượng nhận thức, người ta chia ra hai loại: tư duy kinh nghiệm và tư duy khoa học. Cả tư duy kinh nghiệm và tư duy khoa học đều nhằm mục đích tiếp cận qui luật khái quát về  đối tượng, tuy nhiên, hai loại tư duy này có nhiều điểm khác nhau:

    Tư duy kinh nghiệm
    Tư duy khoa học
    – Khái quát hoá những dấu hiệu phổ quát, ổn định của sự vật, hiện tượng được biểu hiện chủ yếu qua các dấu hiệu bề ngoài, từ kết quả của sự cảm nhận trực tiếp.
    – Khái quát hóa, trừu tượng hóa về bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng thông qua sự tiếp cận, khám phá đối tượng từ bản chất bên trong.
    – Chỉ đạt đến khả năng nhận diện được sự khác biệt hoặc mâu thuẫn giữa các tính chất của sự vật, hiện tượng khi quan sát trực tiếp các đối tượng.
    – Lý giải bản chất của đối tượng, sự khác biệt cũng như mối quan hệ giữa nó với các đối tượng khác.
    – Tri thức chỉ dừng ở mức độ mô tả thuần túy sự tồn tại của sự vật hiện tượng.
    – Tri thức luôn vươn đến mức độ khái quát các qui luật hình thành và chiều hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

    + Xét từ tiêu chí chất lượng của tư duy: tư duy tích cực và tư duy thụ động.

    Tư duy tích cực
    Tư duy thụ động
    – Không bằng lòng với sự nhận thức hời hợt mà phải có khát vọng tìm tòi, khám phá đến tận cùng thực chất của vấn đề, cố gắng phát hiện mâu thuẫn của vấn đề và tìm cách giải quyết mâu thuẫn chứ không dễ dàng thoả hiệp.
    – Không dễ dàng đồng ý ngay với ý kiến của người khác, mặc dù lập luận đó nghe có vẻ hợp lý.
    – Thường dễ bằng lòng với thực tại, không có khát vọng tìm tòi, khám phá vì nghĩ rằng những điều mình nghĩ thì những người khác cũng đã nghĩ cả rồi, mình khó có thể (không thể) tìm kiếm được ý tưởng mới.
    – Dễ dàng thỏa hiệp với ý kiến người khác.
    – Luôn nhìn sự việc bằng con mắt biện chứng và thường trực suy nghĩ rằng: nhận thức của con người luôn bị giới hạn trước sự biến động không ngừng của đối   tượng, bởi vậy luôn biết vượt qua định kiến để tìm tòi những ý tưởng mới nhằm   giải quyết vấn đề có hiệu quả hơn, không “an phận” với những cách nghĩ đã và đang phổ biến.
    – Thường nhìn sự việc bằng con mắt tĩnh tại và  nghĩ rằng: mọi vấn đề chỉ có một giải pháp, bởi vậy  thường “an phận” với những cách nghĩ đã và đang phổ biến.
    – Luôn ý thức rằng, một vấn đề có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau nên người có tư duy tích cực là người không giới hạn nhận thức của mình trong một hệ thống tri thức nhất định mà luôn nỗ lực vận dụng nhiều hệ thống tri thức để giải quyết vấn đề.
        Thường suy nghĩ rằng chỉ có một cách duy nhất để giải quyết vấn đề, rằng “không thể làm khác được”, hoặc “quá mạo hiểm khi làm điều đó”.
    – Giúp cá nhân tự khám phá những tiềm năng vốn có trong bản thân mình để biến thành nội lực giúp vượt lên chính mình, tự khẳng định mình, góp phần hình thành nhân cách tự chủ, độc lập và sáng tạo.
    – Làm triệt tiêu mọi ước muốn, dập tắt mọi tiềm năng, không quyết đoán, hoàn toàn lệ thuộc vào sự đánh giá của người khác, đánh mất phẩm chất đích thực của mình, thường có tâm lý mặc cảm, tự ti, thất vọng, chán đời, mất lòng tin…
    – Là nguồn năng lượng khai sáng trí tuệ, nhân cách và cảm xúc (hành động thay vì phản ứng).
    – Là căn nguyên của những lời nói và hành động tiêu cực (phản ứng thay vì hành động).



    Khái quát chung về tư duy
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Hướng dẫn trả lời câu hỏi bài tập

     

     

    Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đó là:

     Tại Điều 5, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

    Tại Điều 42, Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”; hay Điều 61, Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường: “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn…”.
    – Tại  khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 60, khoản 2 Điều 75 (Người dự thi nêu đầy đủ các nội dung của các điều khoản của Hiến pháp năm 2013).

    [right-post]

    mô tả cho hình ảnh
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Theo thầy Mai Thanh Hiếu thì bài thì kết thúc học phần môn tố tụng hình sự này thường có 3 dạng câu hỏi:

    Thứ nhất là dạng câu đúng sai- bán trắc nhiệm. Loại câu hỏi này chúng ta đã được tiếp xúc trong 2 bài tập cá nhân.

    Thứ hai là dạng câu hỏi lý thuyết: loại này thường được làm theo kiểu câu giải thích, hoặc như hoàn thiện pháp luật vậy ý, dạng này đã được tiếp xúc trong bài tập nhóm tháng số 1. Kiểu câu: “cần phải làm gì để………..”. Ví dụ: cần phải làm gì để bảo vệ quyền được sử dụng tiếng nói của người dân tộc khi tham gia tố tụng.

    Thứ ba là dạng câu hỏi tính huống, loại này thì đã được tiếp xúc trong bài tập nhóm tháng số 2 rồi.

    Dựa trên những dạng câu hỏi kia, mình đã tự làm một số câu hỏi và sưu tầm thêm câu hỏi, vì là tự làm nên câu hỏi cũng đơn giản hơn so với thực tế, và tất nhiên cũng có nhiều thiếu sót, vậy nên bạn thích thì có thể sử dụng, còn nếu không thích thì không nên sử dụng rùi thì soi mói!

    DẠNG 1: ĐÚNG SAI? GIẢI THÍCH TẠI SAO?

    [lock] 1.    Trong mọi trường hợp không được phép bắt người nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát.
    2.    Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
    3.    Khi xét thấy yêu cầu khởi tố vụ án của VKS là thiếu căn cứ, Cơ quan điều tra có quyền không thực hiện yêu cầu đó của VKS.
    4.    Việc thay đổi điều tra viên là Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Cơ quan điều tra cấp tiến hành.
    5.    Tại phiên tòa, Hội động xét xử ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên nếu thấy có căn cứ quy định tại điều 42 và khoản 1 điều 45 BLTTHS 2003.
    6.    Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra.
    7.    Tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự cấp khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm mọi tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng.
    8.    Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, Cơ quan điều tra phải ra đề nghị Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp ra quyết định chuyển cho cơ quan điều tra khác có thẩm quyền.
    9.    Trong mọi trường hợp, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đình chỉ vụ án nếu bị can chết.
    10.     Cơ quan điều tra có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp nếu không nhất trí với VKS cùng cấp về việc quyết định truy tố bị can.
    11.     Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thâm luôn tính từ ngày tuyên bản án.
    12.     Trong mọi trường hợp, băng ghi âm, ghi hình không được coi là nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự.
    13.     Quyền bào chữa của bị can được thực hiện ở các giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
    Câu hỏi sưu tầm:
    14.    Cơ quan có quyền giải quyết vụ án hình sự là cơ quan tiến hành tố tụng
    15.    Tam giam không áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng.
    16.    Hội thẩm nhân dân không có quyền tham gia xét xử phúc thẩm tại tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao.
    17.    Chức danh điều tra viên không có trong ngành kiểm sát.
    18.    Lệnh bắt người của cơ quan điều tra trong mọi trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp.
    19.    Chỉ có cơ quan tố tụng hình sự mới có quyền ra quyết định trưng cầu giám định.
    20.    Người bị hại, bị can, bị cáo là những người tham gia tố tụng có quyền nhờ Luật sư bào chữa cho mình.
    21.    Bảo lĩnh có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
    22.     Lời nhận tội của bị can, bị cáo là chứng cứ
    23.    Biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú “ không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài phạm tội tại việt nam.
    24.     Trong TTHS chỉ có VKS mới có quyền thực hiện chức năng buộc tội.
    25.    Thư ký tòa án phải tiến hành từ chối tố tụng hoặc bị đề nghị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong cùng vụ án.
    26.    mọi tình tiết, sự kiện có thật được phản ánh trong nguồn của chứng cứ đều được coi là chứng cứ .
    27.     Quan hệ PL-TTHS phát sinh từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố VAHS.
    28.    Tạm giam không áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng.
    29.    Biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú” không áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài phạm tội tại VN.
    30.    Thẩm phán phải từ chối THTT hoặc bị đề nghị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên giữ quyền công tố trong cùng 1 vụ án .
    31.    Trong quá trình giải quyết VAHS có thể không có người tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại.
    32.     Trường hợp bào chữa bắt buộc không áp dụng đối với người bị tạm giữ.
    33.    Tòa án cấp phúc thầm chỉ sửa án sơ thẩm theo hướng tăng nặng khi có căn cứ và có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng.
    34.     Người dân bình thường phạm tội thì do tòa án nhân dân xứt xử.
    35.     Trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh chỉ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng.
    36.    Trong cũng một vụ án, người tiến hành tố tụng chỉ có thể tham gia với một tư cách tố tụng.
    37.    Lời khai của người làm chứng là chứng cứ
    38.    Tòa án chỉ xét xử bị cáo theo tội danh mà VKS truy tố.
    39.     Người có thẩm quyền làm oan cho người vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự  phải bồi thường thiệt hại cho người bị oan.
    40.    Cơ quan điều tra phải ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giam đối với người bị đình chỉ điều tra.
    41.    Tòa án nhân dân tỉnh có quyền xét xử sơ thẩm các vụ án mà tội phạm được thực hiện là tội phạm nghiêm trọng.
    42.    Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
    43.     Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng.

    DẠNG 2: CÂU HỎI LÝ THUYẾT (chủ yếu do mình chém,trên cơ sở có căn cứ những bất cập)

    1.    Hãy nêu các biện pháp để đảm bảo sự vô tư, khách quan của người tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng.
    2.    Cần phải làm gì để đảm bào quyền được sử dụng tiếng nói và chữ viết của người dân tộc khi tham gia tố tụng hình sự
    3.    Trong bộ luật tố tụng hình sự có những bất cập nào về quy định bắt người, cần phải làm gì để khắc phục những bất cập đó.
    4.    Cần phải làm gì để đảm bảo quyền kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại.
    5.    Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng về người phiên dịch.
    6.    Cần phải làm gì để bảo vệ việc xét xử độc lập của tòa án.
    7.    Cần phải làm gì để đảm bảo nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án”.
    8.    Trong quy định về kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thầm còn có những vướng mắc gì? Nêu phương hướng khắc phục.
    9.    Thực tế những vướng mắc trong thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ, phương hướng khắc phục.
    Sưu tầm:
    10.    Hãy nêu cách giải quyết của của tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp:
    a.    Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
    b.    Hội thẩm vắng mặt tại phiên tòa
    11.    Bằng những hiểu biết của mình về nguyên tắc “bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật”, hãy trình bày thực trạng áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn tố tụng hình sự ở nước ta.
    12.    Tại sao không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó?
    13.    Bằng hiểu biết của mình về nguyên tắc “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong tố tụng hình sự, hãy nêu những vướng mắc về thực tiễn áp dụng nguyên tắc này.

    DẠNG 3: CÂU HỎI TÌNH HUỒNG

    BÀI TẬP TÌNH HUỐNG

    LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

    TÌNH HUỐNG 1
    Vào lúc 9h30′ ngày 10/5/2002, Nguyễn Ngọc A sinh ngày 12/3/1986 đến nhà chị Lê Hồng L chơi. Tại đây, Nguyễn Ngọc A rủ chị Lê Hồng L và Lê Hồng H (Em gái chị Lê Hồng L) cùng đi hát Karaoke. Do ba người chỉ có một xe đạp nên chị Lê Hồng L dắt xe của mình, còn Nguyễn Ngọc A và Lê Hồng H cùng đi bộ. Trên đường đi đến quán Karaoke thì ba người gặp anh Trần Trung H (bạn của chị Lê Hồng L) đang đi xe đạp trên đường cùng chiều. Nguyễn Ngọc A liền rủ anh Trần Trung H cùng đi hát cho vui, anh Trần Trung H đồng ý. Sau đó cả 4 người cùng đi xe đạp đến quán Karaoke của chị Lê Minh H đồng ý. Sau đó cả 4 người cùng đi xe đạp đến quán Karaoke của chị Lê Minh M để hát. Khi đến nơi thì chị Lê Hồng L và anh Trần Trung H cùng để xe đạp trước cửa quán nhưng không khoá rồi đi lên phòng hát ở tầng 2. Thấy vậy, chị Lê Minh H liền lấy dây Trung Quốc để khoá cả hai xe chung một khoá. Khi 4 người đang hát vui vẻ thì Nguyễn Ngọc A nói với mọi người là đi gọi điện thoại nhưng thực chất là xuống nhà dưới yêu cầu chị Lê Minh M mở khoá lấy xe đạp của anh Trần Trung H (trị giá 1.200.000đ). Sau khi lấy được xe, Nguyễn Ngọc A đã đem bán được 300.000đ và tiêu xài hết ngay trong ngày hôm đó.

    Câu hỏi 1: Hãy xác định tội danh đối với hành vi trên của Nguyễn Ngọc A?

    Tình tiết bổ sung:

    Sau khi sự việc xảy ra, anh Trần Trung H đã báo với cơ quan công an. Ngày 12/5/2002 cơ quan công an quận H đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản. Ngày 10/7/2002, Viện kiểm sát đã có bản cáo trạng truy tố Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 BLHS.

    Sau khi nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang, thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ cho rằng hành vi của Nguyễn Ngọc A không cấu thành tội trộm cắp tài sản như kết luận điều tra của cơ quan điều tra quận H và cáo trạng của Viện kiểm sát quận H mà cho rằng hành vi của Nguyễn Ngọc A cấu thành tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản mới đúng.

    Câu hỏi 2: Tòa án chọn cách nào trong các cách giải quyết sau? Tại sao?

    a. Toà án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
    b. Toà án trao đổi với Viện kiểm sát, sau đó ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
    c. Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản;
    d. Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Câu hỏi 3: Anh (chị) hãy xác định tư cách tố tụng của anh Trần Trung H và chị Lê Minh M trong vụ án trên?

    Tình tiết bổ sung:

    Sau khi xem xét, Tòa án đã ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không nhất trí quan điểm của Tòa án.

    Câu hỏi 4: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung:

    Theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát đã tiến hành điều tra bổ sung nhưng vẫn giữ quyết định truy tố Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản. Tại phiên toà, HĐXX thấy có đủ căn cứ để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Câu hỏi 5: Anh (chị) chọn cách giải quyết nào trong các cách giải quyết sau? Tại sao?

    a. Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án;
    b. Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố Nguyễn Ngọc A không phạm tội trộm cắp tài sản;
    c. Hội đồng  xét xử ra bản án xử phạt Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản;
    d. Hội đồng xét xử ra bản án xử phạt Nguyễn Ngọc A về tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản.

    Tình tiết bổ sung

    Tại phiên toà sơ thẩm, HĐXX quyết định bắt giam bị cáo sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    Câu hỏi 6: Quyết định bắt giam bị cáo của HĐXX có đúng không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Tại phiên toà sơ thẩm, luật sư Cao Hồng T thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội đã tham gia bào chữa cho Nguyễn Ngọc A. Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Ngọc A kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị luật sư Cao Hồng T tiếp tục bào chữa cho mình tại phiên tòa phúc thẩm.

    Câu hỏi 7: Toà án cấp phúc thẩm có chấp nhận đề nghị trên của bị cáo không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung:

    Sau phiên toà sơ thẩm gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Trung H số tiền 1.200.000đ.

    Câu hỏi 8: Tòa án cấp phúc thẩm có thể áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ để xem xét việc quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A được không? Nêu căn cứ pháp lý?

    TÌNH HUỐNG 2

    Ngày 7/4/2004, sau khi uống rượu Hoàng Hồng Linh đến quán bi-a Sao Đêm của chị Phan Thị Hòng tại số 7, phố Q, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây để chơi bi-a. Do không có ai chơi với Linh nên Linh bực vứt gậy bi-a ra đường. Thấy vậy, chị Hồng chạy ra nhặt gậy và nói không cho Linh chơi nữa. Linh lại tiếp tục ném quả bi-a ra đường rồi quay lại dùng tay đập vào vai chị Hồng. Tiếp đến, Linh hất đổ bàn bi-a và dẫm chân ên mặt bàn làm mặt bàn bị vỡ rồi Linh dùng tay đánh vào đầu chị Hồng. Anh Hải, người chơi bi-a ở quán vào can ngăn cũng bị Linh đánh. Khi đó Nguyễn Hoàng Anh (chồng chị Hồng) đang bế con cách nhà khoảng 20m nghe tin vợ bị đánh nên đã về nhà lấy một con dao nhọn, loại dao gọt hoa quả của Thái Lan, chạy ra đâm hai nhát vào người Linh làm Linh bị thương. Theo kết quả giám định pháp y, tỷ lệ thương tật của Linh là 12%. Sau khi chém Linh, Nguyễn Hoàng Anh đã chạy đến công an phường Q  thú. Công an phường đã tạm giam Linh trong thời hạn 24 giờ.
    Ngày 12/4/2004, cơ quan điều tra công an thị xã Hà Đông ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng Anh  về tội cố ý gây thương tích. Cư quan điều tra cũng ra lệnh tạm giam Nguyễn Hoàng Anh trong thời gian 2 tháng.

    Câu 2.1: Anh (chị)có nhận xét gì về các hoạt động của công an phưòng Q. và công an thị xã Hà Đông? Nêu các căn cứ pháp lý để chứng minh cho câu trả lời của mình.

    Tình tiết bổ sung
    Theo kết luận giám định pháp y, Linh bị hai vết thương ở bụng, một vết dài 5cm, vết còn lại dài 4cm; vết thương nông, có khả năng phục hồi tốt.
    Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng Anh khai “vì nghe tin vợ bị đánh và quán bị phá nên tôi mới lấy dao ra để doạ Linh. Khi tôi đến Linh vẫn tiếp tục đập phá, chửi bới vợ chồng tôi. Thậm chí Linh còn chạy đến nắm cổ áo tôi. Tôi quá bức xúc nên mới đâm Linh”.
    Hoàng  Hồng Linh khai “Tôi uống rượu say nên có làm đổ một số cốc chén trong quan Sao Đêm và có to tiếng với chị chủ quán. Khi thấy anh Hoàng Anh cầm giao chạy đến tôi rất sợ nên đã bỏ chạy nhưng anh Hoàng Anh vẫn đuổi theo và đâm mạnh vào người tôi. Tôi đề nghị pháp luật xử lý thoả đáng”.

    Câu 2.2: Anh (chị) hãy xác định những điểm mâu thuẫn giữa lời khai của Hoàng Hồng Linh với lời khai của Nguyễn Hoàng Anh và với kết luận giám định. Theo anh (chị) cần tiến hành hoạt động điều tra nào để làm rõ sự thật của vụ án?

    Tình tiết bổ sung
    Quá trình điều tra đã xác định được nội dung vụ án như đã nêu trong phần dữ kiện chung của đề bài.
    Ngày 10/7/2004, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hà Đông ra bản cáo trạng truy tố Nguyễn Hoàng Anh về tội “ cố ý gây thương tích”  theo khoản 1, Điều 104 Bộ luật hình sự.

    Câu 2.3: Theo anh (chị) quyết định truy tố của Viện kiểm sát đã chính xác hay chưa? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung
    Giả sử, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án trên, Hoàng Hồng Linh có đơn xin rút yêu cầu khởi tố. Toà án đã căn cứ khoản 2, Điều 105 BLTTHS ra quyết định đình chỉ vụ án. Sau đó, Linh lại có đơn yêu càu Toà án đưa vụ án ra xét xử với lý do việc viết đơn xin rút yêu cầu khởi tố là do bị gia đình Hoàng Anh cướng ép.
    Qua xác minh, đã làm ró được sự việc như sau: Khi toà án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Linh đưa điều kiện cho gia đình Hoàng Anh nếu đưa Linh 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) Linh sẽ rút yêu cầu khởi tố. Vì lo sợ Hoàng Anh bị tù tội nên gia đình Hoàng Anh đã đồng ý và Linh đã làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên, sau đó gia đình Hoàng Anh không chạy đủ số tiền trên nên Linh đã làm đơn yêu cầu Toà án xử lý về hình sự đối với Hoàng Anh.

    Câu 2.4: Theo anh (chị), yêu cầu của Linh có được chấp nhận hay không? Toà án cần giải quyết tình huống trên như thế nào?

    Tình tiết bổ sung,
    Ngày 8/8/2004, Toà án nhân dân thị xã Hà Đông mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án trên. Tại phiên toà, luật sư của Hoàng Anh vì bận công tác nên vắng mặt và có gửi trước bản bào chữa. Bị cáo Hoàng Anh đề nghị Hội đồng xét xử cho hoãn phiên toà ì phải có mặt luật sư bào chữa thì quyền lợi của bị cáo mới được đảm bảo.

    Câu 2.5: Đề nghị của Hoàng Anh có được chấp nhận hay không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung
    Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên toà đã làm rõ được nội dung vụ án như đã nêu trong phần dữ kiện chung của đề bài. Hội đồng xét xử đã nghị án và ra bản án sơ thẩm quyết định áp dụng điểm p, điểm h khoản1, khoản 2 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Anh 6 tháng tù.

    Câu2.6: Anh (chị) hãy giúp bị cáo Hoàng Anh làm đơn kháng cáo bản án nêu trên.

