• Hiện nay, pháp luật không quy định độ tuổi lao động tối đa và chỉ quy định độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp lao động chưa thành niên được quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật Lao động 2019 (căn cứ khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động 2019).

    Tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật Lao động 2019: các điều từ 143 đến 147 là các quy định về lao động chưa thành niên. Theo đó, Điều 143 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:

    • Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi
    • Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này
    • Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành (Danh mục công việc nhẹ người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi được làm được hướng dẫn bởi Điều 8 Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 15/03/2021)
    • Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này.

    Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên

    Việc sử dụng lao động chưa thành niên phải đảm bảo các nguyên tắc được quy định tại Điều 144 Bộ luật Lao động 2019, cụ thể:

    • Lao động chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách
    • Người sử dụng lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động
    • Khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu
    • Người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

    Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc

    Việc sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc phải đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Lao động 2019, cụ thể:

    1. Khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:

    • Phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;
    • Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi;
    • Phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong 06 tháng;
    • Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.

    2. Người sử dụng lao động chỉ được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi vào làm các công việc nhẹ theo quy định tại khoản 3 Điều 143 của Bộ luật Lao động 2019.

    3. Người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    4. Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết Điều này.

    (Bài viết tư vấn chi tiết: Quy định về việc sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc)

    Thời giờ làm việc của người chưa thành niên

    Điều 146 Bộ luật Lao động 2019 quy định về thời giờ làm việc của người chưa thành niên như sau:

    1. Thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.

    2. Thời giờ làm việc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành (Danh mục nghề, công việc người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được hướng dẫn bởi Điều 10 Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 15/03/2021)

    Bạn đang đọc: Quy định về độ tuổi lao động và việc sử dụng lao động chưa thành niên 2024

    Công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

    1. Cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc sau đây:

    • Mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
    • Sản xuất, kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần hoặc chất gây nghiện khác;
    • Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
    • Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc;
    • Phá dỡ các công trình xây dựng;
    • Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;
    • Lặn biển, đánh bắt thủy, hải sản xa bờ;
    • Công việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên (Danh mục công việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên được quy định chi tiết Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 15/03/2021)

    2. Cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc ở các nơi sau đây:

    • Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;
    • Công trường xây dựng;
    • Cơ sở giết mổ gia súc;
    • Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở tắm hơi, cơ sở xoa bóp; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử;
    • Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên (Danh mục nơi làm việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên được quy định chi tiết tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 15/03/2021)

    Trên đây là nội dung tư vấn của HRLegal về quy định về độ tuổi lao động và việc sử dụng lao động chưa thành niên 2024. Nếu có vướng mắc khác, Anh/Chị vui lòng liên hệ để được tư vấn, giải đáp.

  • Người lao động khuyết tật là đối tượng lao động yếu thế nên luôn được pháp luật dành nhiều chính sách ưu tiên. Bài viết sau đây, HR Legal sẽ cung cấp cho Quý vị những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý khi sử dụng người lao động khuyết tật. 

    Việc làm đối với người khuyết tật

    Điều 33 Luật Người khuyết tật năm 2010 đã nêu rõ:

    – Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật.

    – Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật.

    – Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật.

    – Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật.

    – Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật.

    – Người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh, được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo quy định của Chính phủ.

    Không phân biệt đối xử giữa người lao động khuyết tật và người lao động khác

    Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Lao động năm 2019 đặc biệt nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử trong lao động, trong đó có cả hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên tình trạng khuyết tật.

    Theo đó, người lao động cũng phải được tạo điều kiện làm việc, đảm bảo quyền lợi như bao người lao động khác.

    Nếu có hành vi phân biệt đối xử giữa người lao động khuyết tật với những người lao động khác, người sử dụng lao động sẽ bị phạt từ 05 – 10 triệu đồng theo điểm  khoản 2 Điều 8 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

    Tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động khuyết tật

    Theo khoản 1 Điều 159 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn, vệ sinh lao động, đồng thời còn phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động là người khuyết tật.

    Căn cứ Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động, hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động khuyết tật ít nhất 06 tháng/lần.