    TÌNH HUỐNG 3
    Do thua lô đề không có tiền tiêu nên Trần Thu (sinh ngày 1/2/1985) rủ Lê Hạ (sinh ngày 25/9/1988) và Vũ Xuân (sinh ngày 1/2/1987) đi bắt cóc cháu Đông (con anh Bốn và chị Mùa trú tại phường A, thị xã B, tỉnh C) để lấy tiền chuộc. Khoảng 16h30 ngày 22/09/2004, Xuân giả vờ là người nhà cháu Đông đi đón cháu Đông về nhà Thu. Trên đường đưa cháu Đông về nhà Thu, cháu Đông thấy người lạ nên khóc và không chịu để Xuân, Hạ chở đi. Thấy vậy, anh Nguyễn Hải và một số người đi đường nghi ngờ đã đến hỏi Xuân và Hạ cho rõ ngọn ngành. Thấy nguy cơ bị lộ, Xuân bế cháu Đông chạy đi, Hạ ở lại dùng dao đâm bị thương anh Nguyễn Hải và đe dọa mọi người ai xông vào sẽ bị đâm chết. Sau đó, Hạ phóng xe theo Xuân và tiếp tục đèo Xuân, Đông về nhà của Thu.
    Ngày 23/09/2004, cơ quan điều tra công an thị xã B đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Xuân, Hạ, Thu. Ngày 25/09/2004, cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam Xuân, Hạ, Thu trong thời hạn 4 tháng và ra quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú với Thu.
    Theo kết luận giám định pháp y, tỷ lệ thương tật của anh Nguyễn Hải là 30%.

    Câu hỏi 2: Xác định tội danh và điều khoản BLHS cần áp dụng đối với Xuân, Hạ, Thu. Nêu các căn cứ pháp lý để chứng minh cho câu trả lời của mình.

    Câu hỏi 3: Anh chị có nhận xét gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã B? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Tại cơ quan điều tra, Xuân, Hạ khai rằng cả Xuân, Hạ, Thu đã bàn bạc rất kỹ lưỡng việc bắt cóc cháu Đông và cách xử lý những tình huống phát sinh như có người cản trở, cháu Đông kêu khóc…,việc Hạ chém anh Hải cũng nằm trong phương án đã được dự liệu nhằm bằng mọi cách bắt cóc được cháu Đông. Thu khai rằng Thu không hề biết việc Hạ, Xuân đi bắt có cháu Đông; Hạ, Xuân chỉ rủ Thu đi lấy trộm tài sản nhưng Thu không đi.
    Gia đình Xuân, Hạ , Thu  đã mời Luật sư Nguyễn L làm luật sư bào chữa cho các bị can.

    Câu hỏi 4: Giả sử những lời khai trên là đúng thì nó ảnh hưởng như thế nào đến việc giải quyết vụ án? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Ngày 2/12/2004, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B ra bản cáo trạng truy tố Xuân, Ha, Thu và chuyển hồ sơ sang Tòa án nhân dân thị xã B.
    Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận thấy việc Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố đối với Hạ là không đúng. Vì vây, Thẩm phán đã quyết định trả hồ sơ cho Viện Kiểm sát để điều tra bổ sung.

    Câu hỏi 5: Anh, chị có nhận xét gì về quyết định của thẩm phán? Giải thích tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Viện kiểm sát nhân dân thị xã B rút quyết định truy tố đối với Hạ. Tòa án nhân dân thị xã B quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 3/2/2005. Tại phiên tòa, sau khi chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, Vũ Xuân từ chối luật sư Nguyễn L vì cho rằng luật sư L còn quá trẻ, không có khả năng bào chữa cho mình. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của Xuân không đồng ý với ý kiến của Xuân và yêu cầu luật sự tiếp tục bào chữa cho Xuân.

    Câu hỏi 6: Trường hợp này, Tòa án có chấp nhận việc từ chối luật sư của Vũ Xuân hay không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, gia đình Xuân, Hạ, Thu đã bồi thường cho anh Nguyễn Hải 20 triệu đồng nhưng anh Hải không nhận mà yêu cầu Tòa án giải quyết việc bồi thường theo pháp luật.
    Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Xuân, Thu chưa có tiền án tiền sự. Trong thời gian tạm giam, Xuân đã tích cực giúp đỡ Ban giám thị trại giam bắt giữ một phạm nhân trốn trại. Bố của Thu đã hai lần được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích bảo vệ rừng.

    Câu hỏi 7:  Anh chị hãy xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với Xuân và Thu.

    TÌNH HUỐNG 4
    Năm 1998, Nguôn Suy từ Campuchia sang Việt Nam mua bán nông thuỷ sản và quen biết với bà Tô Ngọc Kim, giám đốc Công ty TNHH xuất khẩu thuỷ sản Hiệp Nguyên. Tuy đã có vợ con nhưng Suy vẫn làm cho bà Kim tin rằng còn độc thân. Hai người chung sống với nhau như vợ chồng và có một con riêng. Khi phát hiện ra Suy có gia đình tại Campuchia, bà Kim đòi chấm dứt quan hệ. Cho rằng người vợ hờ tạo cớ hòng chiếm hết khối tài sản của mình gồm nhiều nhà xưởng ở thành phố Hồ Chí Minh nên Suy tìm thuê người giết bà Kim. Suy tìm được Trần Bá Nhân, trú tại phường 3, quận 4, Thành phố HCM. Tháng 6/2004, Suy về Campuchia mua 1 khẩu súng ngắn K59 với 1 ống giảm thanh và 12 viên đạn. Suy trở lại Việt Nam và đưa cho Nhân 40 triệu đồng và số vũ khí giảm thanh và 12 viên đạn.
    Từng là chỗ quen biết với gia đình bà Kim, sợ bị phát hiện nên sau 1 tháng suy nghĩ, Nhân đã “nhượng lại” toàn bộ “hợp đồng” và bàn giao khẩu súng cho anh ruột là Trần Bá Mẫn. Mẫn kéo theo Trần Đăng Đình, 15 tuổi, cháu vợ Mẫn tham gia và đòi tăng lên 70 triệu đồng. Suy chấp nhận nhưng yêu cầu thực hiện xong mới đưa nốt 30 triệu đồng phát sinh. Sau nhiều ngày tập bắn súng và theo dõi quy luật đi lại của bà Kim, khoảng 9h ngày ngày 15/08/2004, theo sự phân công của Mẫn, Đình chờ Mẫn đến trước cổng Công ty Hiệp Nguyên phục sẵn. Khi bà Kim xuống ô tô đi vào công ty, Mẫn bám theo và khi chỉ cách bà Kim 0,5 m liền rút súng bắn. Đúng lúc này, bà Kim di chuyển người và giơ tay gọi nhân viên mở cổng nên viên đạn đã đi lệch, chỉ trúng cánh tay trái làm vỡ xương, gây thương tích 22%.
    Mẫn và Đình bị lực lượng bảo vệ và người đi đường bắt tại chỗ. Tại cơ quan điều tra, Mẫn đã khai Nhân và Nguôn Suy. Từ lời khai trên, ngay 13h ngày 15/08/2004, Cơ quan điều tra đã bắt khẩn cấp Nhân và Nguôn Suy tại nhà riêng. Ngày 16/08/2004, Thủ trưởng cơ quan điều tra đã ra lệnh tạm giam Mẫn, Đình, Nhân, Suy với thời hạn 4 tháng kể từ ngày 15/08/2004. Cũng trong ngày 16/08/2004, Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn các lệnh bắt khẩn cấp và lệnh tạm giam nêu trên của Cơ quan điều tra.
                Ngày 18/08/2004, Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án Giết người và khởi tố các bị can: Nguôn Suy về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS, mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 2 Điều 230 BLHS; Trần Bá Nhân về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS, tàng trữ vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 230 BLHS; Trần Bá Mẫn về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 230 BLHS; Trần Đăng Đình về tội Giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS và tội che giấu tội phạm theo khoản 1 Điều 313 BLHS.
                Câu 1: Anh chị có quan điểm như thế nào về các biện pháp ngăn chặn đã được cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với Mẫn, Đình, Nhân, Suy?
                Câu 2: Anh chị có gì về các quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra trong vụ án trên?
                                                                            Tình tiết bổ sung
                Trong quá trình điều tra, Nguôn Suy yêu cầu các cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước Việt Nam tiến hành kê biên tài sản của mình vì sợ bà Tô Ngọc Kim sẽ tẩu tán hết tài sản của Suy.
                Câu 3: Yêu cầu của Suy có được đáp ứng không? Cơ quan nào có thẩm quyền ke biên tài sản của Suy tại Việt Nam?
    Tình tiết bổ sung
                Gia đình Nguôn Suy thuê ông Hiêng Xum, một Luật sư danh tiếng ở Campuchia sang Việt Nam để bào chữa cho mình. Bà Trần Thị Chung Chiên, vợ của bị can Mẫn, đã thuê ông X, luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội bào chữa cho Mẫn, Đình và Nhân.
                Câu 4: Ông Hieng Xum, ông X có thể được cấp giấy chứng nhận người bào chữa để tham gia tố tụng trong vụ án này không? Tại sao?
    Tình tiết bổ sung
                Cha mẹ Trần Đăng Đình đã thuê ông Y, một luật sư khác bào chữa cho con trai mình và ông Y đã được cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Thời điểm ông Y được tham gia tố tụng, hồ sơ vụ án vừa được Cơ quan điều tra chuyển sang Viện kiểm sát cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố các bị can theo tội danh và điều khoản BLHS mà cơ quan điều tra đã khởi tố ban đầu.
                Câu 5: Theo anh chị, ông Y nên tiến hành hoạt động nào dưới đây:
    A, đề nghị Viện Kiểm sát đình chỉ vụ án đối với Trần Đăng Đình vì vào thời điểm phạm tội, Định mới 15 tuổi;
    B, đề nghị Viện Kiểm sát xem xét, quyết định việc chỉ truy tố Đình về tội Giết người mà không truy tố về tội Che dấu tội phạm;
    C, đề nghị Viện Kiểm sát xem xét, quyết định việc chỉ truy tố Đình về tội che dấu tội phạm mà không truy tố về tội giết người;
    D, khuyên Trần Đăng Đình khai do bị Trần Bá Mẫn đánh đập, doạ sẽ giết chết nên buộc phải giúp sức Trần Bá Mẫn và buộc phải im lặng trong việc giết bà Kim;
    E, Phương án riêng của anh chị.
                                                                            Tình tiết bổ sung
                Phiên toà sơ thẩm được mở ngày 24/04/2005. Vào ngày mở phiên toà, ông Y bất ngờ bị nhồi máu cơ tim nên không thể tham gia phiên toà. Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên toà vì vắng mặt người bào chữa dù bị cáo Đình và cha mẹ bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên toà như bình thường.
                Câu 6: Anh chị có nhận xét gì về quyết định của Hội đồng xét xử trong tình huống này.
                                                                            Tình tiết bổ sung
                Phiên toà sơ thẩm được mở lại vào ngày 24/05/2005. Trong thành phần Hội đồng xét xử, có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên Trường Chính trị thành phố. Một Hội thẩm nhân dân còn lại bác sỹ bệnh viện Gia Định, thành phố HCM, ông này là anh rể của kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố tại phiên toà.
                Câu 7: Theo Anh chị, thành phần Hội đồng xẽtử cơ vi phạm quy định của pháp luật không? Tại sao?

    TÌNH HUỐNG 5
    Nguyễn Hữu Đại và Nguyễn Bình Phương là hai anh em họ. Tối ngày 22/12/2004, Đại đến rủ Phương đi uống cà phê tại quán cà phê Apple. Trong khi uống cà phê, Đại nói chuyện và rủ Phương đi chặn xe qua đường dể xin tiền. Phương đồng ý, đồng thời gọi điện rủ thêm Lê Thanh Đoàn (sinh ngày 15/12/1988) tham gia. Khoảng 22h cùng ngày, Đại, Phương và Đoàn rời quán cà phê đi tới đầu phố Hoa sữa (phường A, quanạ B, thành phố C). Đến 22h30, Đại, Phương, Hoàng nhìn thấy anh Nguyễn Minh Tuấn đi xe máy từ trong hẻm ra liền chặn lại. Lợi dụng lúc anh Tuấn mải đôi co với Đại, Phương nhanh tay giật chiếc dây chuyền vàng 5 triệu trên cổ anh Tuấn còn Đoàn rút chìa khoá xe máy của anh Tuấn bỏ vào túi quần. Sau đó, cả ba tên đi bộ về cuối phố. Anh Tuấn dắt xe theo sau Đại, Phương, Đoàn để xin lại đồ đã bị chiếm đoạt. Thấy vậy, Phương rút con dao Thái Lan nhỏ trong túi quần ra quơ qua quơ lại hù doạ anh Tuấn để Đoàn và Đại chạy đi. Sau đó, khi thấy một số người dân chạy ra, Phương đẩy anh Tuấn sang bên đường, vứt luôn con dao xuống đất rồi bỏ chạy. Anh Tuấn đến công an phường A trình báo. Chiếc dây truyền của anh Tuấn trị giá 4.500.000 đ. Đại bán chiếc dây chuyền được 3000.000 đ; Đại, Phương, Đoàn với thời hạn 2 tháng.
                Ngày 29/12/2004, cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đại, Phương, Đoàn về tội “Cướp giật tài sản”.
                Ngày 26/12/2004, bố của Đoàn đến văn phòng luật sư THẮNG nhờ luật sư Nguyễn Q. làm người bào chữa cho con mình. Luật sư Q đã tiến hành các thủ tục cần thiết để tham gia bào chữa cho Q. Tuy nhiên, cơ quan điều tra công an quận B không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư Q với lý do việc tham gia bào chữa khi Đoàn mới bị tạm giữ là không cần thiết.

                Câu hỏi 2: Anh, chị, Minh có nhận xét gì về các hoạt động tố tụng mà cơ quan điều tra công an quận B tiến hành? Tại sao?
    Tình tiết bổ sung
    Tại cơ quan điều tra, nguyễn Hữu Đại khai rằng trước khi đi đến đường Hoa Sữa, Đại và Phương đã bàn bạc rất cụ thể về vai trò của từng người trong quá trình xin tiền của người đi đường. Theo đó, Đại sẽ gây sự để thu hút sự chú ý của người có tài sản; Phương và Đoàn tranh thủ thời cơ để lấy tài sản; nếu bị chống cự, Phương sẽ dừng lại chặn để Đại, Đoàn chạy. Đây là lần đầu tiên đại tham gia chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác.
    Nguyễn Bình Phương khai: Đại và Phương đã nhiều lần sử dụng thủ đoạn tương tự để chiếm đoạt tài sản của người đi đường còn Đoàn mới tham gia lần đầu. Khi anh Tuấn đi theo xin lại tài sản, Phương chỉ dang tay chặn anh Tuấn lại mà không dùng dao để đe doạ anh Tuấn. lúc đó, Phương có hét to lên với đại và Đoàn: “Chạy đi, nhanh lên:.
    Lê thanh đoàn: “Đại gọi điện thoại hẹn tôi đến đầu đường Hoa Sữa. Khi tôi đến đó, Đại mới rủ tôi xin tiền của người đi đường nhưng cũng không phân công nhiệm vụ gì cụ thể. Tôi không biết Phương de doạ anh Tuấn như thế nào. Tôi bỏ chạy vì thấy anh Tuấn kêu cứu một số người dân xung quanh bắt đầu chạy ra.”
    Cơ quan điều tra không lấy lời khai của những người dân nơi xảy ra sự việc, không thu giữ được con dao mà Phương vứt lại ở đường Hoa Sữa.

    Câu hỏi 3: Theo anh, chị, cơ quan điều tra cần thiết tiến hành những hoạt động điều tra gì để làm sáng tỏ sự thật của vụ án?
                Câu hỏi 4: Giả sử lời khai của đại là đúng thì Đại, Phương, Đoàn bị truy tố về tội gì? Theo điều khoản nào của BLHS
    Tình tiết bổ sung
    Trên cơ sở kết quả điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân quận B ra bản cáo trạng truy tố Đại, Phương và Đoàn về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 BLHS.
                Trong giai đoạn điều tra, gia đình các bị can đã bồi thường cho anh Tuấn 4.500.000 đ không đủ để mua lại một sợi dây chuyền 5 chỉ.
    Câu hỏi 5: Theo anh, chị, yêu của của anh Tuấn có được chấp nhận hay không? Toà án cần giải quyết tình huống này như thế nào?
    Tình tiết bổ sung
    Ngày 12/05/2005, Toà án nhân dân huyện B mở phiên toà sơ thẩm xét xử nêu trên. Tại phiên toà, sau khi đọc bản cáo trạng, Kiểm sát viên xin bổ sung vào bản cáo trạng một số nội dung sau:
    – Thứ nhất, trong bản cáo trạng chỉ ghi năm sinh của Đại và Phương, Kiểm sát viên xin bổ sung cụ thể ngày tháng năm sinh của Đại là 22/1/1985, của Phương là 4/5/1983;
    – Thứ hai, trong bản cáo trạng không nêu nội dung bàn bạc giữa đại và Phương tại quán cà phê Apple, Kiểm sát viên xin bổ sung “tại quán cà phê, đại và phương đã bàn bạc cụ thể kịch bản dể xin tiền ngưoiừ đi đường”.
    Luật sư Nguyễn Q cho rằng việc Kiểm sát viên bổ sung bản cáo trạng như trên là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của các bị cáo

    Câu hỏi 6: Anh, chị có nhận xét gì quan điểm của luật sư Q? Tại sao?
    Tình tiết bổ sung
                Qua phần xét hỏi và tranh luận tại phiên toà đã làm rõ được nội dung vụ án như phần dữ kiện chung của đề bài. Phương và Đại đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người đi đường. Đoàn phạm tội lần đầu, không bàn bạc trước với Phương và Đại, không biết việc Phương đe doạ anh Tuấn. trong quá trình điều tra tại phiên toà, Đoàn thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. 
    Câu hỏi 7: Nếu là luật sư nguyễn Q, anh, chị sẽ bào chữa cho Đoàn theo phương án nào trong các phương án dưới đây? tại sao
    A, Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho Đoàn;
    B, Đề nghị HĐXX miễn trách nhiệm hình sự cho Đoàn;
    C, Đề nghị HĐXX tuyên bố Đoàn không có tội;
    D, Phương án riêng của anh, chị

    TÌNH HUỐNG 6
    Do sẵn có mâu thuẫn nên đêm 25/07/2004, Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1972 trú tại phường Khương Hạ, quận T, thành phố H, đã cãi nhau với vợ là Hà Thị Yến. Trong khi xô sát, Yến đã có những lời thô tục chửi bới Tuấn rất thậm tệ. Vì vậy, Tuấn đã giang thẳng cánh tay tát vào mặt vợ. Phản ứng trước hành động của chồng, Yến đã giơ đứa con mới 2 tháng tuổi đang bế trên tay để ngăn cái tát của Tuấn. Kết quả sau khi bị Tuấn đánh trúng, cháu bé đã ngưng thở, tai và miệng rỉ máu. Mặc dù được Tuấn và một người hàng xóm đưa ngay đến bệnh viện X nhưng cháu bé không qua khỏi. Xác định nguyên nhân gây nên cái chết cho cháu bé, Tổ chức giám định pháp y thành phố H kết luận: nạn nhân bị vỡ hộp sọ do ngoại lực tác động.
    Ngày 20/08/2004, cơ quan điều tra công an thành phố H đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Anh Tuấn về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 93 BLHS. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra chuyển đến, ngày 10/04/2005 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã ra Cáo trạng truy tố Nguyễn Anh Tuấn về tội” Cố ý gấy thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS. Hồ sơ cùng bản cáo trạng được chuyển đến Toà án nhân dân thành phố H.
    Câu hỏi 2:Anh chị có nhận xét gì về tội danh mà cơ quan điều tra đã khởi tố và Viện kiểm sát truy tố đối với Nguyễn Anh Tuấn? Hãy xác định tội danh đối với Nguyễn Anh Tuấn?
    Câu hỏi 3: Với tội danh mà anh chị đã xác định thì thẩm quyền xét xử thuộc Toà án nào? Tại sao?
    Tình tiết bổ sung
    Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán lại cho rằng, hành vi của Tuấn cấu thành tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo quy định tại Điều 105 BLHS và ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung. Sau khi tiến hành những hoạt động điều tra bổ sung, Viện kiểm sát đã không bổ sung được những vấn đề mà Thẩm phán đã yêu cầu và lại gửi hồ sơ đến Toà án.
    Câu hỏi 4: Hãy nhận xét về việc ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Thẩm phán. Theo anh chị, Toà án phải xử lý như thế nào sau khi Viện Kiểm sát không bổ sung được theo yêu cầu của Toà án?
    Tình tiết bổ sung
    Ngày 03/06/2005, Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
    Câu hỏi 5: Toà án cần triệu tập những ai, với tư cách tham gia tố tụng gì đến phiên toà?
    Tình tiết bổ sung
    Tại phiên toà, bị cáo yêu cầu thay đổi vị nữ Hội thẩm nhân dân với lý do vị nữ Hội thẩm này là Hội trưởng Hội phụ nữ quận. Trước đây, khi vợ chồng bị cáo có mâu thuẫn, bà đã từng hai lần cùng Hội phụ nữ phường đến hoà giải và lần nào cũng có ý bênh vực vợ bị cáo. Vì vậy, Hội thẩm sẽ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

    Câu hỏi 6: Theo anh chị, yêu cầu của bị cáo có được chấp nhận không? Nếu không thì tại sao? Nếu có thì Hội đồng xét xử phải xử lý như thế nào?
    Tình tiết bổ sung
    Sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên đã kết luận rằng Nguyễn Anh Tuấn không phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS mà phạm tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 98 BLHS.
    Câu hỏi 7: Theo anh chị, Hội đồng xét xử cần xử lý như thế nào trong trường hợp trên? Giải thích vì sao cần xử lý như vậy?

    TÌNH HUỐNG 7
    Rạng sáng ngày 03/7/2004, tại đoạn đường gần nông trường cao su Dầu Giây, dân chúng phát hiện anh Phạm Bá Quang là công nhân nông trường Dầu Giây, huyện Dầu Tiếng, tỉnh T nằm bất tỉnh vì bị nhiều vết thương nặng ỏ vùng đầu, mặt,nên đưa đi cấp cứu. Do vết thương quá nặng, anh Quang đã chết trên đường đến bệnh viện. Qua kiểm tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã xác định Lê Văn Thọ, sinh năm 1964, trú tại ấp Thạnh Mỹ, xã Dầu Giây, huyện Dầu Tiếng, tỉnh T đã dùng đá ném vào mặt và dùng gậy đập liên tiếp vào đầu gây nên cái chết của anh Quang.
    Ngày 06/7/2004 Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn Thọ về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Biết được tin trên, Thọ đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Lê Văn Thọ.
    Câu hỏi 2: Anh (chị) có nhận xét gì về hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt khẩn cấp của cơ quan điều tra công an tỉnh T?

    Tình tiết bổ sung:

    Trong quá trình điều tra, Lê Văn Thọ khai nhận rằng, do có quan hệ bất chính với Bạch Thị Thanh Thuý (vợ của anh Quang), nên Thọ và Thuý đã bàn với nhau về việc sắp đặt và thực hiện kế hoạch giết anh Quang để có thể tiếp tục quan hệ bất chính với nhau. Bạch Thị Thanh Thuý cũng xác nhận những điều mà Thọ đã khai nhận.
    Câu hỏi 3: Theo anh (chị), cơ quan điều tra cần phải làm gì khi phát hiện tình tiết nêu trên?
    Câu hỏi 4: Nếu sau khi phát hiện các tình tiết trên cơ quan điều tra không thực hiện các hoạt động cần thiết thì Viện Kiểm sát cần phải làm gì để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất?

    Tình tiết bổ sung:

    Khi tiến hành kiểm sát các hoạt động điều tra, kiểm sát viên phát hiện thấy có những dấu hiệu về việc Bạch Thị Thanh Thuý chuẩn bị trốn đi nước ngoài nên cần phải tiến hành bắt đối với Bạch Thị Thanh Thuý. Tuy nhiên khi trao đổi vấn đề này với Điều tra viên đang thụ lý hồ sơ vụ án thì  Điều tra viên này cho rằng, hiện nay Bạch Thị Thanh Thuý đang phải nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên không thể bắt Thuý được.
    Câu hỏi 5: Theo anh (chị), trường hợp này có tiến hành bắt Bạch Thị Thanh Thuý được không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung:

    Cơ quan điều tra hoàn tất Bản kết luận điều tra và gửi hồ sơ đến Việ kiểm sát. Khi nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát viên được phân công thụ lý hồ sơ vụ án phát hiện, ngoài hành vi làm chết anh Quang, Thuý với Thọ đã có quá trình quan hệ bất chính với nhau khá lâu, đã rất nhiều lần họ hẹn hà cùng đến một địa điểm khác nhau để cùng qua đêm ở đó. Vì vậy, Kiểm sát viên đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn Thọ và Bạch Thị Thanh Thuý về tội: “Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Hình sự.
    Câu hỏi 6: Theo anh (chị) hoạt động nêu trên của Kiểm sát viên như vậy là đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    Tình tiết bổ sung:

    Ngày 16/10/2004 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T đã có cáo trạng đối với vụ án. Trên cơ sở của bản cáo trạng, ngày 25/12/2004 Toà án nhân dân tỉnh T có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
    Câu hỏi 7: Theo anh (chị), Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T cần truy tố ai, theo tội danh, điều khoản nào của Bộ luật hình sự thì mới đúng pháp luật? Trên cơ sở của cáo trạng đó Toà án nhân dân tỉnh T cần quyết định xét xử đối với ai? theo tội danh, điều khoản nào? giải thích tại sao?

    TÌNH HUỐNG 8

    Ngày 5/7//2004, Nguyễn Văn A (sinh ngày 12/5/1988), Phạm Văn B (sinh ngày 20/6/1988) và Đỗ Văn C (sinh ngày 15/8/1988) cùng trú tại xã XĐ, huyện Đ, tỉnh HN rủ nhau đến nhà chị Phạm Thanh H lấy trộm số tiền trúng thưởng xố số của chị. Sau khi bàn bạc, để tránh bị phát hiện, cả ba thống nhất giao cho C đến nhà chị H (cũng ở xã XĐ) đe doạ chị H phải giao cho chúng một phần tiền trúng thưởng xổ số, nếu không chúng sẽ nói với chồng chị H về việc chị H có quan hệ bất chính với anh Trần T (là hàng xóm của C, B). Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến nhà chị H. C nói “chia cho bọn này một phần thì bọn này giữ kín chuyện cho, bằng không cả xã này biết bà ngoại tình”, chị H đã khước từ và thách thức sẽ báo cho công an biết về hành vi tống tiền của bọn chúng. Một phần vì sợ bị phát hiện, phần khác lại muốn có một khoản tiền để tiên xài, C liền rút dao trong người ra khống chế buộc chị H phải mở cửa tủ lấy tiền đưa cho C. Trong lúc chị H đang mở tủ lấy tiền thì anh T đến. Thấy anh T, C hoảng sợ đẩy chị H về phía anh T rồi cầm túi tiền bỏ chạy. Chị H hô hoán kêu cứu. Đúng lúc đó, anh M công an xã XĐ đi qua đã kịp thời đuổi bắt được C và trả lại chiếc túi trong đó có 40.000.000đ tiền trúng thưởng xổ số cho chị H.
    Câu hỏi 1: Hãy xác định tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với hành vi nêu trên của A,B,C? Giải thích tại sao?

    Tình tiết bổ sung:

    Ngày 6/7/2004, công an huyện Đ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với C. Theo lời khai của C, công an huyện Đ đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn A và Phạm Văn B. Cùng ngày, công an huyện Đ cũng ra lệnh tạm giam đối với A,B,C từ ngày 6/7/2004 đến ngày 5/11/2004. Việc bắt và tạm giam các bị can được thông báo cho gia đình các bị can vào chiều ngày 7/7/2004.
    Ngày 12/7/2004, lợi dụng sơ hở, Đỗ Văn C đã bỏ trốn khỏi trại tạm giam. Cơ quan điều tra không ra lệnh truy nã bị can mà vẫn tiếp tục tiến hành điều tra, hoàn thiện hồ sơ vụ án.
    Câu hỏi 2: Anh (chị) có nhận xét gì về hoạt động tố tụng mà cơ quan điều tra đã tiến hành?

    Tình tiết bổ sung

    Ngày 20/9/2004, cơ quan điều tra công an huyện Đ đã đưa ra bản kết luận điều tra đề nghị VKSND huyện Đ truy tố Nguyễn Văn A, Phạm Văn B và Đỗ Văn C về tội cướp tài sản theo Điều 133 BLHS, truy tố Đỗ Văn C về tội trốn khỏi nơi giam theo Điều 311 BLHS đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát.
    Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, luật sư Nguyễn Thế A bào chữa cho hai bị can A và B phát hiện trong biên bản lấy lời khai của C ngày 5/7/2004 không có chữ ký người đại diện hợp pháp của C; biên bản hỏi cung A,B ngày 6/7//2004 cho thấy điều tra viên đã không giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can.
    Câu hỏi 3: Theo anh (chị) việc làm nêu trên của cơ quan điều tra có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Ngày 5/10/2004, VKSND huyện Đ ra bản cáo trạng truy tố bị can A,B,C .
    Ngày 10/11/2004, TAND huyện Đ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngày 12/11/2004, Đỗ Văn C ra trình diện tại toà án và xin được mời luật sư bào chữa.
    Câu hỏi 4: Tòa án có chấp nhận yêu cầu của C không? Tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Ngày 22/11/2004, TAND huyện Đ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai đối với các bị cáo A,B,C.
    Chị Phạm Thanh H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Chị H có gửi đơn giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo vì họ còn quá trẻ.
    Câu hỏi 5: Hội đồng xét xử lựa chọn phương án nào trong các phương án dưới đây? Lý do?
    – Hoãn phiên toà;
    – Xét xử vắng mặt cho người bị hại;
    – Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.

    Tình tiết bổ sung

    Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Văn C khai: ngày 15/6/2004, C cùng Nguyễn Thanh N đã ăn trộm chiếc xe mini Nhật của nhà anh chị H và tình cờ phát hiện việc chị H ngoại tình với anh T.C và N bán chiếc xe đạp được 800.000 đồng, C được N chia cho 200.000 đồng. Sự việc này không bị công an phát hiện.
    Câu hỏi 6: Hội đồng xét xử phải giải quyết tình huống này như thế nào?
    Câu hỏi 7: Theo anh(chị), hội đồng xét xử có coi tình tiết nêu trên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với C khi quyết định hình phạt không? Tại sao?

    Câu 1: A thực hiện hành vi cướp giật, ngay sau đó đã bị quần chúng nhân dân đuổi theo và bắt được. A bị dẫn giải đến trụ sở Công an quận vào lúc 10 giờ sáng. Hỏi:
    1. Theo quy định hiện hành của Luật TTHS Việt Nam, thủ tục tạm giữ A được thực hiện như thế nào?
    2. Thời hạn tạm giữ A được tính từ thời điểm nào? A có thể bị tạm giữ tối đa là bao lâu?
    3. CQĐT ra quyết định khởi tố bị can đối với A theo khoản 1 điều 136 BLHS, thì CQĐT có thể ra lệnh tạm giam A được không?
    4. Giả sử trong quá trình tạm giam, phát hiện A là người bị bệnh nặng và có người đủ điều kiện bảo lĩnh thì Thủ trưởng CQĐT có thể ra quyết định thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh không? Tại sao?
    Câu 2.
    Hãy nêu hướng giải quyết của VKS và chỉ rõ căn cứ pháp lý khi phát hiện :
    a) quyết định không khởi tố VAHS của cơ quan điều tra không có căn cứ.
    b) có căn cứ cho rằng có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong cùng vụ án sau khi đã nhận hồ sơ và đề nghị truy tố của CQĐT.
    c) có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác sau khi nhận được hồ sơ vụ án và đề nghị truy tố của cơ quan điều tra theo thủ tục rút gọn.

    Câu 3 .
    Hãy nêu hướng giải quyết và chỉ rõ căn cứ pháp lý để áp dụng của HĐXX phúc thẩm trong các trường hợp:
    a)    xác định được căn cứ tăng nặng hình phạt đối với bị cáo kêu oan.
    b)     xác định tội phạm được thực hiện đã hết thời hiệu truy cứu TNHS.
    c)    có căn cứ xác định toà án cấp ST đã nhận tiền chạy án và đã xét xử không đúng thẩm quyền.

    Câu 4: Viện kiểm sát giải quyết như thế nào trong trường hợp sau:
    a. Cơ quan điều tra không đảm bảo có người bào chữa cho bị can là người chưa thành niên.
    b. Có căn cứ cho rằng bị can phạm tội khác.
    Câu 5: Tòa án giải quyết như thế nào trong các trường hợp sau đây:
    a. Phát hiện tội phạm, người phạm tội mới trước khi mở phiên tòa sơ thẩm.
    b. Phát hiện tội phạm, người phạm tội mới trong khi xét xử.

    Ngoài Bộ câu hỏi ôn tập môn Luật Tố tụng Hình sự này ra các bạn có thể tham khảo thêm bộ câu hỏi Bộ câu hỏi ôn tập môn Tố tụng Hình sự có gợi ý trả lời

    [/lock]

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Hướng dẫn trả lời câu hỏi bài tập môn Thương Mại 1: Công ty hợp danh không có quyền thuê giám đốc?

    Đúng.

    Tổng Hợp Một Số Đề Thi Vấn Đáp Thương Mại MODULE 1

    Khoản 1, Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2014 ghi rõ:  Tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.

    Mặt khác tại điềm b, khoản 2 điều Điều 182. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn.
    Thành viên góp vốn có các nghĩa vụ sau đây: Không được tham gia quản lý công ty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công ty.

    Công ty hợp danh có những ràng buộc mà chỉ thành viên mới đáp ứng được. “Điều lệ công ty quy định khác” là không cho giám đốc hoặc tổng giám đốc kiêm nhiệm mà chỉ giữ chức chủ tịch hội đồng thành viên thôi.

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Câu 1: Nguyên nhân ra đời của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin.

                Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là tổ chức quyền lực công của quốc gia, nhờ có pháp luật và những phương tiện cưỡng chế hợp pháp nên có khả năng tổ chức và quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền và nhằm thiết lập, giữ gìn trật tự xã hội; nhà nước là đại diện chính thức cho quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội, đối ngoại và là chủ thể độc lập trong các quan hệ quốc tế.
    Nguyên nhân ra đời của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác lê nin: Theo học thuyết Mác lê nin thì nhà nước không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến. nhà nước cũng không phải là lực lượng từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, nó xuất hiện 1 cách khách quan, khi xã hội đã phát triển đến giai đoạn nhất định. Có nhiều nhân tố tác động dẫn đến sự ra đời của nhà nước, trong đó nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội giữ vai trò quyết định.

                Nhân tố Kinh tế: Lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, và đến giai đoạn nhất định thì chế độ tư hữu xuất hiện để thay thế cho chế độ công hữu nguyên thủy đã tồn tại rất lâu trong hình thái kinh tế xã hội đầu tiên của loài người. Tình trạng bất bình đẳng về kinh tế, khả năng người này có thể chiếm đoạt lợi ích kinh tế của người khác đã làm phát sinh những mâu thuẫn và đối kháng, đòi hỏi phải có thiết chế nhà nước có đủ sức mạnh để duy trì trật tự xã hội.
                Nhân tố Xã hội: Những thay đổi về kinh tế đã tác động làm biến đổi quan hệ xã hội. Kết cấu xã hội thay đổi, chế độ thị tộc được xây dựng trên cơ sở huyết thống bị phá vỡ; gia đình cá thể xuất hiện và dần dần thay thế chế độ gia đình thị tộc. Sự xuất hiện giai cấp đã dẫn tới mâu thuẫn và đối kháng. Đấu tranh giai cấp diễn ra không ngừng và ngày càng gay gắt, trật tự xã hội bị đe dọa, đòi hỏi phải có nhà nước –“lực lượng này sinh từ xã hội” nhưng có vị thế” tựa hồ như đứng trên xã hội”, có khả năng làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó diễn ra trong vòng “ trật tự”.
    ( Blah Blah bốc phét về cac lần phân công lao động, rồi sự xuất hiện của các nhà nước theo thời gian)

    Câu 2: Khái niệm nhà nước:

                Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là tổ chức quyền lực công của quốc gia, nhờ có pháp luật và những phương tiện cưỡng chế hợp pháp nên có khả năng tổ chức và quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền và nhằm thiết lập, giữ gìn trật tự xã hội; nhà nước là đại diện chính thức cho quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội, đối ngoại và là chủ thể độc lập trong các quan hệ quốc tế.
    Đặc điểm:
    –          Nhà nước là tổ chức quyền lực công của quốc gia bởi vì quyền lực của nó tồn tại một cách công khai, mọi tổ chức và cá nhân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đều biết, và đều phải phục tùng. Quyền lực của nhà nước cũng là quyền lực công cộng, chung cho cả cộng đồng vì quyền lực đó thường được tạo nên và được thực hiện bởi một cộng đồng người nhất định, thường đại diện và bảo vệ lợi ích của một giai cấp, một liên minh giai cấp, một cộng đồng dân cư trong một địa phương hoặc toàn quốc gia, toàn dân tộc.
    Quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức nhà nước từ trung ương tới địa phương, cơ sở, trong đó các cơ quan bạo lực trấn áp như quân đội, cảnh sát, tòa án, viện công tố… Các cơ quan, tổ chức đó bao gồm một lớp người tựa hồ như tách ra khỏi xã hội để chuyên thực thi quyền lực nhà nước, chuyên làm nhiệm vụ quản lý, cưỡng chế hoặc cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Nhờ vậy, nhà nước có thể tổ chưc, quản lý, điều hành xã hội, có thể thiết lập, củng cố và giữ gìn trật tự xã hội.
    –          Nhà nước tổ chức và quản lý dân cư sống trong lãnh thổ của nó theo địa bàn cư trú của ho hay theo các đơn vị hành chính- lãnh thổ mà không tập hợp và quản lý dân cư theo mục đích, chính kiến, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính… như các tổ chức khác. Do đó, nhà nước là tổ chức có cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất trong xã hội.
    –          Nhà nước đại diện chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc thực hiện chủ quyền quốc gia.
    Mặc dù chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân, nhưng do nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện nên nhà nước là đại diện chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội và đối ngoại. Ở trong nước thì quy định của nhà nước có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan. Các tổ chức khác chỉ được thành lập hoặc được tồn tại và hoạt động một cách hợp pháp khi được nhà nước cho phép hoặc công nhận. Còn trong quan hệ đối ngoại, nhà nước có toàn quyền xác định và thực hiện các đường lối, chính sách đối ngoại của mình.
    –          Nhà nước ban hành ra pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nên pháp luật có thể được triển khai và thực hiện 1 cách rộng rãi trong toàn xã hội và pháp luật trở trành một trong những phương tiện quản lý có hiệu quả nhất của nhà nước.
    –          Bb có quyền phát hành tiền, công trái, có quyền quy định và thực hiện thu các loại thuế theo số lượng và thời hạn được ấn định trước, đồng thời, nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội nên nó có lực lượng vật chất to lớn, không chỉ có thể trang trải cho các hoạt động của nó và những hoạt động cơ bản của xã hội mà còn có thể hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho một số tổ chức khác.

    Câu 3: Các dấu hiệu ( đặc điểm) cơ bản của nhà nước.

                Như trên.

    Câu 4: Bản chất của nhà nước.

    –          Khái niệm bản chất nhà nước: Xem xét quá trình hình thành nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lenin. Có thể khẳng định, xét về bản chất, nhà nước là một hiện tượng xã hội luôn thể hiện tính giai cấp và tình xã hội.
    Nhà nước có 2 tính chất ấy là vì:
    –          Nhà nước xuất hiện vừa do nhu cầu khách quan của sự thống trị giai cấp, vừa do nhu cầu điều hành và quản lý xã hội.
    –          Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp, tức là xã hội đã phát triển đến một trình độ và 1 giai đoạn nhất định, giai đoạn có sự phân chia con người thành các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội có khả năng kinh tế và địa vị khác biệt nhau, mâu thuẫn và đấu tranh với nhau.
    –          Nhà nước là hình thức tổ chức của xã hội có sự phân hóa giai cấp bởi vì sau khi trrong xã hội đã có sự phân hóa và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt thì hình thức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp, mà phải tổ chức thành nhà nước với bộ máy quản lý và cưỡng chế của nhà nước mới đủ khả năng điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập, củng cố, duy trì trật tự và sự ổn định của xã hội, để xã hội có thể tồn tại và phát triển.
    Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại và phát triền trong xã hội có giai cấp nên nó có tình giai cấp sâu sắc. Tính giai cấp của nhà nước được thẻ hiện ở chỗ:  nhà nước là bộ máy chuyên chính giai cấp, tức là công cụ để thực hiện, củng cố và bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thống trị của giai cấp thống trị hay của lực lượng cầm quyền trong xã hội. Sự thống trị xã hội còn được thể hiện trong các lĩnh vực Kinh tế, Chính trị và Tư tưởng.
    Tóm lại, dưới góc độ tính giai cấp, nhà nước là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực lượng cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thống trị về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng của lực lượng này đối với toàn xã hội.
    –          Tuy nhiên, nhà nước không chỉ có tính giai cấp, mà còn có tính xã hội.  Tính xã hội của nhà nước được thể hiện ở chỗ, nó là bộ máy để tổ chức, điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập, củng cố và giữ gìn trật tự và sự ổn định của xã hội, để bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển chung của xã hội.
    Với tư cách là một tổ chức quyền lực công, là đại diện chính thức cho toàn quốc gia dân tộc trong tất cả các mối quan hệ đối nội và đối ngoại, nhà nước phải giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh trong xã hội vì lợi ích chung và sự phát triền của toàn xã hội.
    Nhà nước có nhiều hoạt động vì lợi ích chung của cả cộng đồng như: xây dựng và phát triển giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội: đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện…; tổ chức, điều hành và quản lý các dịch vụ công.
    Nhà nước ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế để điều tiết nền kinh tế, đầu tư và khuyến khích phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tạo lập sự ổn định và thúc đầy sự tăng trưởng của nền kinh tế, tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển xã hội. Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các chinh sách xã hội để bảo vệ sự công bằng xã hội.
    Nhà nước là bộ máy cưỡng chế để bảo vệ công lý, công bằng xã hội; bảo vệ trật tự chung trong các lĩnh vực của đời sống.
    Nhà nước là công cụ để giữ gìn và phát triển những tài sản văn hóa tinh thần chung của xã hội, những giá trị đạo đức, những truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.
    Tóm lại, tính giai cấp và tính xã hội là thuộc tính chung của tất cả các nhà nước, song mức độ thể hiện của hai tính chất này và mối tương quan giữa các tính chất đó trong quá trình hoạt động của nhà nước sẽ khác nhau ở các nhà nước khác nhau.