    Nếu không tổ chức khám sức khỏe định kỳ, người sử dụng lao động sẽ bị phạt từ 01 – 03 triệu đồng/người lao động khuyết tật nhưng với số tiền phạt tối đa là 75 triệu đồng. 

    Không bố trí người lao động khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại

    Cũng theo khoản 1 Điều 159 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với người khuyết tật.

    Cùng với đó, khoản 2 Điều 160 Bộ luật Lao động năm 2019 đặc biệt nghiêm cấm hành vi sau:

    2. Sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó”.

    Như vậy, với những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nằm trong danh mục mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã công bố, doanh nghiệp buộc phải cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó cho người lao động là người khuyết tật biết.

    Sau khi đã nắm rõ thông tin mà vẫn đồng ý làm việc thì doanh nghiệp mới được phép sử dụng người lao động khuyết tật thực hiện các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

    Cho người lao động khuyết tật nghỉ phép 14 ngày/năm

    Theo điểm b khoản 1 Điều 113 Bộ Luật Lao động năm 2019, người lao động là người khuyết tật có chế độ nghỉ hằng năm như sau:

    1. Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

    b) 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

    Theo đó, người lao động khuyết tật làm việc đủ năm cho người sử dụng lao động thì sẽ được nghỉ quyền nghỉ phép 14 ngày/năm.

    Đặc biệt, nếu cứ làm việc đủ 05 năm cho một người sử dụng lao động, người lao động khuyết tật còn được cộng thêm tương ứng 01 ngày nghỉ vào số ngày phép năm (theo Điều 114 Bộ luật Lao động).

    Trường hợp chưa làm đủ năm, người lao động khuyết tật sẽ được nghỉ phép với số ngày tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

    Chỉ sử dụng người lao động khuyết tật làm thêm giờ khi họ đồng ý

    Khoản 1 Điều 160 Bộ luật Lao động năm 2019 nghiêm cấm hành vi sử dụng người lao động khuyết tật làm thêm giờ như sau:

    1. Sử dụng người lao động là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ trường hợp người lao động là người khuyết tật đồng ý.

    Như vậy, những người khuyết tật nhẹ có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng chỉ phải làm thêm giờ, làm ban đêm nếu họ đồng ý.

    Tuy nhiên với những người khuyết tật nhẹ suy giảm lao động dưới 51% thì doanh nghiệp vẫn có thể tự ý sắp xếp thời gian làm việc của họ vào ban đêm mà không bị phạt.

    Xử phạt vi phạm khi sử dụng người lao động khuyết tật trái pháp luật

    Căn cứ theo quy định tại Điều 31 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt quy định về người lao động khuyết tật như sau:

    “Điều 31. Vi phạm quy định về người lao động cao tuổi, người khuyết tật

    1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi:

    a) Không tham khảo ý kiến của người lao động là người khuyết tật khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ;

    b) Sử dụng người lao động là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên hoặc khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ trường hợp người lao động là người khuyết tật đồng ý.

    2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động cao tuổi, trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn.”

    ĐỌC THÊM BÀI VIẾT TƯ VẤN PHÁP LUẬT BHXH

    Như vậy, xử phạt vi phạm về sử dụng người lao động khuyết tật được quy định như trên. Trường hợp người lao động khuyết tật không đồng ý thì doanh nghiệp không được yêu cầu họ làm thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm.

  • Công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là các công việc khi mà người lao động thực hiện sẽ có các yếu tố gây hại, tổn thương đến sức khỏe, tinh thần hoặc có nguy cơ cao và được quy định trong danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại Thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động- Thương binh và xã hội.

    Pháp luật hiện hành quy định người lao động khi làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ được hưởng 08 quyền lợi như sau:

    Thời giờ làm việc

    Theo khoản 3 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan cho người lao động

    Nghỉ hằng năm

    Theo khoản 1 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ được nghỉ hằng năm nhiều hơn so với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường. Cụ thể, người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi làm đủ 12 tháng cho người sử dụng lao động được nghỉ hằng năm hưởng nguyên lương như sau:

    – 14 ngày làm việc: Người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
    – 16 ngày làm việc: Người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

    Chế độ hưu trí

    Theo khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019, hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường thì người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành được nghỉ hưu sớm hơn nhưng không quá 05 năm so với tuổi nghỉ hưu thông thường.