    Câu 5: Tính xã hội của nhà nước:

    –          Tuy nhiên, nhà nước không chỉ có tính giai cấp, mà còn có tính xã hội.  Tính xã hội của nhà nước được thể hiện ở chỗ, nó là bộ máy để tổ chức, điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập, củng cố và giữ gìn trật tự và sự ổn định của xã hội, để bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển chung của xã hội.
    Với tư cách là một tổ chức quyền lực công, là đại diện chính thức cho toàn quốc gia dân tộc trong tất cả các mối quan hệ đối nội và đối ngoại, nhà nước phải giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh trong xã hội vì lợi ích chung và sự phát triền của toàn xã hội.
    Nhà nước có nhiều hoạt động vì lợi ích chung của cả cộng đồng như: xây dựng và phát triển giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội: đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện…; tổ chức, điều hành và quản lý các dịch vụ công.
    Nhà nước ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế để điều tiết nền kinh tế, đầu tư và khuyến khích phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tạo lập sự ổn định và thúc đầy sự tăng trưởng của nền kinh tế, tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển xã hội. Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các chinh sách xã hội để bảo vệ sự công bằng xã hội.
    Nhà nước là bộ máy cưỡng chế để bảo vệ công lý, công bằng xã hội; bảo vệ trật tự chung trong các lĩnh vực của đời sống.
    Nhà nước là công cụ để giữ gìn và phát triển những tài sản văn hóa tinh thần chung của xã hội, những giá trị đạo đức, những truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.
    Tóm lại, tính giai cấp và tính xã hội là thuộc tính chung của tất cả các nhà nước, song mức độ thể hiện của hai tính chất này và mối tương quan giữa các tính chất đó trong quá trình hoạt động của nhà nước sẽ khác nhau ở các nhà nước khác nhau.

    Câu 6: Tính giai cấp của nhà nước: ( xét kỹ câu 4)

    –          Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp, tức là xã hội đã phát triển đến một trình độ và 1 giai đoạn nhất định, giai đoạn có sự phân chia con người thành các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội có khả năng kinh tế và địa vị khác biệt nhau, mâu thuẫn và đấu tranh với nhau.
    –          Nhà nước là hình thức tổ chức của xã hội có sự phân hóa giai cấp bởi vì sau khi trrong xã hội đã có sự phân hóa và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt thì hình thức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp, mà phải tổ chức thành nhà nước với bộ máy quản lý và cưỡng chế của nhà nước mới đủ khả năng điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập, củng cố, duy trì trật tự và sự ổn định của xã hội, để xã hội có thể tồn tại và phát triển.
    Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại và phát triền trong xã hội có giai cấp nên nó có tình giai cấp sâu sắc. Tính giai cấp của nhà nước được thẻ hiện ở chỗ:  nhà nước là bộ máy chuyên chính giai cấp, tức là công cụ để thực hiện, củng cố và bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thống trị của giai cấp thống trị hay của lực lượng cầm quyền trong xã hội. Sự thống trị xã hội còn được thể hiện trong các lĩnh vực Kinh tế, Chính trị và Tư tưởng.
    Tóm lại, dưới góc độ tính giai cấp, nhà nước là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực lượng cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thống trị về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng của lực lượng này đối với toàn xã hội.

    Câu 7: Khái niệm cơ quan nhà nước:

    Định nghĩa: Cơ quan nhà nước là khái niệm dung để chỉ một nhóm người được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật, nhân danh nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước.
    Đặc điểm:
    –          Cơ quan nhà nước có thể gồm một người hoặc một nhóm người.
    –          Trình tự thành lập và cơ cấu tổ chức của có quan nhà nước là do pháp luật quy định.
    –          Cơ quan nhà nước nhân danh và sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện thẩm quyền của mình. Thẩm quyền của cơ quan nhà nước là toàn bộ những quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định cho nó. Thẩm quyền của cơ quan nhà nước bao gồm những nội dung sau: có quyền ban hành những văn bản pháp luật nhất định, tức là những văn bản  có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan; có quyền yêu cầu các tổ chức có liên quan phải thực hiện trong thực tế những văn bản mà cơ quan nhà nước ấy ban hành và đã hiệu lực pháp lý, các văn bản đó được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước.
    –          Mỗi cơ quan nhà nước sẽ thực hiện những chức năng riêng theo quy định của pháp luật/.
    –          Những người đảm nhiệm chức vụ trong các cơ quan nhà nước phải là công dân.

    Câu 8: Phân biệt nhà nước với các tổ chức chính trị khác.

    Sở dĩ nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị là bởi vì so với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, nhà nước có ưu thế vượt trội trên nhiều mặt, từ đó ta có thể dễ dàng phân biệt nhà nước với các tổ chức chính trị khác.
    –          Nhà nước có quyền lực nhà nước bao trùm xã hội, chi phối mọi hoạt động của xã hội.
    –          Nhà nước có pháp luật, công cụ quản lý xã hội có hiệu quả nhất.
    –          Nhà nước có các bộ máy cưỡng chế đặc biệt.
    –          Nhà nước có tiềm lực kinh tế lớn nhất.
    –          Nhà nước có chủ quyền quốc gia, do đó có thể thiết lập các mối quan hệ với các nhà nước khác, với các tổ chức quốc tế. Nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các nhà nước và các tổ chức quốc tế.

    Câu 9: Khái niệm chức năng của nhà nước. Các hình thức và phương pháp thực hiện chức năng của nhà nước.

                Chức năng là hoạt động, vai trò, tác dụng của một người, một tổ chức hoặc một cái gì đó, và có thể hiểu Chức năng của nhà nước là những mặt hoạt động của nhà nước thể hiện bản chất, vai trò của nó và nhằm thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của nhà nước.
    Khi nhắc đến chức năng của nhà nước thì phải phân biệt với nhiệm vụ của nhà nước. Nói đến nhiệm vụ của nhà nước là nói đến những công việc mà nhà nước phải làm vì một mục đích trong một thời gian nhất định. Tùy theo tính chất của chúng mà nhiệm vụ của nhà nước được chia làm 2 loại: nhiệm vụ cơ bản, chiến lược hay lâu dài và nhiệm vụ cụ thể, cấp bách hay trước mắt. Nhiệm vụ cơ bản có vai trò quyết định đối với việc xác định và thực hiện chức năng, còn nhiệm vụ cụ thể lại được xác định và thực hiện nhằm thực hiện chức năng.
    –          Hình thức thực hiện chức năng của nhà nước: nhà nước có nhiều hình thức hoạt động để thực hiện chức năng của mình trong đó có 3 hình thức cơ bản hay hình thức mang tính pháp lý được thể hiện trong tất cả các nhà nước là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Ngoài ra, còn có các hình thức ít hoặc không mang tính pháp lý: như những biện pháp tổ chức- xã hội trực tiếp ( tổ chức các cuộc hội thảo, mít tinh, biểu tình của quần chúng, các phong trào thi đua…), những hoạt động tác nghiệp vật chất- kỹ thuật: đánh máy, văn thư, lưu trữ…; những hoạt động mang tính quyền lực pháp lý như hoạt động thi hành các biện pháp cưỡng chế của nhà nước: bắt buộc chữa bệnh, giải phóng mặt bằng…
    –          Phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước. Gồm 2 phương pháp chính là cưỡng chế và thuyết phục. Việc sử dụng 2 phương phap này là khác nhau trong các nhà nước khác nhau, ngoài ra còn có các phương pháp khác như tổ chức, hành chính,kinh tế…

    Câu 10: Hình thức của nhà nước.

                Có nhiều cách định nghĩa về hình thức của nhà nước, song quan niệm được nhiều người thừa nhận là: hình thức nhà nước là cách thức và phương pháp tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, trong đó cách thức là “Hình thức diễn ra của một hành động”, còn phương pháp là ”Hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó”.
    Khái niệm hình thức nhà nước được cấu thành bởi các yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.
    –          Hình thức chính thế: Hình thức chính thể nhà nước là cách thức và trình tự thành lập các cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau và với nhân dân.
    Các dạng chính thế: Hình thức chính thể nhà nước bao gồm hai dạng cơ bản là quân chủ và cộng hòa.
    –          Quân chủ là hình thức mà quyền lực cao nhất của nhà nước tập trung toàn bộ hoặc một phần trong tay người đứng đầu nhà nước là nhà vua hoặc hoàng đế, quốc vương… lên ngôi theo chế độ thế tập. Trong chính thể quân chủ, người đứng đầu nhà nước về mặt pháp lý được coi là có quyền hành cao nhất. Phần lớn các nhà vua hoặc những người có danh hiệu tương tự được nắm quyền lực qua con đường thừa kế, hay cha truyền con nối. Song cũng có những nhà vua lên ngôi bằng các hình thức khác nhau chỉ định, suy tôn, bầu cử, tự xưng, được phong vương hoặc tiếm quyền… đó là những ngoại lệ, tuy nhiên thì thường sau đó, nguyên tắc thừa kế ngôi vua lại được xác lập cho những đời sau.
    Chính thể Quân chủ bao gồm nhiều dạng, căn cứ vào phạm vi quyền lực của nhà vua có thể chia thành hai dạng cơ bản là quân chủ chuyên chế và quân chủ hạn chế.
    –          Cộng hòa là hình thức mà quyền lực cao nhất của nhà nước thuộc về một hoặc một số cơ quan được thành lập theo nguyên tắc bầu cử. Trong chính thể này, quyền lực cao nhất của nhà nước được trao cho một số cơ quan chủ yếu bằng con đường bầu cử.
    Tùy theo đối tượng được hưởng quyền tham gia vào việc thành lập cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước mà chính thể cộng hòa cũng có các dạng khác nhau là cộng hòa quý tộc và cộng hòa dân chủ. Cộng hòa quý tộc là hình thức mà quyền bầu cử và được bầu vào cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước chỉ thuộc về tầng lớp quý tộc. Cộng hòa dân chủ là chính thể về mặt pháp lý, quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước thuộc về mọi công dân khi có đủ những điều kiện luật định. Còn chính thể cộng hòa dân chủ lại có nhiều dạng tùy theo từng nhà nước như cộng hòa chủ nô, cộng hòa phong kiến, cộng hòa tư sản và cộng hòa xã hội chủ nghĩa…

    Câu 11: Hình thức chính thế của nhà nước ( như câu 10)

    Câu 12: Hình thức cấu trúc của nhà nước.

    –          Định nghĩa: Hình thức cấu trúc nhà nước là cách cấu tạo nhà nước thành các cơ quan theo đơn vị hành chính – lãnh thổ, xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau và với các cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước.
    –          Các dạng: Hình thức cấu trúc nhà nước bao gồm hai dạng cơ bản là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.
    Nhà nước đơn nhất là một nhà nước duy nhất và có chủ quyền hoàn toàn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Thông thường, ở nhà nước đơn nhất chỉ có một nhà nước có và thực hiện toàn bộ quyền lực nhà nước trên toàn lãnh thổ. Nhà nước đơn nhất có các đặc trưng sau đây:
    o    Nó có 1 hệ thống cơ quan nhà nước và một hệ thống pháp luật duy nhất từ trung ương tới địa phương. Các cơ quan nhà nước ở trung ương có thẩm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên toàn lãnh thổ, các cơ quan nhà nước ở địa phương phải phụ thuộc vào các cơ quan trung ương; có một bản Hiến pháp và một hệ thống pháp luật duy nhất có hiệu lực trên toàn lãnh thổ. Các cơ quan nhà nước và tự quản ở địa phương có trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật nhất định nhưng phải phù hợp với văn bản của trung ương, không một lãnh thổ trực thuộc nào có quyền đặt ra quốc tịch riêng cho công dân,
    o   Lãnh thổ của nhà nước đơn nhất được phân chia thành các đơn vị hành chính- lãnh thổ không có chủ quyền nhà nước và gồm các cấp khác nhau. Do đó, nhà nước này có 2 hệ thống chính quyền là trung ương và địa phương.
    Nhà nước liên bang là một nhà nước do nhiều nhà nước hợp thành trong đó có một nhà nước chung cho toàn liên bang và mỗi bang thành viên có một nhà nước riêng. Tuy có nhiều nhà nước song chỉ có nhà nước liên bang mới có chủ quyền hoàn toàn, mới được đại diện cho toàn bộ quốc gia, dân tộc để thực hiện chủ quyền quốc gia và mới là chủ thể độc lập của luật quốc tế. Nhà nước này có các đặc trưng sau đây:
    –          Nó có nhiều hệ thống cơ quan nhà nước, trong đó một hệ thống là chung cho toàn liên bang, có thẩm quyền tối cao trên toàn lãnh liên bang. Mỗi bang thành viên lại có một hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi bang đó.
    –          Nhà nước liên bang có nhiều hệ thống pháp luật, nhiều bản Hiến pháp trong đó một hệ thống và một bản hiến pháp là chung cho toàn liên bang, có hiệu lực pháp lý cao nhất và trên phạm vi toàn lãnh thổ liên bang, mỗi bang thành viên lại có 1 hệ thống pháp luật riêng chỉ có hiệu lực trong phạm vi bang đó.
    –          Nhà nước này có ba hệ thống chính quyền là liên bang, bang, địa phương.  Sự phân chia quyền lực giữa nhà nước liên bang với các nhà nước thành viên được thể hiện rất rõ trong cả 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
    Ngoài ra còn có nhà nước liên minh, ví dụ như Liên minh Châu Âu EU.

    Câu 13: Khái niệm pháp luật.

                Định nghĩa: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm Mác- Lenin)
                Các đặc điểm của pháp luật:
    –          Pháp luật có tình quyền lực nhà nước: bởi vì pháp luật được hình thành bằng con đường nhà nước, các quy định của pháp luật có thể do nhà nước đặt ra, song cũng có thể do nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự khác trong xã hội như phong tục tập quán, các quy tắc đạo đức,… Pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục, động viên, khen thưởng, tổ chức thực hiện cho đến các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Đây là đặc điểm riêng của pháp luật hay là đặc trưng của nó.
    –          Pháp luật có tính quy phạm phổ biến: Các quy định của pháp luật là những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do pháp luật dự liệu thì đều xử sự theo những cách thức mà nó đề ra. Tính quy phạm là dấu hiệu chung của tất cả các loại quy phạm xã hội, riêng pháp luật thì có tình quy phạm phổ biến, vì nó có giá trị bắt buộc tôn trọng và thực hiện đối với mọi tổ chức cá nhân trong xã hội.
    –          Pháp luật có tính hệ thống: Bản thân pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như dân sự, kinh tế, lao động…, song các quy định của pháp luật không tồn tại một cách riêng rẽ, mà giữa chúng có những mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau để tạo nên một chỉnh thể là hệ thống pháp luật. Đây là một trong những đặc điểm làm cho pháp luật khác với phong tục tập quán, đạo đức…
    –          Pháp luật có tính xác định về hình thức: tức là thường được thể hiện trong những hình thức nhất định, có thể là tập quán pháp, tiền lệ pháp, hoặc văn bản quy phạm pháp luật. Trong các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của pháp luật được thể hiện bằng văn nên thường rõ rang, cụ thể, bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trong một phạm vi rộng.
    –          Pháp luật có tính ý chí: Pháp luật luôn thể hiện ý chí của con người mà cụ thể là ý chí của nhà nước, của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền và của toàn xã hội.

    Câu 14: Bản chất pháp luật.

                Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm Mác- Lenin)
                Xét về bản chất, pháp luật luôn có tính giai cấp và tính xã hội.
    Sở dĩ pháp luật có hai tính chất đó là vì:
    –          Pháp luật chỉ ra đời, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của xã hội này.
    –          Pháp luật là một công cụ nằm trong tay lực lượng cầm quyền để bảo vệ quyền, địa vị thống trị và lợi ích của lực lượng đó.
    –          Pháp luật do nhà nước ban hành ra để điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội vì sự phát triển chung của toàn xã hội và vì lợi ích chung của cả cộng đồng.
    –          Nội dung của pháp luật là do các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội mà trước tiên là của giai cấp thống trị quyết định.

    Câu 15: Quan hệ giữa pháp luật với kinh tế:

                Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm Mác- Lenin)
                Định nghĩa kinh tế: khái niệm kinh tế có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về nó. Kinh tế là toàn bộ hoạt động của xã hội loài người trong lao động sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng các của cải vật chất làm ra.
    –          Tác động của kinh tế tới pháp luật:
    Kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật, cụ thể:
    o   Kinh tế quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của pháp luật.
    o   Kinh tế quyết định nội dung của pháp luật, các quy định của pháp luật là sự phản ánh các điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế, được xây dựng trên nền tảng kinh tế của xã hội và phải có sự đảm bảo của điều kiện kinh tế thì mới có tính khả thi.
    o   Tính chất của các quan hệ kinh tế quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật.
    o   Cơ chế kinh tế quyết định phương pháp điều chỉnh của pháp luật, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì phương pháp điều chỉnh của pháp luật là mệnh lệnh- phục tùng, còn trong cơ chế thị trường thì phương pháp điều chỉnh của pháp luật là bình đẳng và thỏa thuận.
    Do đó mọi sự biến động trong nền kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến những sự thay đổi tương ứng trong pháp luật.
    –          Tác động của pháp luật tới kinh tế.
    o   Pháp luật phụ thuộc vào kinh tế, là sự phản ánh trình độ phát triển của kinh tế, nội dung các quy định của nó không được cao hơn hay thấp hơn trình độ của nền kinh tế đã sinh ra nó. Tuy nhiên, với tính độc lập tương đối của mình, pháp luật có thể tác động trở lại tới sự phát triển của kinh tế theo 2 chiều hướng: thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế.
    o   Pháp luật có thể thúc đẩy kinh tế phát triển khi những quy định của nó phù hợp, phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế. Pháp luật góp phần phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt trái của nền kinh tế thị trường, chống độc quyền, chống bán phá giá…, ngược lại pháp luật có thể kìm hãm sự phát triển của kinh tế khi những quy định của nó cao hoặc thấp hơn so với trình độ của nền kinh tế.

    Câu 16: Quan hệ giữa pháp luật với chính trị

                Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm Mác- Lenin)
                Định nghĩa chính trị: Theo quan điểm của Lenin, chính trị là tham gia công việc nhà nước, là chỉ đạo nhà nước, là xác định những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nhà nước, xác định cơ cấu nhà nước, quản lý đất nước, đấu tranh giữa những đảng phái… Chính trị là biểu hiện của những lợi ích căn bản của các giai cấp và quan hệ giữa các giai cấp. Chính trị cũng biểu hiện mối quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia.
    Tác động qua lại giữa pháp luật với chính trị:
    –          Pháp luật và chính trị đều là những hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội, cùng dựa trên một nền tảng kinh tế xã hội nhất định, cùng có chung đối tượng phản ánh là đời sống kinh tế -xã hội.
    –          Chính trị có tác động trực tiếp tới pháp luật, nó là cơ sở, là nền tảng của pháp luật, nó chỉ đạo pháp luật. Các quan điểm, mục tiêu, đường lối chính trị của lực lượng cầm quyền sẽ giữ địa vị thống trị trong xã hội và vai trò chỉ đạo với pháp luật.
    –          Pháp luật điều chỉnh các quan hệ chính trị; tạo ra cơ sở pháp lý cho việc tổ chức, hoạt động của nhà nước và của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Pháp luật cụ thể hóa các chính sách đối ngoại, quy định trình tự, thủ tục thiết lập các quan hệ bang giao quốc tế nhằm xác định vị thế của quốc gia. Pháp luật là biểu hiện của chính trị, nó ghi nhận yêu cầu, nội dung, đường lối chính trị của lực lượng cầm quyền. Pháp luật là công cụ đắc lực để bảo vệ quyền lực chính trị trong xã hội. Pháp luật góp phần thực hiện mục tiêu, đường lối chính trị của lực lượng cầm quyền, cũng như góp phần loại trừ các quan điểm, mục tiêu và tổ chức chính trị của các lực lượng đối lập.

    Câu 17: Quan hệ giữa pháp luật với nhà nước.

    Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm Mác- Lenin)
    Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là tổ chức quyền lực công của quốc gia, nhờ có pháp luật và những phương tiện cưỡng chế hợp pháp nên có khả năng tổ chức và quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền và nhằm thiết lập, giữ gìn trật tự xã hội; nhà nước là đại diện chính thức cho quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội, đối ngoại và là chủ thể độc lập trong các quan hệ quốc tế.(theo Quan điểm Mác-Lenin)
    Tác động qua lại giữa pháp luật với chính trị.
    –          Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội cùng ra đời, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, cùng là những công cụ để thực hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Và còn là những công cụ để điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, cho nên nhà nước và pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau tới mức không thể thiếu nhau.
    –          Nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật vì nhà nước cần pháp luật để tổ chức bộ máy của mình, để thể hiện ý chí và quản lý xã hội. Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, là phương tiện để cụ thể hóa nhằm thực hiện các đường lối, chính sách, mục tiêu của nhà nước trong thực tế, giúp cho nhà nước điều hành và quản lý xã hội. Pháp luật còn là phương tiện để giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước. Tuy do nhà nước ban hành ra song khi có hiệu lực pháp lý thì pháp luật lại có giá trị rang buộc đối với nnl trình tự thành lập, cơ cấu tổ chức, các hoạt động… chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.
    –          Ngược lại, pháp luật cũng không thể tồn tại nếu không có nhà nước bởi vì pháp luật là do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhân và được nhà nước bảo đảm thực hiện.
    –          Vì thế nhà nước và pháp luật luôn luôn cùng một kiểu với nhau, nhà nước nào thì sẽ có pháp luật đó, đông thời nhà nước và pháp luật luôn cùng có trình độ phát triển với nhau.

    Câu 18 +19: So sánh pháp luật với phong tục tập quán, đạo đức và phân tích mối quan hệ giữa chúng.

    Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm Mác- Lenin)
    Định nghĩa phong tục tập quán: là những thói quen trong ứng xử của cộng đồng hay những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát trong một cộng đồng dân cư, được lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng, được bảo đảm bằng thói quen, bằng sức thuyết phục của chúng, bằng de luận xã hội và bằng cả các biện pháp cưỡng chế phi nhà nước.
    Định nghĩa đạo đức: là tổng thể các quan niệm của con người về điều thiện và điều ác, điều tốt và điều xấu, hành phúc và khổ đau, công bằng và bất công, lẽ sống, niềm tin… và những quy tắc xử sự hình thành trên cơ sở các quan điểm, ý niệm đó.
    Mối quan hệ giữa chúng:
    –          Tất cả các loại quy phạm xã hội khác đều tác động tới sự hình thành và thực hiện pháp luật. Nhiều quan niệm đạo đức được thể chế hóa trong pháp luật, nhiều phong tục tập quán, quy tắc đạo đức được thừa nhận trong pháp luật, qua đó góp phần tạo nên pháp luật đồng thời góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn. Ngược lại, những quy tắc đạo đức, phong tục tập quán nào trái với ý chí của nhà nước có thể trở thành tiền đề để nhà nước ban hành ra những quy định mới nhằm loại bỏ chúng ra khỏi xã hội.
    –          Pháp luật cũng có tác động lớn đến các loại quy phạm xã hội khác. Pháp luật có thể góp phần củng cố, phát huy vai trò, tác dụng thực tế của các quan niệm, quy tắc đạo đức, phong tục tập quán khi chúng phù hợp với ý chí của nhà nước và được thừa nhận trong pháp luật. Và ngược lại phong tục tập quán nào trái với ý chí của nhà nước thì thông qua các quy định thay thế hoặc cấm thực hiện các quy phạm đó trong xã hội.

    Câu 20: Hình thức pháp luật.

    Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm Mác- Lenin)
    Hình thức pháp luật có thể xem xét dưới hai góc độ: hình thức bên trong và hình thức bên ngoài.
    Hình thức bên trong của pháp luật  bao gồm các nguyên tắc chung của pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật.
    Hình thức bên ngoài của pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, hay là cách thức mà nhà nước sử dụng để chuyển ý chí của mình thành pháp luật. Hình thức bên ngoài của pháp luật cơ bản gồm có tập quan pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật.
    Trong chương trình học thì khi đề cập đến hình thức pháp luật thì chủ yếu là đề cấp đến hình thức bên ngoài.

    Câu 22: Ưu điểm và hạn chế của từng hình thức pháp luật.

    Hình thức bên ngoài của hình thức bên ngoài gồm có 3 loại
    –          Tập quán pháp: Tập quán hay là các quy tắc xử sự đã tồn tại trong xã hội dưới dạng phong tục tập quán, đạo đức hay tin điều tôn giáo nhưng phù hợp với ý chí của nhà nước và được nhà nước thừa nhận thành pháp luật, tức là những quy tắc xử sự chung được nhà nước đảm bảo thực hiện.
    Ưu điểm: Tập quán pháp xuất phát từ những thói quen, những quy tắc xử sự lâu đời nên đã ngấm sâu vào trong tiềm thức của nhân dân và được nhân dân tự giác tuân thủ. Vì thế, nó không chỉ góp phần vào việc tạo nên pháp luật mà còn tích cực vào tính hiệu quả của pháp luật.
    Hạn chế: Do tồn tại dưới dạng bất thành văn nên tập quán pháp thường chỉ được hiểu 1 cách ước lệ, nó còn có tình tản mạn, địa phương, khó bảo đảm có thể được hiểu vào thực hiện thống nhất trong phạm vi rộng. Vì thế tập quán pháp là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của pháp luật chủ nô và phong kiến. Hiện nay thì đã thu hẹp hơn rất nhiều và đóng vai trò phụ của pháp luật ở nhiều nước, trong đó có VN.
    –          Tiền lệ pháp hay án lệ: là các quyết định hoặc lập luận, nguyên tắc hoặc sử giải thích pháp luật do cơ quan xét xử ( tòa án hoặc trọng tài) đưa ra khi giải quyết một vụ việc thực tế cụ thể nào đó được nhà nước thưà nhận làm mẫu hoặc làm cơ sở để các cơ quan xét xử.
    Ưu điểm: Do được hình thành trong quá trình giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế nên tiền lệ pháp đa dạng và phong phú hơn quy định trong pháp luật thành văn, dễ phù hợp với thực tế cuộc sống; nó tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuận lợi hơn do những giải pháp mà nó đưa ra rất cụ thể; nó góp phần khắc phục những khó khăn, lỗ hổng, những điểm thiếu sót của pháp luật thành văn và tình trạng thiếu pháp luật.
                Hạn chế: các giải pháp do nó đưa ra rất khó khái quát toàn bộ thành các quy định chung của pháp luật, án lệ hình thành không phải bằng con đường xây dựng pháp luật nên ít nhiều thể hiện ý chí chủ quan của người áp dụng; thừa nhận án lệ có thể dẫn tới tình trạng tòa án tiếm quyền của nghị viện và chính phủ thông qua tòa án áp dụng án lệ.
    Việt Nam chưa thừa nhận hình thức này, việc thừa nhận này chỉ diễn ra ở các nước có chế độ Common Law ( pháp luật Anh- Mỹ)
    –          Văn bản quy phạm pháp luật: văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành ra theo trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định trong đó các quy tắc xử sự chung được nhà nước bảm đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
    Ưu điểm: văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng và ban hành 1 cách khá công phu, theo trình tự và thủ tục chặt chẽ và trong nhiều trường hợp là sự thể hiện trí tuệ của một tập thể nên tính khoa học tương đối cao. Các quy định được thể hiện bằng văn nên rõ ràng, cụ thể. Văn bản quy phạm pháp luật có thể đáp ứng kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống.
    Hạn chế: các quan hệ xã hội xảy ra trong cuộc sống thường rất đa dạng, phức tạp mà các quy định trong các văn bản pháp luật thường mang tính khái quát nên khó dự kiến được hết tất cả những tình huống, trường hợp xảy ra trong thực tế, vì thế, nếu chỉ sử dụng văn bản quy phạm pháp luật thì có thể dẫn đến tình trạng thiếu pháp luật. Những quy định trong các văn bản thường có tính ổn định cao nên có thể kém linh hoạt đối với xã hội biến đổi nhanh chóng như hiện nay, quy trình tạo ra quy phạm pháp luật cũng lâu dài và tốn kém hơn án lệ hay tập quán pháp. Vì thế,mặc dù là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất của nhiều nước hiện nay nhưng văn bản quy phạm pháp luật vẫn ko thể là hình thức duy nhất của pháp luật mà cần sử dụng kết hợp thêm án lệ và tập quán pháp.

    Câu 23: Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật( định nghĩa, đặc điểm)

    –          Định nghĩa: Văn bản quy phạm pháp luật: văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành ra theo trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định trong đó các quy tắc xử sự chung được nhà nước bảm đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
    Đặc điểm:
    –          Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành ra theo trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định.
    –          Văn bản quy phạm pháp luật có chứa các quy tắc xử sự chung được nhà nước bảm đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
    –          Văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong thực tế  cuộc sống và thực hiện trong những trường hợp có sự kiện pháp lý tương ứng với nó xảy ra cho đến khi nó hết hiệu lực. Bởi vì thế văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh mọi trường hợp, hoàn cảnh, điều kiện do nó dự liệu ra.
    –          Tên gọi, nội dung, trình tự và thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật.

    Câu 24: Bản chất nhà nước tư sản: chia ra làm 3 giai đoạn, nhớ đọc rồi chém gió.

    Câu 25: Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản.

    Nguyên tắc phân chia quyền lực được Montesquieu trình bày trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, theo ông nhà nước bao gồm ba thứ quyền lực chủ yếu là Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.
    Việc phân chia quyền lực nhà nước ở các nhà nước tư sản được phân chia the chiều ngang và chiều dọc. Theo chiều ngang được chia thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo chiều dọc, quyền lực nhà nước được phân chia giữa chính quyền trung ương và địa phương.

    Câu 26:  Hình thức của nhà nước tư sản:

    –          Hình thức chính thể: Có nhiều dạng chính thể vì mỗi nhà nước tư sản chọn cho mình con đường riêng phù hợp với điều kiện của mình. Hai dạng chính thể cơ bản là Quân chủ và Cộng hòa.
    Hình thức chính thể quân chủ chỉ còn lại hình thức quân chủ hạn chế với 2 hình thức là quân chủ nhị hợp và quân chủ đại nghị
    –          Hình thức Quân chủ nhị hợp là Nghị viện nắm quyền Lập pháp còn Nhà vua nắm quyền Hành pháp, hình thức này tồn tại tại Anh trong thế kỷ 17, ở Nhật theo hiến phap 1889…
    –          Hình thức Quân chủ đại nghị: Nhà vua chỉ còn quyền lực tượng trưng. Hình thức này đang tồn tại ở Anh, Thụy Điển, Nhật…
    Hình thức Cộng hòa: gồm 3 dạng là Cộng hòa Tổng thống, cộng hòa Đại Nghị, cộng hòa Lưỡng Tính.
    Cộng hòa Đại nghị: vừa có Tổng thống, vừa có thủ tướng, cả 2 đều có quyền hành pháp. Tuy nhiên Tổng thống không có thực quyền, Thủ tướng mới có thực quyền và Nghị viện có quyền lực tối cao
    Cộng hòa Lưỡng tính: Khác với cộng hòa Đại nghị, tổng thống trong CH lưỡng tính điều hành chính phủ, và tổng thống có quyền hành rất lớn.

    Câu 28: So sánh chính thể cộng hòa tổng thống với chính thể cộng hòa đại nghị. ( tự so sánh được )

    Câu 29: Những điểm tiến bộ cơ bản của pháp luật tư sản so với pháp luật phong kiến:

    –          Pháp luật tư sản được xây dựng dựa trên cơ sở các nguyên tắc bình đẳng, tự do và dân chủ.
    –          Nội dung những quy định của pháp luật tư sản hiện nay thể hiện tính nhân đạo cao hơn nhiều so với pháp luật phong kiến và pháp luật đã dần dần thoát ra khỏi sự chi phối có tính chất quyết định của tôn giáo.
    –          Phạm vi điều chỉnh của pháp luật tư sản ngày càng được mở rộng.
    –          Về hình thức pháp luật cao hơn nhiều so với pháp luật phong kiến.

    Câu 30: Bản chất và đặc điểm của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
    Bản chất của nhà nước ta được Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

    Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
    Bản chất của nhà nước ta được thể hiện ở những đặc điểm sau:
    –          Dưới góc độ tính giai cấp, nhà nước ta mang tính giai cấp công nhân.
    –          Tính giai cấp của nhà nước ta gắn liền hữu cơ với tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.
    –          Nhà nước ta phải là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, là nhà nước có tĩnh xã hội rộng rãi và rõ rệt.
    –          Nhà nước ta vừa là bộ máy cưỡng chế, trấn áp, vừa là bộ máy để tổ chức và xây dựng xã hội mới, điều hành và quản lý các lĩnh vực hoạt động cơ bản của đời sống.
    –          Nhà nước ta được xây dựng theo hướng trở thành nhà nước pháp quyền, tức là nhà nước khẳng định và bảo vệ sự thống trị pháp luật trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội, một nhà nước luôn luôn bị ràng buộc bởi chính pháp luật của mình, tuyệt đối tôn trọng và thực hiện pháp luật trong cả tổ chức lẫn hoạt động của nó.

    Câu 31: Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

    1.      Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế:
    a.      Tầm quan trọng của chức năng: Việc thực hiện tốt chức năng này có thể chứng tỏ sức sống và sự thắng lợi của xã hội chủ nghĩa.
    Nhà nước xã hội chủ nghĩa thay mặt nhân dân trực tiếp quản lý những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội nên phải trực tiếp thực hiện việc tổ chức và quản lý nền kinh tế của đất nước, coi đây là chức năng cơ bản, quan trọng hàng đầu.
    Việc thực hiện chức năng này giúp cho nhà nước xã hội chủ nghĩa xây dựng được nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
    Bằng việc thực hiện chức năng này, nhà nước xã hội chủ nghĩa trực tiếp tác động đến lĩnh vực sinh hoạt vật chất của xã hội, thông qua đó nó cũng tác động đến mọi mặt của đời sống.
    b.      Nội dung của chức năng:
    –          Xác định các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu.
    –          Xác định các chính sách tài chính, thuế, tiền tệ, giả cả, đầu tư, thu nhập.
    –          Xác định cơ chế kinh tế, các phương pháp quản lý kinh tế… để vừa thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, phát triển không ngừng, vừa bảo đảm sự cân đối, ổn định của nền kinh tế.
    c.       Thực tế thực hiện chức năng ở VN.
    –          Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, đó là sự ổn định về chính trị; kết cấu hạ tầng hiện đại; hệ thống pháp luật hoàn thiện; sự giao lưu, hợp tác quốc tế dễ dàng, thuận lợi.
    –          Hướng dẫn các hoạt động kinh tế, định hướng kinh tế phát triền toàn diện.
    –          Điều tiết các hoạt động kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, vững chắc, đảm bảo công bằng và an sinh xã hội.
    –          Kiểm soát các hoạt động kinh tế, phát huy mặt tích cực, ngăn ngừa và khống chế những biểu hiện tiêu cực, khắc phục những hạn chế.

    Câu 32: Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia của nhân dâ vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

    Lý do nguyên tắc:
    –          Trong xã hội, nhân dân là chủ của đất nước, của xã hội. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua nhiều tổ chức, song sự làm chủ cao nhất, tập trung nhất và có hiệu quả nhất là làm chủ bằng nhà nước và thông qua nhà nước.
    –          Để bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì phải tổ chức cho nhân dân có thể tham gia đông đảo và rộng rãi vào tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.
    Cơ sở pháp lý: Điều 2, 6, 7, 11… của hiến pháp 1992
    Thực tế thực hiện nguyên tắc : Khi thực hiện nguyên tắc này, phải cố gắng tìm ra cơ chế phù hợp để tạo điều kiện và khuyến khích nhân dân tham gia thực sự tích cực vào hoạt động bộ máy nhà nước.

    Câu 33: Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

    –          Lý do có nguyên tắc: thực hiện nguyên tắc này nhằm bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của cơ quan nhà nước ở trung ương với cơ quan nhà nước ở địa phương, giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cấp dưới.
    o   Bảo đảm phát huy tích cực của quần chúng nhân dân, của nhân viên các cơ quan nhà nước và nâng cao ý thức pháp luật, ý thức trách nhiệm của cán bộ, viên chức nhà nước.
    o   Thực hiện nguyên tắc này vừa có thể khắc phục được tình trạng chuyên quyền, độc đoán, vừa có thể tránh được tình trạng vô chính phủ trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước.
    –          Cơ sở pháp lý: ghi rõ tại điều 6 của Hiến pháp 1992.
    –          Nội dung của nguyên tắc:
    o   Về mặt tổ chức, nguyên tắc này thể hiện ở các điểm:
    §  Nhân dân trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện hay quyền lực nhà nước.
    §  Các cơ quan đó phải chịu trách nhiệm trước cơ quan đại diện và chịu sự kiểm soát , giám sát của nó.
    §  Các cơ quan, công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân…
    o   Về hoạt động, nguyên tắc này thể hiện ở những nguyên tắc sau:
    §  Các cơ quan nhà nước ở TW có quyền quyết định các vấn đề cơ bản, quan trọng của ctri, kinh tế,… trên cả nước.
    §  Các cơ quan nhà nước ở địa phương quyết định những vấn đề thuộc phạm vi của địa phương mình.
    §  Cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cơ quan quản lý phục tùng cơ quan quyền lực cùng cấp.
    §  Khi quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, các cơ quan TW phải nghe và cân nhắc các ý kiến và điều kiện của cấp dưới và địa phương.
    §  TW có quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan địa phương…
    –          Thực tế thực hiện nguyên tắc:
    o   Để thực hiện tốt thì phải phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan, phải thực hiện chế độ thông tin, báo cáo kịp thời… các vấn đề nảy sinh trong các cơ quan.
    o   Phải kết hợp hài hòa, đúng mức giữa tập trung với dân chủ.

    Câu 34: Nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

    Pháp chế có thể được hiểu là yêu cầu, đòi hỏi phải có sự tôn trọng và thực hiện pháp luật hiện hành một cách nghiêm chỉnh của mọi chủ thể trong xã hội.
    –          Lý do có nguyên tắc: bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả thì phải dựa trên nguyên tắc này.
    –          Cơ sở pháp lý của nguyên tắc: ghi rõ tại điều 12 Hiến pháp 1992.
    –          Nội dung của nguyên tắc:
    o   Đòi hỏi tất cả các cơ quan nhà nước phải theo trình tự thành lập, cơ cấu tổ chức mà pháp luật đã quy định, việc chia tách, sát nhập cơ quan nhà nước cũng vậy
    o   Trong hoạt động, các nhân viên và cơ quan nhà nước phải thực hiện đúng chức năng thẩm quyền cho pháp luật quy định.
    o   Mọi sự vi phạm pháp luật của nhân viên và cơ quan nhà nước đều phải bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
    o   Trong quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm phù hợp với Hiến Pháp, quy định ở cấp dưới phải phù hợp với cấp trên…
    –          Thực tế thực hiện nguyên tắc: Trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước, nguyên tắc pháp chế hầu như ko bị vi phạm, song quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước, tình trạng vi phạm nguyên tắc này vẫn còn khá phổ biến, Vì thế, việc xây dựng nhà nước pháp quyền có thể làm giảm bớt rồi đi đến chấm dứt tình trạng trên.

    Câu 35: Vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị XHCN Việt Nam.

    Hệ thống chính trị ở VN hiện nay gồm có:  Đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội được tổ chức và hoạt động theo một cơ chế bảo đảm đầy đủ quyền lực nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
    Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thì nhà nước có một vai trò hết sức quan trọng:
    –          Vị trí: nhà nước xã hội chủ nghĩa ở vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, là nơi hội tụ của đời sống chính trị xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa có quan hệ với tất cả tổ chức khác trong hệ thống chính trị, thu hút các tổ chức đó về phía mình. Các tổ chức khác trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là lực lượng hỗ trợ nhà nước.
    –          Vai trò: nhà nước xã hội chủ nghĩa giữ vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định trong hệ thống chính trị. Nó quyết định sự ra đời, tồn tại, phát triển của hệ thống chính trị. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân lao động. Nhà nước xã hội chủ nghĩa chi phối tất cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Nó cho phép thành lập cũng như làm mất đi một thành tố nào đó trong hệ thống chính trị. Nó có thể điều hòa được quan hệ giữa các lực lượng chính trị trong xã hội, nó là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực nhân dân và công cụ thực hiện quyền lực nhân dân.

    Câu 36: Quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội khác.

    a.       Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với Đảng cộng sản.
    –          Nhà nước xã hội chủ nghĩa và Đảng cộng sản là hai thành tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Giữa chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ. Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước, đồng thời nhà nước có sự tác động rất lớn đối với đảng. Sự lãnh đảo của Đảng cộng sản đối với nhà nước là 1 điều tất yếu, khách quan, phù hợp với quy luật phát triển. Đảng thể hiện sự lãnh đạo của mình đối với nhà nước bằng những hình thức phương pháp nhất định.
    Nhà nước xã hội chủ nghĩa có tác động tích cực đối với Đảng cộng sản, thể hiện qua những điểm sau đây:
    –          Nhà nước tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tồn tại, hoạt động và lãnh đạo của Đảng thông qua việc nhận sự lãnh đạo của Đảng trong pháp luật.
    –          Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức bảo đảm cho đường lối, chính sách của đảng có thể được triển khai và thực hiện trong toàn xã hội,
    –          Thông qua hoạt động thực tiễn, nhà nước kiểm nghiệm tính đúng đắn trong đường lối của của Đảng, từ đó có cơ sở đóng góp cho Đảng hoạch định đường lối phù hợp.
    –          Nhà nước bảo vệ đường lối cũng như tổ chức của Đảng để tạo điều kiện về cơ sở vật chất và các điều kiện khác cho đảng hoạt động.
    –          Nhà nước quản lý xã hội, quản lý các đảng viên và các tổ chức đảng bằng pháp luật, vì vậy, mọi tổ chức của đảng cũng như mọi đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

    Câu 37:Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với các tổ chức chính trị- xã hội khác.

    Tổ chức chính trị – xã hội là một nhóm người có liên kết với nhau một cách chặt chẽ, được thành lập theo những tiêu chí nhất định, tham gia vào đời sống chính trị xã hội, nhằm đạt được mục tiêu chính trị nhất định.
    Nhà nước tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời, tồn tại và hoạt động hợp pháp của các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng thông qua việc thừa nhận quyền tự do lập hội của công dân, cho phép các tổ chức đó được thành lập hoặc tồn tại và hoạt động, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức chính trị – xã hội khác thành lập; thu hút các tổ chức khác để làm chỗ dựa về chính trị cho mình; tôn trọng, lắng nghe ý kiến của các tổ chức đó; ủy quyền quản lý nhà nước cho các tổ chức đó trong một số trường hợp nhất địn; bảo vệ các tổ chức đó, tạo mọi điều kiện, kể cả về vật chất cho các tổ chức này hoạt động; kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của các tổ chức này.

    Câu 38: Xác định hình thức của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay.

    1.      Hình thức chính thể:
    Tất cả các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều có chính thể cộng hòa dân chủ, và Việt Nam cũng vậy.
    2.      Hình thức cấu trúc nhà nước:
    Vn là nhà nước đơn nhất, trong đất nước chỉ tồn tại một chế độ công dân, một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
    3.      Chế độ chính trị
    Chế độ chính trị ở Việt Nam là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    Câu 39: Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

    Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị tác động của văn bản quy phạm pháp luật lên các quan hệ xã hội được xác định trong phạm vi thời gian (khi nào?), không gian (ở đâu?) và đối tượng tác động nhất định (đối với ai)
    Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản có thể được xác định theo nhiều hướng khác nhau: có thể ghi rõ hoặc không ghi rõ trong văn bản, tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh và điều kiện.Cụ thể, với các văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì thời điểm phát sinh hiệu lực được ghi trong chính văn bản
    Thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác định trong các trường hợp sau.Thứ nhất là trường hợp hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản.Thứ hai, văn bản hết hiệu lực do bị thay thế bởi một văn bản khác (có thể là một văn bản cùng loại nhưng cũng có thể là một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn) do chính cơ quan đó ban hành.Thứ ba, văn bản có thể bị tuyên bố bãi bỏ hoặc huỷ bỏ hoặc tuyên bố hết hiệu lực bởi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Câu 40: Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

    * Hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị tác động của văn bản lên các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi kể từ khi nó bắt đầu (thời điểm phát sinh) đến khi chấm dứt (thời điểm chấm dứt) hiệu lực.

    Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản có thể được xác định theo nhiều hướng khác nhau: có thể ghi rõ hoặc không ghi rõ trong văn bản, tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh và điều kiện.Cụ thể, với các văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì thời điểm phát sinh hiệu lực được ghi trong chính văn bản.Tuy nhiên, theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 thì thời điểm này không được sớm hơn 45 ngày kể từ ngày văn bản đó được công bố hoặc kí ban hành, trừ những trường hợp văn bản ban hành đòi hỏi thực hiện trong tình trạng khẩn cấp như phòng chống thiên tai, dịch bệnh,… thì có thể có hiệu lực ngay từ thời điểm được công bố hoặc kí ban hành nhưng phải được quy định trong chính văn bản và được công bố ngay sau hai ngày làm việc.Còn với các văn bản của chính quyền địa phương thì văn bản của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân kí ban hành; đối với cấp huyện và cấp xã thì lần lượt sau 7 ngày, 5 ngày.

    Thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác định trong các trường hợp sau.Thứ nhất là trường hợp hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản.Thứ hai, văn bản hết hiệu lực do bị thay thế bởi một văn bản khác (có thể là một văn bản cùng loại nhưng cũng có thể là một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn) do chính cơ quan đó ban hành.Thứ ba, văn bản có thể bị tuyên bố bãi bỏ hoặc huỷ bỏ hoặc tuyên bố hết hiệu lực bởi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    Trường hợp ngưng hiệu lực: văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực có thể bị tạm đình chỉ để xem xét tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lý.Kể từ thời điểm nó bị tạm thi hành cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền là khoảng thời gian văn bản bị tạm ngưng hiệu lực.Văn bản đó có thể tiếp tục có hiệu lực hay bị huỷ bỏ là do quyết định của cơ quan xử lý có thẩm quyền.

    Chú ý vấn đề hiệu lực hồi tố (hiệu lực trở về trước): là trường hợp văn bản quy phạm pháp luật đã phát sinh hiệu lực áp dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội xảy ra trước thời điểm phát sinh hiệu lực của nó.Thông thường, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có giá trị tác động từ sau khi nó có hiệu lực, song có những trường hợp đặc biệt, vì nguyên tắc nhân đạo, văn bản lại được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội đã xảy ra từ trước khi nó có hiệu lực.Đó chính là trường hợp văn bản có hiệu lực hồi tố.Không được quy đinh hiệu lực hồi tố với các trường hợp sau: quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý; quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

    Câu 41: Hiệu lực theo không gian và theo đối tượng tác động của văn bản quy phạm pháp luật pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

    * Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là giá trị tác động của văn bản được xác định trong phạm vi lãnh thổ, vùng hay khu vực nhất định.Có thể xác định hiệu lực về không gian theo các quy định trong chính văn bản quy phạm pháp luật nếu trong văn bản có điều khoản ghi rõ không gian của nó.Còn nếu trong văn bản không có điều khoản nào ghi rõ điều ấy thì cần phải dựa vào thẩm quyền ban hành văn bản, dựa vào nội dung văn bản hoặc xác định dựa vào quy định của văn bản khác.Nhìn chung, với những văn bản do các cơ quan trung ương ban hành, nếu không xác định rõ giới hạn hiệu lực về không gian thì mặc nhiên chúng có hiệu lực trên toàn lãnh thổ quốc gia (trừ những văn bản ban hành để điều chỉnh một số quan hệ xã hội ở miền núi, hải đảo,…). Đối với các văn bản của chính quyền địa phương, nếu văn bản không có hiệu lực trên lãnh thổ toàn địa phương thì phải ghi rõ trong văn bản đó.

    Chú ý trường hợp có sự thay đổi địa giới hành chính giữa các địa phương: nếu một địa phương tách thành nhiều địa phương hoặc ngược lại thì văn bản của chính quyền địa phương cũ tiếp tục có hiệu lực trên phần không gian cũ của nó cho đến khi địa phương mới ban hành văn bản mới.Còn nếu một phần địa phương này được sát nhập vào địa phương khác thì văn bản của địa phương mở rộng có hiệu lực bao trùm lên bộ phận mới.

    * Hiệu lực về đối tượng tác động của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị tác động của văn bản lên các quan hệ xã hội với những chủ thể nhất định (có thể là cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hay đơn vị kinh tế,…).Hiệu lực theo đối tượng tác động của văn bản thường được xác định trực tiếp trong văn bản đó.Nếu không được ghi rõ thì xác định dựa trên mối quan hệ với hiệu lực của văn bản về thời gian, không gian tác động và các văn bản pháp lý khác (nhất là các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn); hoặc dựa vào cơ sở thẩm quyền của cơ quan ban hành.Thông thường, các văn bản pháp luật tác động đến tất cả mọi đối tượng nằm trong lãnh thổ mà văn bản quy phạm pháp luật đó có hiệu lực về thời gian và không gian nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, hiệu lực theo phạm vi tác động của văn bản có thể bị thay đổi mà chủ yếu là thu hẹp phạm vi đối tượng do sự hạn chế của văn bản có hiệu lực cao hơn, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
    Như vậy, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hiệu lực của mỗi văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện trên ba mặt: theo thời gian, theo không gian và theo đối tượng tác động.Việc nắm bắt hiệu lực của những văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp cho sự vân dụng chúng được thuận tiện, chính xác.

    Câu 42: Khái niệm quy phạm pháp luật.

    Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
    –          Đặc điểm:
    o   Quy phạm pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vâò điều kiện, hoàn cảnh do nó dự liệu thì đều phải xử sự theo những cách thức mà nó đã nêu ra. Căn cứ vào quy phạm pháp luật, các chủ thể sẽ biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
    o   Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người. Căn cứ vào quy phạm pháp luật có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là trái pháp luật, hoạt động nào mang tính pháp lí và hoạt động nào không mang tính pháp lí.
    o   Quy phạm pháp luật được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ thể hay một tổ chức, cá nhân cụ thể đã xác định được mà là cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia vào quan hệ xã hội do nó điều chỉnh.
    o   Quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống cho đến khi nó bị sửa đổi, bãi bỏ hoặc hủy bỏ vì nó được ban hành ra không phải để điều chỉnh mối quan hệ xã hội cụ thể, một trường hợp cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, tức là mọi trường hợp, khi điều kiện hoặc hoàn cảnh do nó dự kiến xảy ra.

    Câu 43: Cơ cấu của quy phạm pháp luật.

    Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cơ cấu của quy phạm pháp luật.
    –          Quan điểm 1: quy phạm pháp luật có hai bộ phận là giả định và chỉ dẫn.
    –          Quan điểm 2: quy phạm pháp luật có 2 bộ phận là phần quy tắc và bảo đảm.
    –          Quan điểm 3: quy phạm pháp luật có 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tài.
    –          Quan điểm 4: quy phạm pháp luật thông thường thì có 3 loại là giả định, quy định và chế tài; còn các quy phạm pháp luật xung đột là loại quy phạm pháp luật đặc biệt thì cơ cấu của nó gồm 2 bộ phận là phạm vi là hệ thuộc.

    Câu 44: Cách trình bày quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật.

    Trong quá trình xây dựng pháp luật thì do yêu cầu của kỹ thuật xây dựng pháp luật nên các quy phạm pháp luật phải được trình bày 1 cách khoa học, ngắn gọn, chặt chẽ, không trùng lặp, chồng chéo… văn bản quy phạm pháp luật có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau, mà cơ bản có các cách:
    –          Thứ nhất: các bộ phận của quy phạm pháp luật có thể được trình bày trong cùng một điều, khoản của một văn bản quy phạm pháp luật(ví dụ 1 mục 1 phần II của Chương 10).
    –          Thứ hai: trong một điều của một văn bản quy phạm pháp luật có thể trình bày một hoặc nhiều quy phạm pháp luật.
    –          Thứ tư: các bộ phận của một quy phạm pháp luật có thể được trình bày trong các điều khoản khác nhau của cùng một quy phạm pháp luật.
    –          Thứ năm: trật tự của các bộ phận trong quy phạm pháp luật không nhất thiết phải trình bày theo đúng thứ tự giả định, quy định và biện pháp thực hiện đảm bảo mà có thể trình bày theo cách đảo lộn hoặc đan xen nhau.

    Câu 45: Các bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật.

    Định nghĩa: Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật, được thể hiện trong các hình thức pháp luật.
    Các bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật gồm có: Ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật.
    –          Chế định pháp luật:  là một nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có đặc điểm chung. Ví dụ Chế định chế độ chính trị…
    –          Ngành luật: tông thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một hoặc một số loại quan hệ có tính chất giống nhau phát sinh trong một lĩnh vực hoạt động. Ví dụ ngành luật Dân sự.

    Câu 46: Hình thức cấu trúc của hệ thống pháp luật.

    Định nghĩa: Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật, được thể hiện trong các hình thức pháp luật.
    Xét về mặt hình thức cấu trúc: Hệ thống pháp luật thể thống nhất các ngành luật trong đó mỗi ngành luật được coi là một hệ thống nhỏ hơn bao gồm các chế định pháp luật và mỗi chế định lại bao gồm nhiều quy phạm pháp luật.

    Câu 47: Khái niệm và các giai đoạn của quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

    Định nghĩa xây dựng pháp luật: Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của có quan, tổ chức hoặc cá nhân có thầm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm ban hành ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
    Các giai đoạn xây dựng pháp luật:
    –          Nêu sáng kiến xây dựng pháp luật.
    –          Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật dự thảo.
    –          Thảo luận và chỉnh lý.
    –          Thông qua văn bản dự thảo.

    Câu 48: Các nguyên tắc xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

    Định nghĩa xây dựng pháp luật: Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của có quan, tổ chức hoặc cá nhân có thầm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm ban hành ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
    Các nguyên tắc:
    –          Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng.
    –          Nguyên tắc khách quan.
    –          Nguyên tắc dân chủ.
    –          Nguyên tắc pháp chế.
    –          Nguyên tắc đảm bảo tính minh bạch của pháp luật.

    Câu 49: Phân biệt tập hợp hóa pháp luật với pháp điển hóa.

    Cả 2 đều là hình thức của hệ thống hóa pháp luật.
    Định nghĩa hệ thống hóa pháp luật: Hệ thống hóa pháp luật là thu thập, sắp xếp các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định nhằm đạt được những mục đích đã đề ra.
    –          Tập hợp hóa pháp luật: là thu thập, sắp xếp các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định để làm hình thành nên một tập hợp các quy định của pháp luật.
    –          Pháp điển hóa: là hình thức hệ thống hóa pháp luật trong đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành theo đối tượng điều chỉnh hay the chủ đề; loại bỏ những mâu thuẫn, chồng chéo, nhưng quy định lỗi thời, lạc hậu; sửa đổi những quy định chưa phù hợp; xây dựng, bổ sung them những quy định mới, từ đó ban hành ra một bộ luật mới hoặc một bộ pháp điển trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy phạm pháp luật cũ để làm cho pháp luật thống nhất, hợp lý và phát triển hơn.
    Tập hợp hóa pháp luật
    Pháp điển hóa
    + Tập hợp hóa pháp luật không làm thay đổi nội dung và hình thức của quy phạm pháp luật vì phải sao chép nguyên văn.
    + Việc pháp điển hóa có thể làm thay đổi nội dung của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật…
    + Việc tập hợp hóa pháp luật có thể tiến hành theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo thời gian ban hành văn bản, theo đối tượng điều chỉnh của văn bản…
    + Việc pháp điển hóa chỉ được tiến hành theo đối tượng điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật hoặc theo chủ đề nhất định.
    + Các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật được đưa vào tập hợp các quy định của pháp luật có thể còn hiệu lực pháp lý hoặc hết.
    + Các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật được đưa vào tập hợp các quy định của pháp luật phải còn hiệu lực pháp lý.
    + Kết quả cuối cùng là hình thành nên một tập hợp các quy định của pháp luật nên chủ thể tiến hành tập hợp có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội.
    + Kết quả cuối cùng là làm hình thành nên một bộ luật mới hoặc một bộ pháp điển mới trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy phạm pháp luật nên chủ thể của việc này chỉ là các cơ quan có thẩm quyền.

    Câu 50: Phân biệt các hình thức hệ thống hóa pháp luật hiện nay.

    Nêu định nghĩa hệ thống hóa pháp luật: : Hệ thống hóa pháp luật là thu thập, sắp xếp các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định nhằm đạt được những mục đích đã đề ra.
    Hình thức của nó gồm 2 dạng là Tập hợp hóa pháp luật và Pháp điển hóa.
    –          Tập hợp hóa pháp luật: là thu thập, sắp xếp các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định để làm hình thành nên một tập hợp các quy định của pháp luật.
    –          Pháp điển hóa: là hình thức hệ thống hóa pháp luật trong đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành theo đối tượng điều chỉnh hay the chủ đề; loại bỏ những mâu thuẫn, chồng chéo, nhưng quy định lỗi thời, lạc hậu; sửa đổi những quy định chưa phù hợp; xây dựng, bổ sung them những quy định mới, từ đó ban hành ra một bộ luật mới hoặc một bộ pháp điển trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy phạm pháp luật cũ để làm cho pháp luật thống nhất, hợp lý và phát triển hơn.

    Tập hợp hóa pháp luật
    Pháp điển hóa
    + Tập hợp hóa pháp luật không làm thay đổi nội dung và hình thức của quy phạm pháp luật vì phải sao chép nguyên văn.
    + Việc pháp điển hóa có thể làm thay đổi nội dung của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật…
    + Việc tập hợp hóa pháp luật có thể tiến hành theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo thời gian ban hành văn bản, theo đối tượng điều chỉnh của văn bản…
    + Việc pháp điển hóa chỉ được tiến hành theo đối tượng điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật hoặc theo chủ đề nhất định.
    + Các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật được đưa vào tập hợp các quy định của pháp luật có thể còn hiệu lực pháp lý hoặc hết.
    + Các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật được đưa vào tập hợp các quy định của pháp luật phải còn hiệu lực pháp lý.
    + Kết quả cuối cùng là hình thành nên một tập hợp các quy định của pháp luật nên chủ thể tiến hành tập hợp có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội.
    + Kết quả cuối cùng là làm hình thành nên một bộ luật mới hoặc một bộ pháp điển mới trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy phạm pháp luật nên chủ thể của việc này chỉ là các cơ quan có thẩm quyền.

    Câu 51: Khái niệm quan hệ pháp luật ( định nghĩa, đặc điểm)

    Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Nó làm cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó được nhà nước đảm bảo thực hiện.
    *Đặc điểm của quan hệ pháp luật:
    _Quan hệ pháp luật là loại quan hệ tư tưởng của kiến trúc thượng tầng.
    _Quan hệ pháp luật là quan hệ mang tính ý chí và được thể hiện:
    + Ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó (cụ thể là các quan hệ hợp đồng. VD: quan hệ mua bán của 2 bên)
    + Ý chí của nhà nước: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh mà quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và thể hiện ý chí của nhà nước.
    Trong một số quan hệ pháp luật đặc biệt thì nhà nước tham gia với tư cách là một chủ thể và việc tham gia vào quan hệ đó là hoàn toàn thể hiện ý chí của nhà nước. (VD: Nhà nước tham gia xử các vụ án vi phạm pháp luật giết người)
    _Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở của quy phạm pháp luật. Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điểu chỉnh. Như vậy, một quan hệ xã hội chỉ trở thành quan hệ pháp luật khi có một quy phạm pháp luật tác động lên quan hệ đó và như vật chúng ta có thể hiểu: Quan hệ pháp luật chính là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội.
    _Quan hệ pháp luật được tạo bởi những quuyền và nghĩa vụ của chủ thể khi các chủ thể tham gia vào quan hệ đó tức là khi tham gia vào một quan hệ xã hội được điểu chỉnh thì các chủ thể sẽ được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó sẽ được nhà nước đảm bảo thực hiện.
    _Quan hệ pháp luật có tính giai cấp vì quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật được nhà nước quy định hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện theo chiều hướng phù hợp với mục đích của nhà nước mà trước tiên là của giai cấp thống trị.

    Câu 52: Chủ thể của quan hệ pháp luật.

    Định nghĩa: Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức được nhà nước thừa nhận là có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật.
    Điều kiện để cá nhân, tổ chức trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật: là họ phái có năng lực pháp luật: Là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật. Có nghĩa là tự mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình là họ phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật.

    Câu 53: Bộ phận “nội dung” của quan hệ pháp luật.

    Định nghĩa quan hệ pháp luật: là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Nó làm cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó được nhà nước đảm bảo thực hiện.
    Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể do nhà nước quy định hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện.

    Quyền và nghĩa vụ đó được xét dưới 2 góc độ:
                Thứ nhất: dưới góc độ năng lực pháp luật của chủ thể thì các quyền và nghĩa vụ này được quy định trong hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật. Tổng thể các quyền và nghĩa vụ đó tạo nên địa vị pháp lý của chủ thể.
                Thứ hai: Quyền và nghĩa vụ của chủ thể với tư cách là chủ thể của một quan hệ pháp luật cụ thể.
                          

    Câu 54: Sự kiện pháp lý:

    Sự kiện pháp lý là những sự kiện trong số các sự kiện xảy ra trong thực tế, là bộ phận của chúng. Sự kiện pháp lý là sự kiện thực tế được quy định trong pháp luật. Việc thừa nhận hay không thừa nhận sự kiện thực tế nào đó là sự kiện pháp lí đều xuất phát từ lợi ích của xã hội và của giai cấp nắm chính quyền trong xã hội.
    Để quan hệ pháp luật nảy sinh trong thực tế, các quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể trở thành xử sự thực tế, cụ thể của các cá nhân, tổ chức thì cần phải có điều kiện khác nữa. Đó là những sự kiện thực tế của đời sống mà sự xuất hiện hay mất đi của nó được pháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Ví dụ: Quyết định cho đăng kí kết hôn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở nguyện vọng của đôi nam nữ và quyết định của pháp luật đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng của họ. Sự kiện thực tế như vậy gọi là sự kiến pháp li.
    Tóm lại, sự kiện pháp lí là sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật.
    Sự kiện pháp lí có thể là sự xuất hiện hay không xuất hiện của sự kiện thực tế. Tức là quan hệ pháp luật có thể nảy sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi xuất hiện sự kiện thực tế hoặc khi không xảy ra sự kiện thực tế nào đó theo quy định của pháp luật.

    Câu 55: Khái niệm thực hiện pháp luật. Các hình thức thực hiện pháp luật.

    Khái niệm: Thực hiện pháp luật là hành vi ( hành động hoặc không hành động) hợp pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật.
    Phân tích: Trước hết ta hiểu thực hiện pháp luật là hành vi xác định hay xử sự thực tế của con người.
    Nhà nước đặt ra pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo chiều hướng mà nó mong muốn. Tất cả các quan hệ xã hội đều được thể hiện thông quan cách xử sự của mọi người với nhau, vì thế, bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định, nhà nước có thể tác động lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh chúng theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều chỉnh suy nghĩ hay tư tưởng của họ, do vậy, chỉ có thể căn cứ vào xử sự thực tế của các chủ thể thì mới có thể xác định được họ có thực hiện pháp luật hay không.
    Hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể có thể được thể hiện dưới dạng hành động, tức là thể hiện qua những lời nói, cử chỉ, động tác nhất định, ví dụ, đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe máy, thỏa thuận, ký kết hợp đồng mua bán…; song cũng có thể được thể hiện dưới dạng không hành động, tức là không thực hiện những cử chỉ, động tác, lời nói nhất định, ví dụ, không vượt đèn đỏ, không đi vào đường ngược chiều khi tham gia giao thông.
    Thứ hai, thực hiện pháp luật phải là hành vi hợp pháp, tức là hành vi hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật.
    Đây là lẽ đương nhiên vì thực hiện pháp luật là sự hiện thực hóa các quy định của pháp luật hay làm cho các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước đối với các chủ thể khác trở thành hiện thực, tức là biến các quy định của pháp luật từ trong văn bản thành cách xử sự thực tế của các chủ thể khi tham gia vao các quan hệ pháp luật. Vì vậy, những hành vi trái pháp luật không bao giờ được coi là thực hiện pháp luật .
    Thứ ba, thực hiện pháp luật phải là xử sự của các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật, tức là xử sự của chủ thể có khả năng bằng hành vi của chính mình xác lập và thực hiệ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình.

    Câu 56: Các hình thức thực hiện pháp luật.

    Định nghĩa thực hiện pháp luật:
    Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các qui định pháp luật trong thực tế đời sống.

    *Các hình thức thực hiện pháp luật:
    + Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện những qui phạm pháp luật mang tính chất ngăn cấm bằng hành vi thụ động, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không làm những việc mà pháp luật cấm.
    VD: một công dân không thực hiện những hành vi tội phạm được qui định trong bộ luật hình sự, tức là công dân đó tuân thủ những qui định của bộ luật này.
    + Thi hành pháp luật: là hình thức thực hiện những qui định trao nghĩa vụ bắt buộc của pháp luật một cách tích cực trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành động tích cực.
    VD: một người thấy người khác đang lâm vào tình trạng có thể nguy hiểm đến tính mạng và người đó cứu giúp, tức là người đó đã bằng hành động tích cự thi hàng qui định về nghĩa vụ công dân của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói riêng.
    + Sử dụng pháp luật: là hình thức thực hiện những qui định về quyền chủ thể của pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật chủ động, tự mình quyết định việc thực hiện hay không thực hiện điều mà pháp luật cho phép.
    _ Như vậy hình thức này khác với 2 hình thức trên ở chỗ chủ thể không bị buộc không được làm hoặc phải làm một việc nào đó mà được tự do lựa chọn theo ý chí của mình.
    VD: việc thực hiện các quyền bầu cử và ứng cử, quyền khiếu nại và tố cáo…
    + Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những qui định pháp luật hoặc chính hành vi của mình căn cứ vào những qui định của pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp luật.
    VD: cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật tuyên phạt

    Câu 57: Khái niệm áp dụng pháp luật ( định nghĩa, đặc điểm)

    Định nghĩa: Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
    Đặc điểm:
    –          Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước. Điều đó được thể hiện ở những điểm sau:
    o   Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó cũng chỉ được phép áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, trong hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước thì chỉ có tòa án mới có quyền xét xử để định tôi và định hình hình phạt cho người phạm tội cũng như để giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình…; chỉ ủy ban nhân dân mới có quyền xem xét để cấp giấy khai sinh cho trẻ em, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng.
    o   Nói chung, các quyết định do các chủ thể có thẩm quyền ban hành ra trong quá trình áp dụng pháp luật, có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của đối tượng áp dụng, nó có thể mang lại cho người ta lợi ích rất lớn (ví dụ, quyết định giao quyền sử dụng đẩt, quyết định tăng lương, quyết định công nhận tốt nghiệp,,,) song nó cũng có thể bắt người ta phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề ( ví dụ, quyết định xử phạt hành chính, bản án hình sự…). Do vậy, để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của quá trình áp dụng pháp luật, hoạt động này không thể được tiến hành một cách tùy tiện mà phải tuân theo những trình tự, thủ tục và trên cơ sở những điều kiện rất chặt chẽ do pháp luật quy định. Đương nhiên, trình tự, thủ tục đó không thể như nhau trong tất cả các vụ việc mà nó sẽ khác nhau từ vụ việc này sang vụ việc khác tùy theo tính chất của vụ việc. Vi dụ, trình tự, thủ tục xem xét để cấp giấy chứng nhận kết hôn sẽ khác với trình tự , thủ tục công nhận tốt nghiệp cho người học, càng khác với trình tự, thủ tục xử phạt người vi phạm hành chính.
    –          Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội hay là hoạt động nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
    o   Các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung nên không chỉ rõ chủ thể cụ thể và trường hợp cụ thể cần áp dụng. Khi một quy phạm nào đó được áp dụngvào việc giải quyết một vụ việc thực tế của chủ thể cụ thể thì có nghĩa là quy phạm đó đã được cá biết hóa vào trường hợp của chủ thể đó. Ví dụ, quyết định tuyển dụng một người nào đó làm giảng viên của Trường Đại học Luật Hà Nội là sự cá biệt hóa về quy phạm về quyền và nghĩa vụ lao động của công dân vào trường hợp của người được tuyển dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các quy phạm được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể hay được cá biệt hóa phải là các quy phạm pháp luật hiện hành hay các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực pháp lí. Vì vậy, khi tiến hành áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền không thể lựa chọn và áp dụng các quy phạm đã hết hiệu lực.
    o   Có thể nói, áp dụng pháp luật bao hàm cả ba hình thức tuân theo, thi hành và sử dụng pháp luật, bởi vì, trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền cũng có thể bị cấm thực hiện những hành vi nhất định, và họ phải tuân theo pháp luật, họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định, tức là phải thi hành pháp luật, đồng thời có những quyền hạn nhất định tức là có thể sử dụng pháp luật.

    Câu 58: Các trường hợp cần áp dụng pháp luật.

    Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
    Và hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong những trường hợp sau:
    –          Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. Điều đó có nghĩa là: mặc dù pháp luật đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể, song quan hệ pháp luật cụ thể vẫn không thể phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền. Hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có thầm quyền sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Ví dụ, quyền và nghĩa vụ học tập của công dân không thể phát sinh nếu thiếu hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ sở đào tạo.
    –          Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ đóng vai trò trọng tài để giải quyết tranh chấp đó. Ví dụ, tòa án giải quyết tranh chấp giữa người cho thuê nhà và người thuê nhà.
    –          Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các chủ thể vi phạmpl. Ví dụ, cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm và ra quyết định xử phạt người vi phạm luật giao thông.
    –          Khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không vi phạm pháp luật mà chì vì lợi cihs chung của xã hội. Ví dụ, thu hồi đất để giải phóng mặt bằng, bắt buộc chữa bệnh.
    –          Khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích theo quy định của pháp luật. Ví dụ, chủ thể có thẩm quyền xét và trao tặng bằng khen, danh hiệu vinh dự nhà nước cho một cá nhân, tổ chức nào đó.
    –          Khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật. Ví dụ, hoạt động của các cơ quan kiểm soát, thanh tra, hoạt động giám sát của quốc hôi, hội đồng nhân dân…
    –          Khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào đó theo quy định của pháp luật. Ví dụ, hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân, cơ quan công chứng…

    Câu 59: Các bước của quá trình áp dụng pháp luật.

    Định nghĩa áp dụng pháp luật: Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
    Các bước áp dụng pháp luật:
    –          Bước 1: Phân tích, đánh giá đúng, chính xác tình tiết, điều kiện, hoàn cảnh của vụ việc như thực tế nó đã xảy ra, thu thập những chứng cứ pháp lý và chứng cứ thực tế làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc.
    –          Bước 2: Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với vụ việc cần giải quyết, phân tích, giải thích, làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng.
    –          Bước 3: Ra quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc.
    Hình thức thể hiện của quyết định này phổ biến bằng văn bản quy phạm pháp luật
    o   Văn bản áp dụng pháp luật ( còn được gọi là văn bản pháp lý đặc biệt)là văn bản do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật ban hành ra trên cơ sở các quy phạm pháp luật, trong đó chứa đựng những mệnh lệnh pháp lý cụ thể hoặc xác định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể hoặc các hình thức khen thưởng cụ thể hoặc các biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể đối với cá nhân hoặc tổ chức.
    –          Bước 4: Tổ chức thực hiện trong thực tế quyết định áp dụng pháp luật đã được ban hành và đã có hiệu lực pháp lý.

    Câu 60: Nguyên tắc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng trong quá trình áp dụng pháp luật.

    Định nghĩa áp dụng pháp luật: Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
    Trong quá trình áp dụng pháp luật thì việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng trong quá trình áp dụng pháp luật rất quan trọng, thể hiện qua các nguyên tắc sau:
    –          Quy phạm pháp luật được lựa chọn áp dụng là quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực pháp lý.
    –          Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn.
    –          Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành có có quy định khác nhau thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.
    –          Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mới.

    Câu 61: Các hình thức và phương pháp giải thích pháp luật.

    Định nghĩa: Giải thích pháp luật là làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật đề giúp cho pháp luật được nhận thức và thực hiệ một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn và chính xác.
    Các hình thức giải thích pháp luật.
    –          Giải thích pháp luật chính thức:
    Giải thích pháp luật chính thức là sự giải thích pháp luật của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thầm quyền giải thích pháp luật theo quy định của pháp luật. Lời giải thích pháp luật chính thức phải được trình bày bằng văn bản được giải thích. Sự giải thích chính thức thương được tiến hành bởi chính các chủ thể ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật hoặc những chủ thể được trao quyền hoặc được ủy quyền giải thích văn bản đó. Giải thích pháp luật chính thức gồm hai loại:
    o   Giải thích mang tính quy phạm: là sự giải thích mà lời giải thích có hiệu lực pháp lý như các quy phạm pháp luật. Ví dụ, Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội số 746/2005/NQ-UBTVQH 11 về việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 của Luật Thương mại 2005.
    o   Giải thích cho những vụ việc cụ thể: là sự giải thích mà lời giải thích chỉ có hiệu lực pháp lý đối với một vụ việc cụ thể mà không có hiệu lực pháp lý đối với vụ việc khác. Ví dụ, Công văn của Hội đồng nhà nước ngày 30/03/1987 giải thích về hình phát “tước danh hiệu quân nhân” để áp dụng đối với một trường hợp cụ thể…
    –          Giải thích không chính thức:
    Giải thích không chính thức là sự giải thích pháp luật của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không có thẩm quyền giải thích pháp luật. Đó là sự giải thích pháp luật của những người nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền hoặc phổ biến pháp luật. Lời giải thích pháp luật không chính thức có thể được trình bày bằng văn bản hoặc lời nói và nó không có hiệu lực pháp lý.
                Các phương pháp giải thích pháp luật:
    –          Giải thích theo ngôn ngữ văn phạm: làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật bằng cách cắt nghĩa từng từ, từng câu, có chú ý đến mối liên hệ ngữ pháp giữa các từ trong câu và giữa các mệnh đề của câu với nhau. Ví dụ, giải thích quy định của Hiến pháp về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân và Việc kiểm sát nhân dân.
    –          Giải thích theo hệ thống: làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật bằng cách đem so sánh nó với các quy phạm pháp luật khác để có thể hiểu rõ nội dung của nó,
    –          Giải thích theo điều kiện chính trị – lịch sử: là làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật bằng cách gắn với các điều kiện chính trị, lịch sử đã dẫn đến việc ban hành ra quy phạm pháp luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật.
    –          Phương pháp giải thích theo logic: là phương pháp sử dụng những suy đoán logic để làm sáng tỏ nội dung của quy phạm pháp luật.

    Câu 62: Khái niệm văn bản áp dụng pháp luật. ( định nghĩa, đặc điểm)

    Định nghĩa: Văn bản áp dụng pháp luật ( còn được gọi là văn bản pháp lý đặc biệt)là văn bản do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật ban hành ra trên cơ sở các quy phạm pháp luật, trong đó chứa đựng những mệnh lệnh pháp lý cụ thể hoặc xác định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể hoặc các hình thức khen thưởng cụ thể hoặc các biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể đối với cá nhân hoặc tổ chức.
    Nó có các đặc điểm sau đây:
    –          Là văn bản do các cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật ban hành ra trên cơ sở các quy phạm pháp luật.
    –          Nội dung của văn bản chứa đựng những mệnh lệnh pháp lý cụ thể hoặc xác định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể hoặc hình thức khen thưởng cụ thể hoặc các biện pháp cưỡng chế đối với các cá nhân hoặc tổ chức.
    –          Được ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và thường theo những mẫu đã được quy định sẵn.
    –          Được thể hiện trong những hình thức pháp lý nhất định, như lệnh, quyết định, bản án…

    Câu 63: So sánh văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp dụng pháp luật.

    Định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật:

    Như câu 62 ở trên.

    Câu 64: Tại sao phải áp dụng pháp luật tương tự? Các hình thức áp dụng pháp luật tương tự.

    Định nghĩa: Áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó.
    Lý do phải áp dụng pháp luật tương tự:
    –          Trong quá trình áp dụng pháp luật. các chủ thể có thẩm quyền thường cố gắng dự kiến đến mức tối đa các trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống để kịp thời điều chỉnh. Song do đời sống xã hội quá phức tạp, cho nên ko thể nhận thức được hết. Khi xây dựng pháp luật thì vụ việc này chưa xảy ra, cho nên các nhà làm luật không dự kiến việc điều chỉn nó, hoặc cũng có trường hợp quan hệ đó chỉ là ngoại lệ nên không cần ban hành một quy chế riêng về nó. Dẫn tới trường hợp có những vụ việc pháp lý xảy ra nhưng lại không có 1 văn bản quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó, vì vậy cần phải áp dụng pháp luật tương tự.
    Các hình thức áp dụng pháp luật tương tự.
    –          Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật.
    o   Định nghĩa: áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là hoạt động giải quyết dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy.
    –          Áp dụng tương tự pháp luật.
    o   Định nghĩa: Áp dụng tương tự pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế dựa trên các nguyên tắc chung của pháp luật và ý thức pháp luật. (đọc kỹ ý thức pháp luật đề phòng hỏi xoáy)

    Câu 65: Khái niệm vi phạm pháp luật. ( định nghĩa, đặc điểm)

    Định nghĩa: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, cho chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
    Các đặc điểm:
    –          Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người. Tức là xử sự thực tế, cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức nhất định, bởi vì pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của chủ thể mà không điều chỉnh suy nghĩ của họ. Mác đã từng nói: ngoài hành vi của tôi ra, tôi không tồn tại đối với pháp luật, không phải là đối tượng của nó. Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật. Hành động xác định này có thể được thực hiện bằng hành động, Ví dụ như đi xe máy vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông, hoặc không bằng không hành động, Ví dụ như trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.
    –          Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật. Tức là xử sự trái với các yêu cầu của pháp luật. Hành vi này được thể hiện dưới các hình thức sau:
    o   Chủ thể thực những hành vi bị pháp luật cấm, Ví dụ như đi xe máy vào đường ngược chiều.
    o   Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện. Ví dụ như trốn tránh nghĩa vụ phải phụng dưỡng ông bà, cha mẹ.
    o   Chủ thể sử dụng vượt quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép. Ví dụ, Trưởng thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định.
    –          Vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý. Vì hành vi có tính trái pháp luật nhưng chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật. Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Ví dụ như người được cơ quan chuyên môn như bệnh viện xác định có bệnh lý về thần kinh thì không phải chịu bất cứ một hình phạt nào do chính bản thân mình gây ra.
    –          Vi phạm pháp luật phải là hành vi có lỗi của chủ thể. Tức là khi thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể có thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành vi của mình. Còn trong trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không nhận thức được hành vi hoặc nhận thức được hành vi và hậu quả của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật. Ví dụ…
    –          Vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại tới các cơ quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Tức là làm biến đổi trạng thái bình thường của quan hệ xã hội hay làm biến dạng các xử sự là nội dụng của quan hệ pháp luật đó. Ví dụ…

    Câu 66: Các loại vi phạm pháp luật.

    Định nghĩa: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, cho chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
    Vi phạm pháp luật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau. Những cách phân loại đó:
    –          Vi phạm hình sự hay còn gọi là tội phạm: Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiệ một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thỏ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ví dụ như phạm tội buôn bán các chất gây nghiện đã được pháp luật quy định cấm lưu hành có thể bị xét xử với mức án cao nhất là tử hình.
    –          Vi phạm hành chính: Theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Việt Nam thì vi phạm hành chính là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hoặc trái với các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trác nhiệm trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hành chính. Ví dụ như người đi xe gắn máy không chứng minh được là xe chính chủ hoặc là xe đi mượn thì bị phạt từ 800,000 đến 1,200,000 Việt Nam đồng.
    –          Vi phạm dân sự: Vi phạm dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản. Ví dụ …
    –          Vi phạm kỷ luật: Vi phạm kỷ luật là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó. Ví dụ như nhân viên trong công ty A bị trừ 20% số lương được nhận hàng tháng nếu như trong tháng đó đi làm muộn từ 3 lần trở lên.
    –          Vi phạm hiến pháp: Vi phạm hiến pháp là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hiến pháp trái với các quy định của hiến pháp. Ví dụ như một bộ luật nào đó sẽ bị cấm lưu hành hoặc phải sửa đổi nếu như nó trái với hiến pháp.
    –          Vi phạm pháp luật quốc tế của quốc gia: Quốc gia sẽ bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế khi không thực hiệ hoặc thực hiện các cam kết quốc tế mà quốc gia đó đã tham gia. Ví dụ như Trung Quốc đã vi phạm trắng trợn Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông DOC mà Trung Quốc đã ký năm 2002 với các bên có tranh chấp ở Biển Đông.

    Câu 67: Mặt khách quan của vi phạm pháp luật.

    Định nghĩa: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, cho chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
    Vi phạm pháp luật được cấu thành bởi: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật.
    Mặt khách quan của vi phạm pháp luật gồm có:
    –          Hành vi trái pháp luật: Bất kỳ vi phạm pháp luật nào cũng được cấu thành bởi hành vi trái pháp luật, nếu trong thực tế không còn tại hành vi trái pháp luật của cá nhân hoặc hoạt động trái pháp luật của tổ chức cụ thể nào đó thì không có vi phạm pháp luật xảy ra. Ví dụ như hành vi xả chất thải chưa qua xử lý của công ty A ra môi trường gây hậu quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
    –          Hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội: Hành vi trái pháp luật ở những mức độ khác nhau đều nguy hiểm và gây hại cho xã hội. Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật được xác định phụ thuộc vào tính chất và mức độ thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây hại cho xã hội mà hành vi trái pháp luật đó gây ra. Ví dụ như hành vi xả chất thải chưa qua xử lý của công ty A ra môi trường gây hậu quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
    –          Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội thể hiện ở chỗ sự thiệt hại của xã hội là do chính hành vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra. Tiếp tục ví dụ ở trên, vì rác thải chưa qua xử lý của công ty A xả ra môi trường đã khiến các động thực vật bị nhiễm độc dần dần chết, hoặc biến đổi theo hướng xấu đi, gây hậu quả nghiêm trọng về cảnh quan môi trường cũng như nguy hại với những khu dân cư xung quanh.

    Câu 68: Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật.

    Định nghĩa: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, cho chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
    Vi phạm pháp luật được cấu thành bởi: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật.
    Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật gồm có:
    –          Lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật: Lỗi là trạng thái tâm lí của chủ thể đối với hành vi vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Lỗi thể hiện ở thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội. Phụ thuộc vào mức độ tiêu cực trong thái độ của chủ thể khoa học pháp lí chia lỗi ra làm hai loại: Lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý có thể cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả.
    o   Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể vi phạm pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Ví dụ A có hành vi đặt bom tự chế ở gầm xe ô tô của B làm nổ xe của B và khiến B thiệt mạng.
    o   Lỗi cố ý gián tiếp: Chủ thể vi phạm pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Ví dụ A đặt bẫy chuột bằng dây điện dân dụng, vẫn biết là gây nguy hiểm cho người khác đi làm ruộng, nhưng A vẫn cứ đặt như thế mà không có bất kỳ một cảnh báo nào, khiến B vướng vào dây điện và thiệt mạng.
    o   Lỗi vô ý vì quá tự tin: Chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi mình gây ra nhưng hy vọng, tin tưởng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được. Ví dụ A quá tự tin với tài lái xe gắn máy của mình, trên đường cao tốc đến khúc cua vẫn không giảm tốc độ, khiến xe mất thăng bằng và với đà nhanh như vậy, xe bị bắn ra khỏi khúc cua, rơi trúng vào B đang ở làn đường bên kia, khiến A và B đều thiệt mạng.
    o   Lỗi vô ý vì cẩu thả: Chủ thể vi phạm pháp luật đã không nhận thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thấy trước hậu quả đó. Ví dụ A vô tình trong lúc đặt chậu hoa của gia đình mình ngoài ban công cửa sổ, do sơ ý, A đã làm chậu hoa rơi xuống đường ở phía dưới, khiến cho B thiệt mạng.
    –          Động cơ vi phạm: Động cơ vi phạm được hiểu là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Thông thường khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật chủ thể được thúc đẩy bởi động cơ nhất định nào đó như vụ lợi, trả thù, đê hèn… Ví dụ như vì người yêu của A bỏ A mà đi theo B nên A đã có hành vi đặt bom tự chế ở gầm xe ô tô của B làm nổ xe của B và khiến B thiệt mạng.
    –          Mục đích vi phạm: Mục đích là kết quả cuối cùng mà trong suy nghĩ của mình chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Mục đích vi phạm của chủ thể cũng thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi. Tuy nhiên, cần chú ý là không phải khi nào kểt quả mà chủ thể vi phạm đạt được trong thực tế cũng trùng hợp với mục đích mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được. Ví dụ, A chỉ muốn làm B đau ( mục đích gây thương tích) nhưng kết quả thực tế B chết (mục đích gây thương tích). Hoặc M muốn giết chết N (mục đích giết người) nhưng kết quả thực tế N không chết( việc N không chết là nằm ngoài mong muốn của N).

    Câu 69: Chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật.

    Định nghĩa: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, cho chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
    Vi phạm pháp luật được cấu thành bởi: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật.
    Mặt chủ thể của vi phạm pháp luật: Mặt chủ thể của vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực pháp lí, nghĩa là theo quy định của pháp luật thì họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình trong trường hợp đó. Nếu chủ thể vi phạm pháp luật là cá nhân thì họ phải là người đã đạt đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng nhận thức, xác lập, kiểm soát được hoạt động của bản thân. Những người không có khả năng nhận thức, xác lập, kiểm soát được hoạt động của bản thân thì không được coi là chủ thể của vi phạm pháp luật. Ví dụ chủ thể vi phạm pháp luật có thể là cá nhân, nhà chức trách, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các chủ thể pháp luật khác.
    Mặt khách thể của vi phạm pháp luật: Khách thể vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo về nhưng bị hành vi phạm pháp luật xâm hại. Những quan hệ xã hội khác nhau thì có tính chất và tầm quan trọng khác nhau, do vậy, tính chất và tầm quan trọng của khách thể cũng là những yéu tố để xác định mực độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Ví dụ như môi trường nơi bị công ty A xả rác thải chưa qua xử lý, gây tổn hại nghiêm trọng cho nơi đó.
    Nhứng vấn đề khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể của vi phạm pháp luật sẽ được làm rõ khi xem xét từng loại vi phạm pháp luật cụ thể. Ở đây chỉ nêu ra những vấn đề chung nhất của cấu thành vi phạm pháp luật.

    Câu 70: Khái niệm trách nhiệm pháp lý ( định nghĩa, đặc điểm).