    Cụ thể tuổi nghỉ hưu thấp nhất của người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được thực hiện theo bảng dưới đây:

    Lao động namLao động nữ
    Năm nghỉ hưuTuổi nghỉ hưu
    thấp nhất
    Năm nghỉ hưuTuổi nghỉ hưu
    thấp nhất
    202155 tuổi 3 tháng202150 tuổi 4 tháng
    202255 tuổi 6 tháng202250 tuổi 8 tháng
    202355 tuổi 9 tháng202351 tuổi
    202456 tuổi202451 tuổi 4 tháng
    202556 tuổi 3 tháng202551 tuổi 8 tháng
    202656 tuổi 6 tháng202652 tuổi
    202756 tuổi 9 tháng202752 tuổi 4 tháng
    Từ năm 2028 trở đi57 tuổi202852 tuổi 8 tháng
    202953 tuổi
    203053 tuổi 4 tháng
    203153 tuổi 8 tháng
    203254 tuổi
    203354 tuổi 4 tháng
    203454 tuổi 8 tháng
    Từ năm 2035 trở đi55 tuổi
    Tuổi nghỉ hưu thấp nhất áp dụng cho người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

    Chế độ ốm đau

    Theo Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được nghỉ hưởng chế độ ốm đau với số ngày như sau:
    – 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm (điều kiện bình thường là 30 ngày
    – 50 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 – dưới 30 năm (điều kiện bình thường là 40 ngày);
    – 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên (điều kiện bình thường là 60 ngày);

    Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp

    Theo Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động; đưa người lao động được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện chuyên môn kỹ thuật để điều trị theo phác đồ điều trị bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định. Lưu ý: Người sử dụng lao động phải thông báo kết quả khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp để người lao động biết theo quy định tại Điều 27 Luật này.

    Người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi bị bệnh nghề nghiệp thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động– Thương binh và Xã hội ban hành được xác định suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 44 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

    Điều dưỡng phục hồi sức khỏe

    Theo Điều 26 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, pháp luật khuyến khích người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được điều dưỡng phục hồi sức khỏe.

    Trang bị phương tiện cá nhân

    Theo Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đồng thời người sử dụng lao động cần thực hiện các giải pháp về công nghệ, kxy thuật, thiết bị để loại trừ hoặc hạn chế tối đa yếu tố  nguy hiểm, yếu tố có hại và cải thiện điều kiện lao động.

    Bồi dưỡng bằng hiện vật

    Theo Điều 24 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động bồi dưỡng bằng hiện vật. 

    Mức bồi dưỡng bằng hiện vật được tính theo định suất hằng ngày và có giá trị bằng tiền theo các mức bồi dưỡng được hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 24/2022/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội như sau:
    – Mức 1: 13.000 đồng
    – Mức 2: 20.000 đồng
    – Mức 3: 26.000 đồng
    – Mức 4: 32.000 đồng

    Các quyền lợi cụ thể khác cho một số nhóm lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

    Ngoài các quyền lợi chung nói trên, pháp luật còn quy định các chế độ, quyền lợi cho một số nhóm lao động cụ thể khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như sau:

    Đối với lao động nữ

    Lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi (theo khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019)

    Đối với người lao động cao tuổi

    Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động cao tuổi, trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn (theo khoản 3 Điều 149 Bộ luật Lao động năm 2019)

    Đối với người lao động là người khuyết tật

    Người sử dụng lao động không được phép sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó (theo khoản 2 Điều 160 Bộ luật Lao động năm 2019)

    Đọc thêm các bài viết tư vấn luật lao động.

    Trên đây là nội dung bài viết của HR Legal về những quyền lợi khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Nếu có vướng mắc, Quý vị vui lòng liên hệ để được tư vấn chi tiết, cụ thể.