    Định nghĩa: Trách nhiệm pháp lí của chủ thể vi phạm pháp luật là sự bắt buộc phải gánh chịu những hậu quả pháp lí bất lợi của chủ thể vi phạm pháp luật thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật vì sự vi phạm pháp luật của họ.
    Đặc điểm:
    –          Cơ sở của trách nhiệm pháp lí trong trường hợp này là vi phạm pháp luật nên chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lí là chủ thể vi phạm pháp luật.
    –          Trách nhiệm pháp lí luôn gắn liền với các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật, nó thể hiện sự lên án, sự trừng phạt của nhà nước đối với chủ thể vi phạm.
    –          Trách nhiệm pháp lí là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật thể hiện qua việc chủ thể đó phải gánh chịu sự thiệt hại về tài sản, về nhân thân, về tự do hoặc những thiệt hại khác do pháp luật quy định.
    –          Trách nhiệm pháp lí là một loại nghĩa vụ pháp lý đặc biệt, nghĩa vụ phát sinh khi có vi phạm pháp luật. Chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lí bắt buộc phải thực hiện những xử sự nhất định nào đó… trước một chủ thể khác, có thể là nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức xác định nào đó. Như vậy, trách nhiệm pháp lí có thể là trách nhiệm trước nhà nước hoặc trách nhiệm trước cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại.

    Câu 71: Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể vi phạm pháp luật.

    Định nghĩa: Trách nhiệm pháp lí của chủ thể vi phạm pháp luật là sự bắt buộc phải gánh chịu những hậu quả pháp lí bất lợi của chủ thể vi phạm pháp luật thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật vì sự vi phạm pháp luật của họ.
    Căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lí đới với chủ thể vi phạm pháp luật gồm có căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế.
    –          Căn cứ pháp lý: để truy cứu trách nhiệm pháp lý là các quy định cụ thể của pháp luật về vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật. Cụ thể, đó là những quy định của pháp luật về những vấn đề sau:
    o   Những hành vi bị coi là vi phạm pháp luật và các biện pháp cưỡng chế nhà nước được dự kiến áp dụng với chủ thể vi phạm.
    o   Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí. Đó là một khoảng thời gian hữu hạn do pháp luật quy định mà khi hết thời hạn đó, chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không bị truy cứu trách nhiệm pháp lí.
    o   Thẩm quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý. Thẩm quyền này có thể được xác định theo vụ việc, theo địa điểm…
    o   Trình tự, thủ tục, giải quyết. Tùy từng loại vụ việc khác nhau mà pháp luật quy định trình tự, thủ tục khác nhau…
    Các quy định trên của pháp luật được gọi là pháp luật hình thức
    –          Căn cứ thực tế: căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý là phải có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra trong thực tế. Song để có thể khẳng định được trong thực tế có vi phạm pháp luật hay không, nếu có thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội ra sao để có thể xác định được đúng đắn, chính xác các biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể cần áp dụng cho phù hợp với từng trường hợp vi phạm, nhằm đảm bảo mục đích của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý thì chủ thể tiến hành truy cứu phải dựa vào các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật của chủ thể vi phạm. Vì thế có ý kiến cho rằng căn cứ thực tế để truy cứu trách nhiệm pháp lí là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật. Cụ thể:
    o   Căn cứ hành vi trái pháp luật.
    o   Căn cứ vào hậu quả gây nguy hiểm cho xã hội.
    o   Căn cứ vào lỗi của chủ thể vi phạm.
    o   Căn cứ vào chủ thể vi phạm.
    o   Căn cứ vào khách thể của vi phạm pháp luật.
    Ngoài việc căn cứ các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật của chủ thể vi phạm, chủ thể có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm pháp lí còn phải xem xét thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí được tính từ thời điểm vi phạm pháp luật được thực hiện và có thể dài hay ngắn tùy từng loại vi phạm và tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật.

    Câu 72: Khái niệm ý thức pháp luật ( định nghĩa, đặc điểm).

    Định nghĩa: Ý thức pháp luật là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, học thuyết thịnh hành trong xã hội, thể hiện thái độ của con người đối với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, tổ chức, về tác dụng của pháp luật đối với những hiện tượng cần lên án và những hiện tượng cần bảo vệ.
    Đặc điểm:
    –          Một là, ý thức pháp luật do tồn tại của xã hội quy định nhưng luôn có tính độc lập tương đối và có sự tác động trở lại tồn tại xã hội.
    o   Sự phụ thuộc của ý thức pháp luật vào tồn tại xã hội thể hiện ở chỗ, xã hội nào có ý thức pháp luật của nó, khi đời sống xã hội biến đổi thì các quan niệm, quan điểm, sự đánh giá của con người về pháp luật và các hiện tượng pháp lý thực tiễn cũng thay đổi theo
    o   Mặc dù do tồn tại xã hội quy định, song ý thức pháp luật lại có tính độc lập tương đối đối với tồn tại xã hội, điều này thể hiện ở những điểm sau: 
    §  Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
    §  Ý thức pháp luật đặc biệt là hệ tư tưởng pháp luật nhiều khi có sự phát triển vượt trước so với tồn tại xã hội.
    §  Ý thức pháp luật luôn có tình kế thừa.
    §  Ý thức pháp luật có quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác.
    o   Ý thức pháp luật có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội. Những quan niệm, quan điểm, tư tưởng tiến bộ về pháp luật, phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của đời sống xã hội sẽ có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển. Ngược lại, những tư tưởng, quan điểm lạc hậu, phản ánh sai lệch hiện thực khách quan sẽ kìm hãm sự phát triển của đời sống xã hội.
    –          Hai là, ý thức pháp luật mang tính giai cấp. Các giai cấp khác nhau do điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau nên quan điểm, quan niệm, tư tưởng, thái độ, tình cảm của họ về pháp luật và các hiện tượng pháp lí thực tiễn cũng khác nhau. Nói cách khác, trong xã hội có ý thức pháp luật của giai cấp thống trị, ý thức pháp luật của giai cấp bị trị, ý thức pháp luật của tầng lớp trung gian. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí nhà nước. Ý chí đó được cụ thể hóa thành các quy định cụ thể do nhà nước ban hành. Như vậy, ý thức pháp luật của giai cấp thống trị được thể hiện tập trung, rõ nét và đậm đặc trong pháp luật của nhà nước.

    Câu 73: Vai trò của ý thức pháp luật đối với việc xây dựng pháp luật.

    Định nghĩa: Ý thức pháp luật là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, học thuyết thịnh hành trong xã hội, thể hiện thái độ của con người đối với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, tổ chức, về tác dụng của pháp luật đối với những hiện tượng cần lên án và những hiện tượng cần bảo vệ.
    Định nghĩa: Xây dựng pháp luật là việc tạo ra các quy định pháp luật cụ thể. Xây dựng pháp luật là một quá trình hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau, từ việc nhận thức thực trạng của đời sống, nhận thức nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật, đến khái quát hóa, mô hình hóa những quan hệ xã hội đang tồn tại thành các quy tắc xử sự cụ thể. Như vậy, đời sống xã hội trước hết được phản ánh trong ý thức pháp luật, rồi sau đó mới được thể hiện thành các quy định cụ thể của pháp luật.
    Trước hết, ý thức pháp luật là cơ sở để hoạch định chính sách xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Thực tiễn cho thấy hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về vai trò, ưu điểm cũng như hạn chế vốn có của pháp luật sẽ có quan điểm đúng đắn trong việc sử dụng pháp luật làm phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, qua đó xây dựng được các quy định pháp luật phù hợp, phát huy được hiệu quả điều chỉnh của pháp luật. Ngược lại, quá đề cao hoặc coi như vai trò của pháp luật sẽ dẫn tới hoặc sử dụng pháp luật không đúng cách hoặc sử dụng các phương tiện điều chỉnh khác để thay thế pháp luật. Ý thức pháp luật càng cao càng làm cho nhà làm luật đánh giá đúng, chính xác, khách quan, toàn diện thực trạng đời sống xã hội, dự liệu được diễn biến, xu hướng vận động của các quan hệ xã hội, bổ sung quy định hiện hành. Trên cơ sở đó, có kế hoạch, chương trình, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội.
    Ở cấp độ cụ thể hơn, ý thức pháp luật là tiền đề tư tuỏng định hướng xây dựng các quy định cụ thể. Xác định rõ quan điểm, mục đích là những yêu cầu trước tiên của hoạt động xây dựng pháp luật. Khi xây dựng các quy định cụ thể, nhà làm luật phải lưu ý đến sự tác động qua lại giữa quy định được xây dựng với kinh tế, chính trị, đạo đức, truyền thống, tập quán…, cân nhắc giữa yếu tố có lợi và yếu tố bất lợi; giữa mong muốn chủ quan của nhà làm luật với yêu cầu, đòi hỏi của đời sống để xây dựng được những quy định phù hợp nhất. Ngoài ra, để xây dựng được các quy định pháp luật có chất lượng đòi hỏi nhà làm luật còn phải nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật trong lịch sử cũng như của các nước khác trên thế giới. Điều này chỉ có thể có kết quả tích cực khi nhà làm luật có ý thức pháp luật cao.
    Vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng pháp luật còn thể hiện rất rõ trong kỹ thuật lập pháp. Một quy định cụ thể của pháp luật được xây dựng một cách rõ rang, chính xác, ngắn gọn, một nghĩa, đối tượng phải thi hành dễ hiểu, hiểu đúng yêu cầu, đòi hỏi của nhà làm luật… phụ thuộc rất lớn vào các sử dụng ngôn từ pháp lý, kỹ thuật trình bày quy phạm pháp luật, kỹ thuật sử dụng hình thức văn bản pháp luật, kỹ thuật liên kết các quy phạm pháp luật để tạo thành một chỉnh thể… Tẩt cả những yếu tố này đều phụ thuộc vào trình độ kiến thức pháp lý, ý thức pháp luật của nhà làm luật.

    Câu 74: Vai trò của ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật.

    Định nghĩa: Ý thức pháp luật là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, học thuyết thịnh hành trong xã hội, thể hiện thái độ của con người đối với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, tổ chức, về tác dụng của pháp luật đối với những hiện tượng cần lên án và những hiện tượng cần bảo vệ.
    Định nghĩa: Thực hiện pháp luật là hành vi ( hành động hoặc không hành động) hợp pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật.
    Việc thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh trước hết phụ thuộc vào sự hiểu biết pháp luật của chủ thể. Nhận thức được đầy đủ các quy định của pháp luật là tiền đề quan trọng để hành vi của chủ thể phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật.Chỉ trong trường hợp nhận thức được nội dung của quy định trong pháp luật, nắm bắt được sự cho phép, bắt buộc hay ngăn cấm của pháp luật, chủ thể mới biết mình được làm gì, không được làm gì hay phải làm như thế nào khi bản thân ở trong hoàn cảnh đó. Càng nhận thức pháp luật một cách tường tận, càng có cơ sở để thực hiện nó một cách triệt để, chính xác. Cần lưu ý rằng, một chủ thể không khi nào vi phạm pháp luật hoàn toàn không đồng nghĩa với việc chủ thể đó thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh. Trong nhiều trường hợp, hành vi của họ là hợp pháp có thể co có sự phù hợp giữa pháp luật với các quy phạm xã hội khác cùng điều chỉnh hành vi con người, nhất là đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo- những quy phạm xã hội vốn rất gần gũi đối với mỗi người, thậm chí đã trở thành thói quen trong xử sự hàng ngày của họ.
    Tuy nhiên, không thể cho rằng cứ hiểu biết pháp luật sẽ luôn thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh. Trên thực tế, nhiều trường hợp chủ thể vi phạm pháp luật lại là người rất hiểu biết pháp luật, thậm chí có trường hợp còn lợi dụng khe hở của pháp luật để phục vụ lợi ích cá nhân. Có tình trạng đó là vì việc thực hiện pháp luật còn phụ thuộc rất lớn vào thái độ, cảm xúc, tình cảm, niềm tin, mong muốn… của chủ thể đối với pháp luật cũng như đối với hoạt động của các cơ quan pháp luật. Thái độ tôn trọng pháp luật là động lực quan trọng thúc đẩy chủ thể luôn xử sự theo pháp luật. Sợ bị pháp luật trừng trị khiến họ không dám lựa chọn phương án hành vi bị pháp luật cấm. Vui mừng, phấn khởi trước những quy định trong pháp luật là tiền đề chủ thể thực hiện chúng một cách hào hứng, nhiệt tình… là những yếu tố tâm lý chi phối mạnh mẽ hành vi con người. Chúng có thể làm cho người kiềm ta kiềm chế hay không kiềm chế được; quyết tâm thực hiện đến cùng hay tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện hành vi…
    Như trên đã đề cập, hoạt động áp dụng pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Vì vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật, nhà chức trách có thể bị quyền lực cũng như lợi ích vật chất, tinh thần khác chi phối. Hoạt động áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật vì vậy mà có thể nên chậm trễ, thiếu khách quan, không công minh, không đúng pháp luật. Chính vì vậy, để áp dụng pháp luật đúng đắn, hiệu quả, đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải tuyệt đối tôn trọng pháp luật, có tinh thần thượng tôn pháp luật. chí công, vô tư, phụng công, thủ pháp. ( Nhưng xem ra chuyện này hơi khó)

    Câu 75: Giáo dục pháp luật (định nghĩa, đặc điểm)

    Định nghĩa: Giáo dục pháp luật là quá trình tác động có hệ thống, mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người trình độ pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.
    Giáo dục pháp luật có những đặc điểm.
    –          Giáo dục pháp luật là sự nâng cao nhận thức pháp lý, hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức cho các chủ thể.
    –          Giáo dục pháp luật khơi dậy tình cảm và thái độ đúng đắn đối với pháp luật.
    –          Giáo dục pháp luật hình thành thói quen xử sự theo pháp luật với động cơ tích cực

    Câu 76: Khái niệm pháp chế XHCN (định nghĩa, đặc điểm)

    Định nghĩa: Pháp chế XHCN là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật xã hội chủ nghĩa một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất thông qua những hành vi tích cực của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân và kết quả hiện thực của sự tôn trọng và thực hiện pháp luật ấy trong bộ máy nhà nước và ở ngoài xã hội.
    Các đặc điểm:
    –          Pháp chế XHCN là một trong những nguyên tắc cơ bản cho việc tổ chức va hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
    –          Pháp chế XHCN là một trong những nguyên tắc chủ yếu cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy xã hội.
    –          Pháp chế XHCN là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc xử sự giữa các công dân với nhau.
    –          Pháp chế XHCN là một trong những nguyên tắc bảo đảm cho việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    Câu 77: Các yêu cầu cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Định nghĩa: Pháp chế XHCN là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật xã hội chủ nghĩa một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất thông qua những hành vi tích cực của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân và kết quả hiện thực của sự tôn trọng và thực hiện pháp luật ấy trong bộ máy nhà nước và ở ngoài xã hội.

    –          Triệt để tôn trọng hiệu lực cao nhất của Hiến pháp.
    –          Pháp luật phải được nhận thức thống nhất và thực hiện thống nhất trong các cấp, các ngành và trên phạm vi cả nước.
    –          Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân đều tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất.
    –          Các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn luôn được đảm bảo, bảo vệ và mở rộng.
    –          Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
    –          Mọi công dân đều bình đằng trước pháp luật
    –          Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh, nhanh chóng theo pháp luật.

    Sưu tầm trên nhóm K38 Hanoi Law University

    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • Dàn ý bài làm Các tính chất cơ bản của dư luận xã hội và tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật.

    Nội dung chính…………………………………………………………………….I.                   Định nghĩa dư luận xã hội………………………………………………II.                Các tính chất cơ bản của dư luận xã hội…………………………….1.     Tính khuynh hướng…………………………………………………………..2.     Tính lợi ích……………………………………………………………………….3.     Tính lan truyền…………………………………………………………………4.     Tính năng động, dễ biến đổi…………………………………………………5.     Tính tương đối trong khả năng phản ảnh thức tế xã hội của dư luận xã hội………………………………………………………………………………….III, Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật…………..Kết luân………………………………………………………………………….
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
    Nhóm 1 – Lớp N04.TL2
    Môn: Xã hội học đại cương
    PHIẾU ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC
              Trong những năm gần đây, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, cộng  đồng LGBT đang vươn lên mạnh mẽ đấu tranh đòi được sống với giới tính thật của mình, đòi được đối xử công bằng như những người bình thường khác… Đây là một vấn đề nóng đang được xã hội quan tâm¸ đặc biệt là trong giai đoạn soạn thảo Luật Hôn nhân và gia đình mới. Chính vì vậy, nhóm 1 xin lựa chọn đề tài : “Tìm hiểu quan điểm của sinh viên K38 Đại học Luật Hà Nội về vấn đề hôn nhân đồng giới ở nước ta hiện nay” để thực hiện bài tập nhóm.

    Rất mong các bạn vui lòng trả lời một số câu hỏi sau, nếu bạn đồng ý với phương án nào thì hãy đánh dấu tích ()vào phương án đó. Với những câu hỏi mở, các bạn hãy ghi một cách ngắn gọn suy nghĩ của mình. Xin chân thành cảm ơn các bạn!

    Câu 1: Bạn có quan tâm tới vấn đề hôn nhân đồng tính không?

    1. □ Có, thường xuyên tìm hiểu, cập nhật thông tin
    2. □ Bình thường, chỉ tìm hiểu khi có người cung cấp thông tin
         3. □ Không, không quan tâm

    Câu 2: Bạn biết thông tin về hôn nhân đồng giới qua phương tiện nào?

    1.      Truyền thông
    2.      Bạn bè
    3.      Tự biết
    4.      Khác……………………………………………………………………….

    Câu 3: Theo bạn, ngày nay vấn đề hôn nhân đồng giới trên thế giới đang được diễn ra và đón nhận như thế nào?

    1.      Rất phổ biến và rất được đón nhận
    2.      Phổ biến nhưng ít được đón nhận
    3.      Không phổ biến và không được đón nhận

    Câu 4: Theo bạn, việc người đồng tính kết hôn với người đồng giới có bị đánh giá về mặt đạo đức không?

    1.      Có, đó là sự lệch lạc về lối sống, đạo đức
    2.      Không, không thể đánh giá đạo đức của bất kì ai chỉ vì họ kết hôn với người cùng giới.

    Câu 5: Theo bạn, nguyên nhân của việc quan hệ đồng giới hay tiến đến hôn nhân đồng giới  là do:

    1.     □ Do nhu cầu bẩm sinh
    2.     □ Do đua đòi theo trào lưu của một lối sống mới
    3.      Do muốn trải nghiệm cảm giác mới
    4.      Ý kiến khác……………………………………………………………………………………….

    Câu 6: Theo bạn, mục đích của việc sống chung đồng giới là do:

    1.      Nhu cầu tình cảm, muốn được sống thật với giới tính của mình
    2.      Nhu cầu vật chất, đáp ứng nhu cầu tình cảm của những người đồng giới nhằm chuộc lợi
    3.      Ý kiến khác…………………………………………………………………

    Câu 7: Theo bạn, hôn nhân đồng giới có phù hợp với truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam không?

    1.  □ Phù hợp
    2.  □ Không phù hợp nhưng chấp nhận được
    3.  □ Không phù hợp và hoàn toàn không thể chấp nhận được

    Câu 8: Ở Việt Nam, pháp luật không quy định cho phép người đồng giới được kết hôn, chính vì vậy những cặp đồng tính chỉ dừng ở mức độ sống chung với nhau. Theo những thông tin được biết, theo bạn, nhu cầu sống chung đồng giới phổ biến ở độ tuổi nào?

    1.      15-25 tuổi (lứa tuổi vị thành niên)
    2.      25-40 tuổi (lứa tuổi trưởng thành, đã có thu nhập kinh tế riêng, đời sống ổn định và có địa vị xã hội)

    3.      Ý kiến khác………………………………………………………………… Câu 9: Theo bạn, xã hội nước ta có thể không phân biệt, kì thì những người đồng giới được không?

    1.  □ Có, người đồng giới cũng là 1 thành phần của xã hội và không nên phân biệt kì thị họ
    2.  □ Không, đây là những nhóm người kì dị
    3.  □ Ý kiến khác………………………………………………………………

    Câu 10: Nếu trong gia đình bạn, bạn bè bạn có người là người đồng tính và muốn sống chung với người đồng giới như những cặp vợ chồng, bạn sẽ :

    1.  □ Sẵn sàng ủng hộ và lên tiếng bênh vực 
    2.  □ Im lặng và lắng nghe theo quyết định của số đông
    3.  □ Cực kì phản đối

    Câu 11: Nếu bản thân bạn được thay đổi quy định của pháp luật Hôn nhân gia đình hiện hành thì bạn sẽ quy định thế nào về vấn đề này?

    1.      Cho phép những người đồng giới được kết hôn
    2.      Chỉ cho những người đồng giới sống chung mà không cho phép kết hôn
    3.      Hoàn toàn không cho phép người đồng giới kết hôn hay sống chung, phạt nặng nếu có vi phạm.
    4.     □ Ý kiến khác…………………………………………………………………

    Câu 12: Quan điểm của bạn về vấn đề hôn nhân đồng giới (có nên được pháp luật Việt Nam nhận và bảo vệ không?)

    1.     □ Đồng tình, ủng hộ (vì đây là quyền con người, không nên phân biệt, kì thị)
    2.     □ Kịch liệt phản đối, kiên quyết không ủng hộ (vì đây là hành vi phản cảm, gây ảnh hưởng xấu đến xã hội…)
    3.      Không quan tâm đến vấn đề này

    Câu 13: Nếu là người ủng hộ vấn đề này, theo bạn để xã hội không phân biệt, kì thị người đồng giới cũng như kết hôn đồng giới  cần phải làm gì :

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
    Cuối cùng, mong các bạn có thể cung cấp cho chúng tôi một số thông tin cá nhân
    Họ và tên…………………………………………………………………………………….
    Lớp……………………………………………………………………………………………
    Giới tính: □ Nam □ Nữ
              Chân thành cảm ơn các bạn ! Đây sẽ là những thông tin quý giá góp phần quan trọng cho sự thành công của đề tài này!!! Chúc các bạn một ngày làm việc và học tập hiệu quả!
    http://www.yeuluat.com/feeds/posts/default